Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định hướng của Đảng và Nhà nước về thể thao thành tích cao Thể thao thành tích cao (TTTTC) là hoạt động tập luyện và thi đấu của vận động viên; trong đó, thành tích cao, kỷ lục thể thao được coi là giá trị văn hóa, là sức mạnh và năng lực của con người; nhà nước phát triển TTTTC nhằm phát huy tối đa năng lực kỹ thuật, thể lực, chiến thuật và ý chí của VĐV để đạt được thành tích cao trong thi đấu thể thao. Phát triển TTTTC là một nhiệm vụ chính trị nhằm phát huy truyền thống của dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, đề cao sức mạnh ý chí tinh thần, tự hào dân tộc, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của dân tộc Việt Nam. TTTTC có vị trí quan trọng trong việc phát triển TDTT, nâng cao sức khỏe và năng lực con người, có tác dụng to lớn trong việc tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc và góp phần nâng cao uy tín của địa phương, đất nước.
Sinh thời Bác Hồ rất quan tâm đến TTTTC. Nhưng theo Người, TTTTC phát triển trên cơ sở TDTT quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng lưu ý rằng, phát triển TTTTC vừa phấn đấu giành “vinh quang của dân tộc về mặt thể thao” vừa thúc đẩy TDTT quần chúng vì sức khoẻ cho mọi người dân [25]. Theo Bác, TDTT quần chúng phải được phát triển phong phú đó là sự đa dạng các loại hình, sâu rộng các địa bàn và hầu hết các đối tượng tập luyện.
Tính phóng phú đó là nền tảng của thể thao thành tích cao. Đồng thời thể thao thành tích cao phát triển mạnh cũng thể hiện tính phong phú của nó về cả loại hình, đối tượng, địa bàn. Trong thư chúc mừng Đại hội thể thao GANEFO châu Á lần thứ nhất, tổ chức vào cuối năm 1966 ở Campuchia, Bác đã viết: “Đây là cuộc gặp gỡ lớn để các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á, tỏ rõ cho toàn thế giới thấy khả năng phong phú của mình trong lĩnh vực thể thao”. Quan điểm này còn có nghĩa rằng, thể thao của các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á với khả năng phát triển mạnh mẽ cả về TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao [25].
Vì vậy ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác TDTT, trong đó có TTTTC được thể hiện qua hệ thống những quan điểm, luật pháp, chủ trương chính 4 c sách cụ thể: Nhà nước có chính sách phát triển thể TTTTC, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo bồi dưỡng VĐV, HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu TTTTC; tham gia các giải thể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức cá nhân tham gia phát triển TTTTC. Ngày 01/12/2011, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ vể thể dục, thể thao, trong đó quan điểm “Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao. Về nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng thể thao: “Dành nguồn lực thích đáng để hình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao với đội ngũ kế cận dồi dào và có chất lượng, làm tiền đề cho bước phát triển đột phá về thành tích trong một số môn thể thao…” [4]. Đầu tư, nâng cấp các trung tâm huấn luyện thể thao của quốc gia, các ngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu huấn luyện thể thao hiện đại.
Củng cố và phát triển các trường, lớp năng khiếu thể thao ở các tỉnh, thành phố với quy mô phù hợp, có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển mạng lưới hoạt động thể thao thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên các trường học và phát hiện, bồi dưỡng các năng khiếu và tài năng thể thao. Khuyến khích phát triển câu lạc bộ về các môn thể thao hoạt động theo phương thức tự quản, có sự hỗ trợ của Nhà nước. Mở rộng quy mô và hiện đại hóa các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia. Đổi mới tổ chức, quản lý TTTTC theo hướng chuyên nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng môn và từng địa phương.
Ưu tiên đầu tư của Nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo VĐV các môn thể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng vận động viên và các điều kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để sẵn sàng đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Châu Á, bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Coi trọng giáo dục đạo đức, ý chí, lòng tự hào dân tộc cho vận động viên. Tôn vinh, đãi ngộ xứng đáng những VĐV xuất sắc, phát huy vai trò nêu gương của họ đối với lớp VĐV kế cận và với thanh, thiếu niên nói chung. Kiên quyết đấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao, nhất là trong bóng đá và các môn TTTTC.
Công tác đào tạo vận động viên Công tác đào tạo VĐV được cấu thành từ rất nhiều yếu tố: từ quản lý tới đào tạo, huấn luyện và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo VĐV (ngoài huấn luyện, tập luyện, thi đấu…). Có thể nói, đào tạo VĐV là một nghề, và để trở thành một nghề thể thao trước hết phải nói đến đối tượng là sản phẩm của nghề bao gồm: những vấn đề liên quan chặt chẽ đến đào tạo nên một VĐV đó là yếu tố con người (nhà quản lý, VĐV, HLV, bác sĩ thể thao, nhà khoa học.,) đến những yếu tố bên ngoài như sân bãi dụng cụ, trang thiết bị, yếu tố kinh phí đầu tư,… Qua nghiên cứu các tài liệu cho thấy, có rất nhiều các yếu tố có liên quan và ảnh hưởng đến công tác đào tạo VĐV. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi xác định các yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn tới công tác đào tạo VĐV, đó là: vấn đề con người, cơ sở vật chất, công tác tổ chức quản lý… Sau đây chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các nhóm yếu tố có ảnh hưởng như thế nào tới công tác đào tạo VĐV. Vấn đề con người 1.
Về đội ngũ huấn luyện viên Trong tất cả các ngành, nghề vai trò của người thầy luôn được nêu cao và là một trong những yếu tố quan trọng quyết định về chất lượng đào tạo. Ngành TDTT cũng không ngoại trừ, yếu tố người thầy, người HLV đóng vai trò tiên quyết trong công tác đào tạo VĐV. Người HLV không chỉ là thầy mà vừa làm cha mẹ, là anh chị và còn là bạn của VĐV. Bởi trong quá trình đào tạo tập trung người HLV luôn phải sát cánh cùng các VĐV của mình từ giờ huấn luyện, đến giờ ăn, giờ ngủ và quan tâm đến những nhu cầu sinh hoạt thường ngày của VĐV.
Trong Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 có đánh giá “Việt Nam chưa có chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho thể dục, thể thao, thiếu chính sách và các quy định về đào tạo nguồn nhân lực cho thể dục, thể thao, nhất là đối với thể thao thành tích cao”. Ở đây ta có thể thấy nguồn nhân lực cho TDTT trong đó có lực lượng HLV vẫn chưa được đào tạo bài bản và hệ thống, chưa có chính sách đầy đủ để sử dụng hiệu quả lực lượng này. Đối tượng đào tạo Để có VĐV tốt trước hết phải tuyển chọn được người có năng lực, có tố chất nổi 6 c trội, đáp ứng yêu cầu thành tích của môn thể thao chuyên sâu. Và để có được VĐV ưu tú ở môn thể thao đó thì cần phải thực hiện tốt các nhân tố: tuyển chọn đối tượng đào tạo, quá trình huấn luyện và thi đấu, khoa học công nghệ, đặc biệt là tâm lý, sinh lý, chế độ dinh dưỡng, chế độ đãi ngộ.
Đi sâu phân tích các nhân tố này để thấy mức độ ảnh hưởng của nó tới chất lượng đào tạo VĐV hiện nay. Về tuyển chọn đối tượng đào tạo Bất kỳ môn thể thao nào cũng phải có tuyển chọn ban đầu đối tượng đào tạo. Mỗi môn thể thao khác nhau có những yêu cầu và tiêu chí tuyển chọn khác nhau. Tuyển chọn VĐV không phải là việc làm chỉ tiến hành kiểm tra một lần mà là cả một quá trình bao gồm kiểm tra lần đầu và theo dõi, bồi dưỡng trong suốt một quá trình huấn luyện có hệ thống.
Sau đó, qua các cuộc kiểm tra hoặc thi đấu mới có sự lựa chọn và đào thải. Những VĐV nào đạt tiêu chuẩn và đáp ứng yêu cầu của môn thể thao mới tiếp tục bồi dưỡng và huấn luyện để thi đấu. Về đào tạo, huấn luyện và thi đấu Trong cơ sở lý luận và phương pháp đào tạo VĐV, Nguyễn Toán có phân tích về đào tạo VĐV như sau: “…Trong cấu trúc của hệ thống đào tạo VĐV có huấn luyện thi đấu và những nhân tố ngoài huấn luyện và ngoài thi đấu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả huấn luyện và thi đấu” [38]. Huấn luyện thể thao (phần quan trọng nhất của hệ thống đào tạo VĐV) là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng các bài tập, nhằm hoàn thiện các phẩm chất, năng lực, các mặt của trình độ chuẩn bị, nhằm đảm bảo cho VĐV đạt thành tích cao nhất trong môn thể thao đã chọn hoặc một nội dung nào đó (như nội dung Kumite hay Kata trong môn Karate).
Trong quá trình huấn luyện thể thao, phải thực hiện những nhiệm vụ chung và riêng nhằm làm cho VĐV khỏe mạnh, có đạo đức, tư tưởng, trí tuệ tốt, phát triển thể chất cân đối, nâng cao kỹ - chiến thuật, đạt trình độ cao về các phẩm chất chuyên môn như thể lực, tâm lý, đạo đức, ý chí và cả những hiểu biết nhất định về lý luận và phương pháp thể thao [38]. Thi đấu thể thao là cách thức để thể hiện những thành tích thể thao, cũng như đánh giá và so sánh những thành tích của từng VĐV hoặc đội. Đó còn là biện pháp để 7 c chọn và đào tạo VĐV, tìm hiểu và phát huy những tiềm năng của con người, hình thành nhân cách [38]. Các chức năng của thi đấu trong hệ thống đào tạo thể thao rất lớn và đa dạng.
Những cuộc thi đấu chính thức đòi hỏi quá trình đào tạo VĐV phải lâu dài. Chính nhu cầu nhằm đạt những thành tích thể thao cao nhất đã quyết định phần lớn cấu trúc và nội dung của toàn bộ hệ thống đào tạo.