Đánh giá đặc điểm thủy văn của rừng thuần loài và hỗn loài tại núi Luốt - Xuân Mai Hà Nội

Đánh giá đặc điểm thủy văn rừng núi Luốt Xuân Mai Hà Nội, phân tích lượng mưa, dòng chảy và ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng tự nhiên.

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2017

60
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Những nghiên cứu trên thế giới

1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG,PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tƣợng - Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.4.1. Điều tra đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt

2.4.2. Đánh giá đặc điểm dòng chảy ven thây cây và lƣợng nƣớc mƣa qua tán lá của trạng thái rừng chính tại khu vực núi Luốt

2.4.3. Xác định phƣơng trình cân bằng nƣớc của 2 trạng thái rừng nghiên cứu

3. ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình địa mạo

3.1.3. Thổ nhƣỡng

3.1.4. Khí hậu - thủy văn

3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.3. Tài nguyên rừng và hoạt động sử dụng đất

3.3.1. Các loại đất ở núi Luốt

3.3.2. Tài nguyên rừng

3.3.3. Hoạt động sử dụng tài nguyên

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm cấu trúc của các trạng thái rừng tại khu vực núi Luốt,Hà Nội

4.2. Đặc điểm thành phần thủy văn của các trạng thái rừng tại Núi Luốt, Hà Nội

4.2.1. Đặc điểm mƣa trong thời gian nghiên cứu

4.2.2. Đặc điểm thành phần thủy văn của các trạng thái rừng tại Nuí Luốt

4.3. Phƣơng trình cân bằng nƣớc của 2 trạng thái rừng nghiên cứu

4.4. Đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải thiện chế độ thủy văn của một số hệ sinh thái rừng tại Núi Luốt

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh đặc điểm thủy văn rừng tại núi Luốt Xuân Mai

Nghiên cứu về đặc điểm thủy văn của rừng là một lĩnh vực cốt lõi, cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý bền vững tài nguyên nước và bảo vệ đất. Tại Việt Nam, đặc biệt là các khu vực đồi núi như khu vực Xuân Mai, vai trò điều tiết của rừng càng trở nên quan trọng. Hệ sinh thái rừng không chỉ là lá phổi xanh mà còn hoạt động như một hồ chứa tự nhiên khổng lồ, ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ thủy văn của toàn bộ lưu vực. Một nghiên cứu thực nghiệm chi tiết đã được thực hiện tại Núi Luốt, thuộc khuôn viên Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, nhằm đánh giá và so sánh khả năng điều tiết nước của các trạng thái rừng khác nhau. Mục tiêu của nghiên cứu này là làm rõ tác động của cấu trúc rừng, cụ thể là rừng trồng thuần loài và rừng thứ sinh hỗn loài, đến các thành phần thủy văn như dòng chảy mặt, lượng nước qua tán và khả năng giữ nước. Những số liệu quan trắc từ nghiên cứu này không chỉ có giá trị học thuật mà còn là nền tảng để đề xuất các giải pháp lâm nghiệp hiệu quả, góp phần giảm thiểu xói mòn, hạn chế lũ lụt và đảm bảo an ninh nguồn nước cho khu vực.

1.1. Tầm quan trọng của chế độ thủy văn trong hệ sinh thái rừng

Chế độ thủy văn được định nghĩa là sự vận động, phân phối và chất lượng của nước trong một hệ sinh thái rừng. Nó bao gồm các quá trình phức tạp như mưa, bốc thoát hơi nước, thấm, dòng chảy mặtdòng chảy ngầm. Rừng đóng vai trò trung tâm trong việc điều hòa các quá trình này. Tán che của rừng có tác dụng cản bớt lực tác động của hạt mưa, giảm nguy cơ phá vỡ cấu trúc đất. Lớp thảm mục rừng hoạt động như một lớp bọt biển, giúp tăng cường khả năng giữ nước của đất rừng, từ đó làm giảm tốc độ và khối lượng dòng chảy bề mặt, đồng thời bổ sung cho nguồn nước ngầm. Việc hiểu rõ cơ chế này là chìa khóa để điều tiết nguồn nước một cách hiệu quả, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang gây ra những hiện tượng thời tiết cực đoan.

1.2. Giới thiệu lưu vực nghiên cứu tại Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Lưu vực nghiên cứu được chọn là khu vực Núi Luốt, tọa lạc tại Xuân Mai, Hà Nội, thuộc quyền quản lý của Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Khu vực này có địa hình gò đồi thấp với độ dốc trung bình khoảng 15°, là địa điểm lý tưởng cho các nghiên cứu thực nghiệm về lâm nghiệp. Đất đai chủ yếu là feralit nâu vàng, phát triển trên đá mẹ poocfiarit. Tại đây tồn tại nhiều trạng thái rừng khác nhau, trong đó hai đối tượng chính được đưa vào phân tích là lô rừng hỗn loài (bao gồm Trẩu, Dẻ, Giổi xanh, Trám) và lô rừng trồng thuần loài Thông mã vĩ. Việc lựa chọn hai trạng thái rừng này cho phép so sánh trực tiếp hiệu quả thủy văn giữa một hệ sinh thái đa dạng, nhiều tầng tán và một hệ sinh thái đơn giản, đồng nhất về cấu trúc.

II. Thách thức quản lý nước từ các trạng thái rừng khác nhau

Việc lựa chọn loài cây và phương thức trồng rừng có ảnh hưởng sâu sắc đến cân bằng nước trong hệ sinh thái rừng. Mỗi trạng thái rừng, từ rừng tự nhiên đa tầng đến rừng trồng thuần loài, đều tạo ra một chế độ thủy văn riêng biệt, dẫn đến những thách thức khác nhau trong công tác quản lý. Rừng trồng thuần loài, dù có giá trị kinh tế, thường có cấu trúc đơn giản, độ tàn che thấp và lớp thảm mục mỏng. Điều này có thể dẫn đến việc lượng mưa hiệu dụng (lượng mưa thực sự rơi xuống mặt đất) cao hơn, gia tăng nguy cơ xói mòn đất và hình thành dòng chảy mặt mạnh mẽ sau các trận mưa lớn. Ngược lại, rừng thứ sinh hoặc rừng hỗn loài có cấu trúc phức tạp hơn, với nhiều tầng tán và lớp vật liệu hữu cơ dày, giúp điều tiết dòng chảy tốt hơn nhưng lại đòi hỏi các phương pháp quản lý và khai thác khác biệt. Thách thức đặt ra là làm thế nào để hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và chức năng phòng hộ, đặc biệt là chức năng điều tiết nguồn nước và bảo vệ đất của các hệ sinh thái rừng.

2.1. Ảnh hưởng của tán che rừng đến xói mòn đất và dòng chảy mặt

Tán che của rừng là lớp phòng thủ đầu tiên của đất trước tác động của mưa. Một tán lá dày và nhiều tầng có thể giữ lại một phần đáng kể lượng nước mưa, quá trình này gọi là ngăn giữ tán (interception), làm giảm động năng của hạt mưa khi chúng chạm đất. Khi tán che của rừng thưa thớt, như trong các khu rừng trồng non hoặc quản lý kém, hạt mưa sẽ rơi trực tiếp xuống mặt đất, phá vỡ các kết cấu đất và gây ra hiện tượng xói mòn đất. Đồng thời, lượng nước lớn không bị cản lại sẽ nhanh chóng tạo thành dòng chảy mặt, cuốn trôi lớp đất màu mỡ và gây ra lũ lụt ở vùng hạ lưu. Theo nghiên cứu của Võ Đại Hải, khi độ tàn che giảm từ 0.7-0.8 xuống 0.3-0.4, dòng chảy mặt có thể tăng hơn 30%.

2.2. Sự khác biệt giữa rừng trồng thuần loài và rừng hỗn giao

Sự khác biệt cơ bản về cấu trúc giữa rừng trồng thuần loài và rừng hỗn giao dẫn đến hiệu quả thủy văn khác biệt rõ rệt. Rừng hỗn giao tại Núi Luốt có cấu trúc 3 tầng, độ tàn che lên tới 70-80%, tạo ra một hệ thống ngăn giữ và phân tán nước mưa hiệu quả. Ngược lại, rừng trồng Thông mã vĩ có cấu trúc 2 tầng, độ tàn che chỉ khoảng 40%. Điều này làm cho lượng nước lọt qua tán và chảy ven thân ở rừng thông cao hơn nhiều, dẫn đến khả năng giữ nước của đất rừng bị hạn chế và rủi ro xói mòn cao hơn. Lớp thảm mục rừng dưới tán rừng hỗn giao cũng dày và đa dạng hơn, góp phần cải thiện khả năng thấm và giữ nước của đất.

III. Phương pháp phân tích đặc điểm thủy văn rừng thực nghiệm

Để đánh giá chính xác đặc điểm thủy văn của rừng, nghiên cứu tại Núi Luốt đã áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và quan trắc trực tiếp tại hiện trường. Phương pháp này cho phép thu thập những số liệu quan trắc khách quan về các thành phần của vòng tuần hoàn nước dưới tán rừng. Hai ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình, mỗi ô rộng 500m², được thiết lập tại khu rừng hỗn loàirừng trồng Thông. Trong mỗi OTC, các thiết bị chuyên dụng được lắp đặt để đo lường các yếu tố chính. Lượng mưa tổng được đo bằng ống đo mưa đặt ở khu vực trống trải gần đó. Lượng nước qua tán được xác định bằng các ống đo mưa đặt ngẫu nhiên bên dưới tán cây. Đặc biệt, dòng chảy ven thân được thu thập bằng hệ thống máng dẻo gắn quanh thân cây, dẫn nước vào thùng chứa. Tất cả các dữ liệu được ghi nhận cẩn thận sau mỗi trận mưa trong suốt thời gian nghiên cứu (tháng 3/2017), tạo thành một bộ dữ liệu đáng tin cậy để phân tích và so sánh chế độ thủy văn giữa hai trạng thái rừng.

3.1. Thiết lập mô hình và thu thập số liệu quan trắc tại thực địa

Mô hình thu thập số liệu được thiết kế để đo lường ba thành phần chính của nước mưa khi đi qua tán rừng: lượng nước giữ lại trên tán (Ic), lượng nước mưa qua tán (Pt), và dòng chảy ven thân (Ps). Tại mỗi ô tiêu chuẩn, các cây có kích thước tương đồng được chọn để lắp đặt máng đo dòng chảy ven thân, đảm bảo tính so sánh. Các ống đo mưa để xác định lượng nước qua tán được di chuyển thường xuyên đến các vị trí ngẫu nhiên nhằm có được giá trị trung bình chính xác, phản ánh sự biến động không gian dưới tán lá. Việc thu thập số liệu quan trắc được thực hiện ngay sau khi mưa tạnh để hạn chế sai số do bốc thoát hơi nước. Các thông số như thời gian mưa, cường độ mưa cũng được ghi lại để phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm mưa và các thành phần thủy văn.

3.2. Phân tích các yếu tố lượng mưa hiệu dụng và dòng chảy

Lượng mưa hiệu dụng là tổng của lượng nước qua tán (Pt) và lượng chảy ven thân (Ps), đây là lượng nước thực tế tiếp cận mặt đất rừng. Phân tích yếu tố này giúp đánh giá mức độ mà tán rừng làm giảm lượng nước đầu vào cho mặt đất. Dữ liệu cho thấy lượng mưa hiệu dụng ở rừng thông cao hơn đáng kể so với rừng hỗn giao. Dòng chảy ven thân, mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng lượng mưa (3% ở rừng hỗn giao và 7% ở rừng thông), lại là một nguồn nước tập trung cao độ tại gốc cây, có thể ảnh hưởng cục bộ đến độ ẩm đất và quá trình xói mòn. Việc phân tích riêng biệt các thành phần này giúp hiểu sâu hơn về cơ chế điều tiết nguồn nước của từng loại rừng.

IV. Kết quả so sánh khả năng giữ nước của hai trạng thái rừng

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Núi Luốt đã cho thấy sự khác biệt rất lớn về đặc điểm thủy văn giữa rừng hỗn loài và rừng thông thuần loài. Rừng hỗn loài thể hiện vai trò vượt trội trong việc điều tiết nước. Cụ thể, lượng nước giữ lại trên tán che của rừng hỗn loài chiếm trung bình tới 72% tổng lượng mưa, một con số ấn tượng. Điều này có nghĩa là chỉ có 28% lượng mưa tiếp cận được mặt đất, làm giảm đáng kể nguy cơ xói mòn đất. Ngược lại, rừng trồng thông với tán lá kim và cấu trúc thưa hơn chỉ có thể giữ lại khoảng 23% lượng mưa. Phần lớn lượng nước (khoảng 77%) lọt qua tán hoặc chảy ven thân, tạo áp lực lớn lên mặt đất. Sự chênh lệch này khẳng định rằng cấu trúc đa tầng, độ che phủ cao của rừng tự nhiên hay rừng hỗn giao là yếu tố quyết định đến khả năng giữ nước của đất rừng và hiệu quả phòng hộ. Những phát hiện này cung cấp bằng chứng khoa học mạnh mẽ cho việc ưu tiên phát triển các mô hình rừng hỗn giao trong các chương trình trồng rừng phòng hộ.

4.1. Vai trò của thảm mục rừng trong việc tăng khả năng thấm nước

Bên cạnh tán lá, lớp thảm mục rừng (vật rơi rụng) cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Dưới tán rừng hỗn loài, lớp thảm mục dày, đa dạng và phân hủy liên tục tạo ra một lớp mùn hữu cơ phong phú. Lớp mùn này không chỉ cải thiện độ phì của đất mà còn làm tăng độ tơi xốp, từ đó nâng cao khả năng giữ nước của đất rừng và tốc độ thấm nước. Nước mưa sau khi đi qua tán sẽ được lớp thảm mục này giữ lại và thấm từ từ xuống các tầng đất sâu hơn, bổ sung cho dòng chảy ngầm. Ngược lại, thảm mục dưới rừng thông thường là lá kim khó phân hủy, có thể tạo thành một lớp dày đặc nhưng ít tơi xốp, đôi khi cản trở quá trình thấm nước bề mặt.

4.2. Đánh giá chất lượng nước dưới tán rừng qua các trận mưa

Mặc dù không phải là mục tiêu chính, nghiên cứu cũng gián tiếp cho thấy rừng có ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới tán rừng. Nước mưa khi chảy qua lá cây và thân cây (đặc biệt là dòng chảy ven thân) có thể hòa tan các chất dinh dưỡng, bụi và các hợp chất hữu cơ trên bề mặt. Trong một hệ sinh thái rừng khỏe mạnh, lớp đất và thảm mục hoạt động như một bộ lọc sinh học tự nhiên, giúp làm sạch nước trước khi nó ngấm xuống thành dòng chảy ngầm hoặc chảy ra sông suối. Rừng hỗn giao, với hệ thống lọc sinh học phức tạp hơn, có tiềm năng cải thiện chất lượng nước tốt hơn so với rừng trồng thuần loài, nơi dòng chảy bề mặt có thể cuốn theo nhiều cặn bẩn và đất đá hơn.

V. Giải mã phương trình cân bằng nước của hai hệ sinh thái rừng

Phương trình cân bằng nước trong hệ sinh thái rừng là công cụ định lượng hóa các quá trình thủy văn, được biểu diễn tổng quát qua công thức: P = Ic + Pt + Ps (Trong đó P là tổng lượng mưa). Dựa trên số liệu quan trắc tại Núi Luốt, các phương trình cân bằng nước cụ thể cho hai trạng thái rừng đã được xác định, phản ánh rõ rệt sự khác biệt trong cơ chế phân chia nước mưa. Đối với rừng hỗn loài, phương trình cho thấy phần lớn lượng mưa được giữ lại trên tán (Ic), trong khi lượng nước qua tán (Pt) và dòng chảy ven thân (Ps) chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhiều. Ngược lại, phương trình của rừng trồng thông cho thấy sự áp đảo của thành phần nước qua tán (Pt), chứng tỏ khả năng cản mưa của tán thông rất hạn chế. Việc giải mã các phương trình này không chỉ là một kết quả khoa học, mà còn là cơ sở để mô hình hóa và dự báo tác động thủy văn khi thay đổi loại hình sử dụng đất, hỗ trợ hiệu quả cho công tác quy hoạch lâm nghiệp và quản lý lưu vực.

5.1. Phân tích chi tiết cân bằng nước trong hệ sinh thái rừng hỗn giao

Tại hệ sinh thái rừng hỗn giao, kết quả phân tích cho thấy các thành phần thủy văn phân bố như sau: lượng nước giữ lại trên tán (Ic) chiếm khoảng 72%, lượng nước qua tán (Pt) chiếm khoảng 25%, và dòng chảy ven thân (Ps) chỉ chiếm khoảng 3% tổng lượng mưa. Những con số này minh họa một cách xuất sắc vai trò điều tiết nguồn nước của rừng hỗn giao. Phần lớn nước mưa bị tán lá giữ lại và sau đó bốc thoát hơi nước trở lại khí quyển, phần còn lại được giải phóng từ từ xuống mặt đất, cho phép đất có đủ thời gian để hấp thụ, giảm thiểu tối đa sự hình thành dòng chảy mặt.

5.2. Sự chênh lệch trong cân bằng nước của hệ sinh thái rừng thông

Đối với hệ sinh thái rừng thông thuần loài, phương trình cân bằng nước thể hiện một bức tranh hoàn toàn khác. Lượng nước giữ lại trên tán (Ic) rất thấp, chỉ chiếm khoảng 23%. Phần lớn lượng mưa (khoảng 70-80%) trở thành lượng nước qua tán (Pt). Dòng chảy ven thân (Ps) cũng cao hơn, chiếm khoảng 7% tổng lượng mưa. Sự chênh lệch này cho thấy nước mưa gần như rơi thẳng xuống mặt đất dưới tán rừng thông, làm tăng nguy cơ xói mòn đất và lũ quét cục bộ, đồng thời giảm hiệu quả bổ sung nước cho dòng chảy ngầm.

VI. Bí quyết cải thiện chế độ thủy văn và điều tiết nguồn nước

Từ kết quả phân tích đặc điểm thủy văn của rừng tại Núi Luốt, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng hộ và điều tiết nguồn nước trở nên rõ ràng. Bí quyết cốt lõi nằm ở việc xây dựng và duy trì các hệ sinh thái rừng có cấu trúc phức tạp, gần với trạng thái rừng tự nhiên. Thay vì trồng rừng thuần loài trên diện rộng, đặc biệt là ở những khu vực đầu nguồn, nhạy cảm về môi trường, cần ưu tiên các mô hình rừng phòng hộ hỗn giao nhiều loài, nhiều tầng tán. Việc tăng cường độ tàn che và duy trì một lớp thảm mục rừng dày sẽ tối đa hóa khả năng giữ nước của đất rừng, giảm dòng chảy mặt và chống xói mòn đất hiệu quả. Ngoài ra, việc áp dụng các phương thức khai thác bền vững, hạn chế tác động đến cấu trúc đất và thảm thực vật cũng là một yếu tố quan trọng. Các giải pháp này không chỉ cải thiện chế độ thủy văn mà còn nâng cao đa dạng sinh học và sự ổn định lâu dài của hệ sinh thái.

6.1. Giải pháp trồng rừng đa tầng để tối ưu hóa chức năng thủy văn

Giải pháp hiệu quả nhất là phát triển các mô hình trồng rừng hỗn giao, đa tầng. Điều này bao gồm việc kết hợp các loài cây gỗ có chiều cao và hình dạng tán khác nhau, cùng với việc trồng xen các loài cây bụi và thảm tươi ở tầng thấp. Một cấu trúc rừng đa tầng sẽ mô phỏng lại hệ sinh thái rừng tự nhiên, tạo ra nhiều lớp ngăn cản nước mưa, tăng cường tán che của rừng và làm phong phú lớp thảm mục rừng. Phương pháp này giúp phân tán năng lượng của mưa, làm chậm dòng chảy, và cải thiện đáng kể khả năng thấm và trữ nước của đất, qua đó tối ưu hóa chức năng điều tiết nguồn nước.

6.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu thủy văn rừng tại Việt Nam

Nghiên cứu tại Núi Luốt là một minh chứng quan trọng nhưng cần được nhân rộng và phát triển hơn nữa. Hướng đi trong tương lai cần tập trung vào việc xây dựng các trạm quan trắc thủy văn rừng lâu dài trên nhiều loại địa hình và trạng thái rừng khác nhau trên cả nước. Việc ứng dụng công nghệ viễn thám và các mô hình thủy văn tiên tiến sẽ giúp đánh giá tác động của rừng ở quy mô lưu vực lớn hơn. Các nghiên cứu thực nghiệm cần tiếp tục làm rõ vai trò của từng loài cây cụ thể đối với chế độ thủy văn, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính xác cho công tác trồng rừng phòng hộ và quản lý tài nguyên nước bền vững.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thủy văn học là ngành khoa học nghiên cứu về sự vận động, phân phối, và chất lƣợng của nƣớc trên toàn bộ Trái Đất, và vì thế nó đề cập đến cả vòng tuần hoàn nƣớc và các nguồn nƣớc (Wikipedia). Thủy văn gồm các quá trình cơ bản nhƣ : Mƣa-giáng thủy, các dòng chảy, quá trình bốc thoát hơi, quá trình thấm nƣớc của đất, … các quá trình này có sự chi phối và có mối quan hệ qua lại với nhau. Đặc điểm của qúa trình thủy văn diễn ra còn tùy thuộc vào từng lƣu vực, hay từng loại hình sử dụng đất khác nhau. Khi ở khu vực không có tán lá che phủ thì quá trình thủy văn diễn ra nhanh chóng, có sự tiếp xúc trực tiếp giữa hạt nƣớc mƣa xuống đất, dẫn đến hình thành nên các dòng chảy trực tiếp trên mặt đất là chiếm ƣu thế.

Trong trƣờng hợp này, đất sẽ bị xói mòn trƣợt lở. Ngƣợc lại, với khu vực có rừng khi mƣa xuống, thì toàn bộ lƣợng nƣớc mƣa sẽ bị phân tán bởi một phần sẽ giữ lại trên tán lá và bốc hơi, hình thành các dòng chảy chảy ven thân cây, phần còn lại chảy qua tán lá. Khi đó, khả năng hình thành các dòng chảy mặt là thấp và đất không xảy ra xói mòn hoặc là một lƣợng rất thấp. Và tài nguyên nƣớc đƣợc điều tiết, chất lƣợng nƣớc cũng đƣợc cải thiện.

Các nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình thủy văn chủ yếu là sự thay đổi các loại hình sử dụng đất, ngoài ra còn cso sự góp mặt của các điều kiện thời tiết nhƣ nhiệt độ, độ ẩm… cũng ảnh hƣởng lớn đến các quá trình thủy văn.Cụ thể nhƣ nhiệt độ càng cao thì quá trình bốc thoát hơi nƣớc diễn ra cành nhanh chóng. Hay đặc điểm mƣa :số trận mƣa, thời gian mƣa, cƣờng độ mƣa,lƣợng mƣa… cũng là một trong những nhân tố ảnh hƣởng trực tiếp đến các quá trình thủy văn. Ngoài ra đặc điểm của thực vật nhƣ diện tích lá, độ khô giáp, hình dạng , độ nghiêng của lá…cũng làm thay đổi cƣờng độ mƣa và phân bố của mƣa khi qua lá và tán. Qua các nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình thủy văn đã đƣa ra, nhận thấy đặc điểm của thực vật là nhân tố duy nhất mà con ngƣời có thể thay đổi đƣợc để điều hòa các chế độ thủy văn.

Nó cũng ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình 1 hình thành dòng chảy và điều tiết nguồn nƣớc. Có thể quản lý nhằm điều tiết tốt nguồn nƣớc và bảo vệ đƣợc tài nguyên đất. Vì vậy các giải pháp quản lý vì thế sẽ tập chung nhiều vào nhân tố này. Nghiên cứu về các quá trình thủy văn đã đƣợc tiến hành nhiều bởi các nhà khoa học trên thế giới ( ví dụ Horton,1919 ) đã chứng minh lƣợng mƣa thực tế phía dƣới rừng cây nhỏ hơn rất nhiều so với vùng đất trống.

Thí nhiệm Mcmillan và Burgy,1960 cho thấy sự khác biệt giữa bốc hơi của tán lá ƣớt và sự thoát hơi của cỏ không bị ƣớt đƣợc cung cấp một lƣợng nƣớc thích hợp.Lƣợng nƣớc mƣa giữ lại trên tán là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng giữ nƣớc của rừng. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đề cho thấy tỷ lệ lƣợng nƣớc mƣa giữ trên tán rừng lá kim ôn đới chiếm 20 - 40% (Lƣơng Lễ Tiên và Lý Á Quang, 1991). phạm vi biến động của tỷ lệ lƣợng nƣớc mƣa bị ngăn giữ lại trong khoảng 11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05%, trong đó tỷ lệ nƣớc mƣa giữ lại trên tán của rừng lá kim thƣờng xanh á nhiệt đới, trên núi cao ở miền Tây là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thƣờng xanh với cây lá rộng rụng lá á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân, Christoph Peisert, Dƣ Tân Hiểu, 2001). Tại Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa hoc về quá trình thủy văn nhƣ : Nghiên cứu bốc hơi và thoát hơi của rừng (Phạm Văn Điển,2009), lƣợng nƣớc chảy men thân đều cho kết quả là chúng thƣờng chiếm từ 1 - 4% so với tổng lƣợng mƣa.

Dựa vào phƣơng trình cân bằng lƣợng nƣớc trong hệ thống, thông qua đo lƣờng lƣợng mƣa, lƣợng nƣớc thấm xuống các tầng đất sâu, lƣợng nƣớc chảy trên mặt đất và biến đổi động thái của nƣớc trong đất, để tính toán lƣợng nƣớc bốc hơi và thoát hơi của hệ thống (Dƣ Tân Hiểu, 1991. Về đánh giá thành phần dòng chảy của lâm phần rừng vẫn chƣa đƣợc quan tâm sâu sắc, chính vì thế để cung cấp thêm các cơ sở khoa học, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm thủy văn của một số trạng thái rừng tại Nuí Luốt-Xuân Mai-Hà Nội”. Hi vọng, kết quả đề tài đạt đƣợc là cơ sở khoa học góp phần bảo vệ chống xói mòn đất của một số trạng thái rừng. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Những nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về thủy văn rừng trên thế giới đã thu đƣợc nhiều thành quả, trong đó đáng chú ý là những thành quả liên quan đến việc định hƣớng các thành phần cân bằng nƣớc trong hệ sinh thái rừng và xác định, dự báo xói mòn đất. Những nghiên cứu về tỷ lệ lƣợng nƣớc mƣa ngăn bởi tán rừng ở các kiểu thảm thực vật rừng tƣơng ứng với các đới khí hậu khác nhau ở Trung Quốc cho thấy, phạm vi biến động của tỷ lệ lƣợng nƣớc mƣa bị ngăn giữ lại trong khoảng 11,4 - 34,3%, hệ số biến động 6,68 - 55,05%, trong đó tỷ lệ nƣớc mƣa giữ lại trên tán của rừng lá kim thƣờng xanh á nhiệt đới, trên núi cao ở miền Tây là lớn nhất, của rừng hỗn giao cây lá rộng thƣờng xanh với cây lá rộng rụng lá á nhiệt đới, miền núi là nhỏ nhất (Vu Chí Dân, Christoph Peisert, Dƣ Tân Hiểu, 2001), nghiên cứu cũng đã chỉ rõ lƣợng nƣớc mƣa giữ lại bởi tán rừng phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó bao gồm loài cây, tuổi rừng, mật độ lâm phần, cấu trúc của tán rừng, tần suất mƣa, cƣờng độ mƣa, thời gian mƣa. Cũng giống nhƣ hệ sinh thái và quá trình thủy văn, lƣợng nƣớc mƣa ngăn bởi tán rừng cũng biến động theo không gian và thời gian. Nhiều công trình nghiên cứ về lƣợng nƣớc chảy men thân trên thế giới đều cho kết quả là chúng thƣờng chiếm từ 1 - 3% so với tổng lƣợng mƣa.

Đây là một tỷ lệ thấp so với các thành phần cân bằng nƣớc khác. Nhiều nhà thủy văn rừng nhận xét rằng, trong không ít trƣờng hợp lƣợng nƣớc chảy men thân của cây có đƣờng kính lớn lại ít hơn lƣợng nƣớc chảy men thân của cây có đƣờng kính bé. Điều này có thể do sự khác nhau bởi cách phân cành hoặc do lƣợng nƣớc rơi từ tán lá của cây ở tầng trên xuống cây ở tần dƣới không nhƣ nhau (Bruijnzeel L. Về xác định dòng chảy chảy trên bề mặt đất, thủy văn học truyền thống đã phát triển lý luận về dòng chảy trên mặt đất của Horton vào những năm 30 và 40 của thế kỷ 20 để nghiên cứu cơ chế hình thành dòng chảy trên bề mặt 3 đất.

Lý luận này chiếm địa vị thống trị trong lĩnh vực thủy văn học công trình kéo dài suốt khoảng 30 năm đã dựa vào những quan trắc thực nghiệm và chỉ ra rằng trong hoàn cảnh rừng, cƣờng độ mƣa rất ít khi lớn hơn tốc độ thấm nƣớc tiềm tàng của đất, đã nêu ra khung lý luận về động thái hình thành dòng chảy của mƣa rào, sau đó đã triển khai nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm hiểu cơ chế hình thành dòng chảy do mƣa gây ra, chủ yếu trên những khu vực ôn đới ẩm ƣớt của châu Âu và ở Mỹ (Bonell M, 1993). Ở các nƣớc phát triển trên thế giới, việc nghiên cứu về sinh thái rừng nói chung và sinh thái rừng trồng nói riêng đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và giới thiệu trong các tài liệu và diễn đàn quốc tế từ đầu thế kỷ 20. Các nghiên cứu tập trung vào ảnh hƣởng của rừng trồng tới lập địa. Mấy chục năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về rừng đã bƣớc đầu cho thấy sự thoái hóa lập địa do khai thác rừng Thông Pinus radiata với chu kỳ ngắn ở Úc.

Theo các tác giả, có tới 90% chất dinh dƣỡng trong sinh khối bị lấy đi khỏi rừng khi khai thác. Turvey (1983) cũng cho rằng sự thay thế rừng Bạch đàn tự nhiên bằng rừng Thông Pinus radiatan với chu kỳ chặt 15- 20 năm cũng làm giảm độ phì của đất do khai thác gỗ. Mặt khác, tầng thảm mục dày và khó phân giải của Thông cũng làm chậm sự quay vòng của các nguyên tố khoáng và đạm ở các lập địa này. Các nghiên cứu của các tác giả cũng quan tâm nhiều tới vai trò của rừng trong việc phòng hộ môi trƣờng, đề cập tới vấn đề dinh dƣỡng đất, chế độ nƣớc, khả năng ngăn cản xói mòn, dòng chảy.

Tác giả Gosh (1978) [35] đã đánh giá ảnh hƣởng của rừng trồng Bạch đàn đến chế độ nƣớc và chất dinh dƣỡng trong đất tại Ấn Độ và nhiều vùng trên thế giới nhƣng chƣa có những kết luận khẳng định. Những nghiên cứu gần đây tập trung tìm hiểu về các chức năng sinh thái môi trƣờng của rừng. Theo Lee Soo-hwa (Lee-Soo-hwa, 2007).net/news/news) cho rằng đất rừng tốt có thể thấm đƣợc khoảng 250 mm nƣớc mƣa trong một giờ. Tuy nhiên, theo ông thì rừng Thông 4 qua tác động tới cấu trúc sẽ không tốt cho cải thiện nguồn nƣớc thậm chí còn làm tăng sự thiếu nƣớc do làm cho một lƣợng nƣớc lớn bị ngăn giữ lại từ các tầng tán và bốc hơi.

Ngƣợc lại, khi rừng đƣợc cải thiện tầng tán thì sẽ tạo điều kiện cho nƣớc mƣa thấm vào đất nhiều hơn, đất lƣu giữ đƣợc nƣớc tốt hơn và sự chiếu sáng sẽ làm cho các vi sinh vật đất nhƣ giun hoạt động tốt hơn. Vì vậy có tác dụng duy trì nguồn nƣớc và cải thiện nguồn nƣớc tốt hơn. Theo Farley và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng khi đất trảng cỏ và đất cây bụi chuyển sang rừng trồng thì lƣợng dòng chảy năm giảm đi 44% và 31%. Tác động làm giảm dòng chảy kiệt của rừng trồng còn thể hiện rõ hơn cả lƣợng dòng chảy trung bình năm.

Theo Nisbet (2001), rừng có thể có tác dụng làm giảm dòng chảy mặt và chống xói mòn tốt; tuy nhiên các hoạt động trồng rừng và tác động vào rừng nhƣ: làm đƣờng giao thông, làm đất khi trồng rừng, chăm sóc rừng, khai thác .có thể dẫn tới làm tăng dòng chảy mặt và xói mòn cho lƣu vực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ