Đánh giá đặc điểm chất lượng nước sông bùi đoạn chảy qua khu vực huyện chương mỹ hà nội

Tài liệu nghiên cứu Đánh giá đặc điểm chất lượng nước sông bùi đoạn chảy qua khu vực huyện chương mỹ hà nội, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

51
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chất lượng nước sông Bùi đoạn qua Chương Mỹ Hà Nội

Sông Bùi, một nhánh quan trọng của sông Đáy, đóng vai trò thiết yếu trong hệ thống thủy văn và đời sống kinh tế - xã hội của huyện Chương Mỹ. Con sông này không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới tiêu chính cho hàng nghìn hecta đất nông nghiệp mà còn phục vụ các nhu cầu sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản của người dân địa phương. Nằm trong lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Bùi có chức năng thoát lũ từ thượng nguồn, điều hòa dòng chảy và duy trì cân bằng sinh thái cho khu vực phía Tây Nam Hà Nội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, đô thị hóa và gia tăng dân số, chất lượng nước mặt của sông Bùi đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề và sinh hoạt của người dân đã và đang tác động trực tiếp, làm suy giảm chất lượng nguồn nước. Hiện trạng môi trường nước sông Bùi tại Chương Mỹ ngày càng đáng báo động, đòi hỏi phải có những đánh giá khoa học và chính xác để làm cơ sở đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng nước kịp thời. Việc thực hiện một báo cáo phân tích nước sông chi tiết không chỉ giúp xác định mức độ ô nhiễm mà còn là nền tảng quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên nước bền vững, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và sự phát triển lâu dài của huyện.

1.1. Vai trò của sông Bùi đối với kinh tế huyện Chương Mỹ

Sông Bùi là mạch sống chính, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Nguồn nước từ sông giúp duy trì hoạt động canh tác lúa nước, hoa màu và các loại cây ăn quả, vốn là ngành kinh tế chủ lực của nhiều xã ven sông. Ngoài ra, dòng sông còn là nơi sinh kế của nhiều hộ gia đình thông qua hoạt động đánh bắt và nuôi trồng sinh vật thủy sinh. Dòng chảy của sông cũng góp phần tạo nên cảnh quan tự nhiên, điều hòa khí hậu và có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái trong tương lai. Tầm quan trọng này nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ nguồn nước sông khỏi nguy cơ ô nhiễm.

1.2. Sự cần thiết của việc quan trắc môi trường nước định kỳ

Việc quan trắc môi trường nước định kỳ là hoạt động không thể thiếu để nắm bắt diễn biến chất lượng nước sông Bùi. Hoạt động này cung cấp dữ liệu khoa học, khách quan về các thông số pH, DO, BOD, COD, TSS và các chất ô nhiễm khác. Dựa trên kết quả quan trắc, các cơ quan quản lý như Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có thể đánh giá chính xác mức độ ô nhiễm nguồn nước sông Bùi, xác định nguyên nhân và khoanh vùng các điểm nóng ô nhiễm. Từ đó, các biện pháp quản lý, cảnh báo và xử lý sẽ được đưa ra một cách kịp thời và hiệu quả, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và con người.

II. Phân tích các nguồn tiềm tàng gây ô nhiễm nước sông Bùi

Thực trạng ô nhiễm nguồn nước sông Bùi đoạn chảy qua huyện Chương Mỹ là kết quả tổng hợp từ nhiều nguồn thải khác nhau, cả tự nhiên và nhân tạo. Tuy nhiên, các hoạt động của con người là nguyên nhân chính và đáng lo ngại nhất. Quá trình khảo sát thực địa tại các xã như Thủy Xuân Tiên, thị trấn Xuân Mai và xã Thanh Bình cho thấy một bức tranh rõ nét về các nhân tố tác động. Nguồn ô nhiễm lớn nhất và khó kiểm soát nhất đến từ nước thải sinh hoạt Chương Mỹ. Với dân số đông đúc và hệ thống xử lý nước thải chưa đồng bộ, phần lớn nước thải từ các hộ gia đình được xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, mang theo một lượng lớn chất ô nhiễm hữu cơ, vi khuẩn và chất tẩy rửa. Bên cạnh đó, nước thải làng nghề và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ cũng là một nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Các hoạt động nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ và việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cũng góp phần làm gia tăng nồng độ amoni, nitrat, phosphat trong nước. Tình trạng rác thải sinh hoạt bị vứt bừa bãi ven sông cũng làm trầm trọng thêm vấn đề, gây mất mỹ quan và phát sinh các chất độc hại khi phân hủy.

2.1. Tác động từ nước thải sinh hoạt và rác thải ven sông

Nguồn nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư đông đúc như thị trấn Xuân Mai là tác nhân hàng đầu gây ô nhiễm hữu cơ. Loại nước thải này chứa hàm lượng cao các chất dinh dưỡng (nitơ, phốt pho), chất hữu cơ dễ phân hủy (thể hiện qua chỉ số BOD5, COD), và vi sinh vật gây bệnh như Coliform. Việc xả thải trực tiếp làm giảm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của các loài sinh vật thủy sinh. Thêm vào đó, rác thải sinh hoạt không được thu gom triệt để, tồn đọng dọc bờ sông, khi phân hủy sẽ ngấm các chất độc hại vào nguồn nước, có nguy cơ gây ô nhiễm kim loại nặng và các hợp chất phức tạp khác.

2.2. Ảnh hưởng từ hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi

Hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi là một phần không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của Chương Mỹ, nhưng cũng là một nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu không đúng cách khiến các dư chất độc hại bị rửa trôi vào sông Bùi sau mỗi trận mưa. Nước thải từ các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, nếu không được xử lý qua hệ thống biogas hoặc bể lắng, sẽ mang một lượng lớn chất hữu cơ, amoni và mầm bệnh vào nguồn nước, trực tiếp ảnh hưởng đến nông nghiệp ở vùng hạ lưu và gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa, làm suy thoái hệ sinh thái thủy vực.

III. Phương pháp đánh giá chất lượng nước sông Bùi khoa học nhất

Để có được đánh giá khách quan và toàn diện về hiện trạng môi trường nước sông Bùi, nghiên cứu đã áp dụng một hệ thống phương pháp luận khoa học, kết hợp giữa khảo sát thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Quá trình thu thập số liệu sơ cấp được tiến hành bằng cách lấy mẫu nước mặt tại các vị trí đại diện, bao gồm các điểm đầu nguồn, giữa nguồn và cuối nguồn đoạn chảy qua huyện Chương Mỹ, cụ thể tại xã Thủy Xuân Tiên, thị trấn Xuân Mai và xã Thanh Bình. Các mẫu sau khi được thu thập và bảo quản theo tiêu chuẩn TCVN đã được phân tích để xác định các thông số hóa lý và vi sinh quan trọng. Việc đánh giá kết quả được thực hiện dựa trên hai công cụ chính: so sánh trực tiếp với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cụ thể là cột B1, dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi) và tính toán chỉ số chất lượng nước WQI. Phương pháp so sánh với quy chuẩn giúp xác định mức độ vượt ngưỡng của từng chỉ tiêu riêng lẻ, trong khi WQI cung cấp một cái nhìn tổng hợp, cho phép phân loại và xếp hạng chất lượng nước theo thang điểm, giúp công tác quản lý trở nên trực quan và hiệu quả hơn. Sự kết hợp này đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của báo cáo phân tích nước sông.

3.1. Phân tích các thông số pH DO BOD COD TSS và dinh dưỡng

Các thông số cơ bản được lựa chọn để phân tích bao gồm pH, DO (oxy hòa tan), BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa), COD (nhu cầu oxy hóa học), và TSS (tổng chất rắn lơ lửng). Đây là những chỉ tiêu phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ và các vấn đề vật lý của nước. Ngoài ra, các thông số dinh dưỡng như nồng độ amoni (NH4+), nitrat (NO3-), phosphat (PO43-) cũng được đo lường để đánh giá nguy cơ phú dưỡng. Tổng Coliform được xác định để đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh. Các phương pháp phân tích tuân thủ theo các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) hiện hành, đảm bảo kết quả có độ chính xác cao.

3.2. Áp dụng chỉ số chất lượng nước WQI và QCVN 08 MT 2015 BTNMT

Kết quả phân tích được đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt - QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột B1. Đây là cơ sở pháp lý để kết luận một thông số cụ thể có đang gây ô nhiễm hay không. Song song đó, chỉ số chất lượng nước WQI được tính toán dựa trên một tổ hợp các thông số quan trọng. WQI biến những dữ liệu phức tạp thành một con số duy nhất, từ đó phân loại chất lượng nước thành các mức độ khác nhau (tốt, trung bình, kém, ô nhiễm, ô nhiễm nặng). Phương pháp này rất hữu ích cho việc truyền thông đến cộng đồng và hỗ trợ các nhà quản lý trong việc ra quyết định nhanh chóng.

IV. Kết quả phân tích chất lượng nước sông Bùi theo WQI QCVN

Kết quả phân tích từ các mẫu nước thu thập tại sông Bùi đoạn qua Chương Mỹ đã cho thấy những dấu hiệu ô nhiễm rõ rệt ở một số chỉ tiêu. Khi so sánh với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột B1), nhiều thông số quan trọng đã vượt ngưỡng cho phép. Cụ thể, hàm lượng BOD5 vượt chuẩn từ 1,1 đến 1,4 lần, và COD vượt từ 1,02 đến 1,08 lần, cho thấy mức độ ô nhiễm hữu cơ khá cao, chủ yếu xuất phát từ nước thải sinh hoạt và chăn nuôi. Nồng độ TSS (chất rắn lơ lửng) cũng vượt ngưỡng từ 1,18 đến 1,44 lần, làm giảm độ trong của nước và ảnh hưởng đến quang hợp của thực vật thủy sinh. Đặc biệt, nồng độ amoni (NH4+) vượt chuẩn ở tất cả các điểm, có nơi cao gấp 3 lần giới hạn cho phép, là một chỉ dấu đáng báo động về ô nhiễm từ phân bón và chất thải chưa qua xử lý. Ngược lại, các chỉ số như pH, Photphat và Coliform vẫn nằm trong ngưỡng cho phép. Khi tính toán theo chỉ số chất lượng nước WQI, kết quả cho thấy chất lượng nước sông Bùi tại khu vực nghiên cứu chỉ ở mức có thể sử dụng cho mục đích giao thông thủy và tưới tiêu, không đảm bảo cho các mục đích cấp nước sinh hoạt nếu không qua xử lý.

4.1. Đánh giá mức độ ô nhiễm qua các chỉ tiêu vượt ngưỡng

Việc các chỉ tiêu BOD5, COD, TSS, và Amoni đồng loạt vượt ngưỡng cho phép là bằng chứng rõ ràng về sự suy thoái chất lượng nước mặt của sông Bùi. Nồng độ Amoni cao không chỉ gây độc cho sinh vật thủy sinh mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nếu nguồn nước được sử dụng trực tiếp. Hàm lượng chất hữu cơ cao làm cạn kiệt oxy hòa tan trong nước, tạo điều kiện cho các quá trình phân hủy yếm khí, gây ra mùi hôi thối và làm chết các loài cá, tôm. Đây là dấu hiệu của một hệ sinh thái đang bị tổn thương nghiêm trọng.

4.2. Phân loại chất lượng nước sông theo chỉ số WQI

Dựa trên kết quả tính toán, chỉ số chất lượng nước WQI của sông Bùi tại các điểm khảo sát dao động ở mức trung bình đến kém. Cụ thể, các giá trị WQI tổng hợp cho thấy nước sông chỉ phù hợp cho mục đích tưới tiêu và giao thông thủy. Đáng chú ý, chất lượng nước có xu hướng giảm dần từ thượng nguồn (thị trấn Xuân Mai) xuống hạ nguồn, cho thấy sự tích tụ ô nhiễm dọc theo dòng chảy. Kết quả này là một lời cảnh báo, cho thấy nếu không có các giải pháp cải thiện chất lượng nước kịp thời, nguồn nước sông Bùi sẽ không còn đáp ứng được ngay cả cho mục đích nông nghiệp.

V. Top giải pháp cải thiện chất lượng nước sông Bùi Chương Mỹ

Để giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm nguồn nước sông Bùi, cần triển khai đồng bộ một hệ thống các giải pháp toàn diện, từ chính sách quản lý, kỹ thuật công nghệ đến nâng cao nhận thức cộng đồng. Trước hết, về mặt chính sách, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng như Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi xả thải trái phép. Việc xây dựng và hoàn thiện quy hoạch hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt Chương Mỹ tập trung là yêu cầu cấp bách. Về mặt kỹ thuật, cần áp dụng các công nghệ xử lý nước thải phù hợp với điều kiện địa phương, khuyến khích các hộ chăn nuôi xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải. Trong nông nghiệp, cần phổ biến các mô hình canh tác bền vững, sử dụng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học để giảm thiểu ô nhiễm. Tuy nhiên, giải pháp mang tính gốc rễ và bền vững nhất chính là tuyên truyền, giáo dục để thay đổi hành vi của cộng đồng. Khi mỗi người dân ý thức được vai trò của mình trong việc bảo vệ nguồn nước, các vấn đề ô nhiễm sẽ dần được kiểm soát hiệu quả.

5.1. Giải pháp về chính sách và tăng cường công tác quản lý

Chính quyền huyện Chương Mỹ cần xây dựng một kế hoạch hành động cụ thể về bảo vệ môi trường nước sông Bùi. Kế hoạch này phải phân công rõ trách nhiệm cho từng ban ngành, địa phương trong việc giám sát các nguồn thải. Cần có cơ chế xử phạt nghiêm minh và đủ sức răn đe đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh và hộ gia đình vi phạm quy định về xả thải. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, làng nghề đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải, áp dụng các mô hình sản xuất sạch hơn, góp phần giảm thiểu ô nhiễm hữu cơ và hóa chất.

5.2. Giải pháp kỹ thuật trong xử lý nước thải và nông nghiệp

Về mặt kỹ thuật, ưu tiên hàng đầu là đầu tư xây dựng các trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung cho các khu dân cư lớn như thị trấn Xuân Mai. Đối với các khu vực phân tán, có thể áp dụng các mô hình xử lý tại chỗ như bể tự hoại cải tiến, vùng đất ngập nước nhân tạo. Trong nông nghiệp, cần hướng dẫn người dân kỹ thuật sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu theo nguyên tắc "4 đúng", khuyến khích nông nghiệp hữu cơ. Đối với chăn nuôi, mô hình hầm biogas không chỉ giúp xử lý chất thải, giảm ô nhiễm mà còn tạo ra nguồn năng lượng sạch, mang lại lợi ích kinh tế kép cho người dân.

5.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước

Tất cả các giải pháp kỹ thuật và chính sách sẽ không thể thành công nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng. Do đó, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cần được đẩy mạnh qua nhiều kênh khác nhau: hệ thống loa truyền thanh xã, các buổi họp thôn, trường học, và các tổ chức đoàn thể. Nội dung tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào tác động đến hệ sinh tháisức khỏe cộng đồng của việc ô nhiễm nước. Cần phát động các phong trào cộng đồng như "Ngày Chủ nhật xanh", dọn dẹp rác thải ven sông, khơi thông dòng chảy để mỗi người dân trở thành một tác nhân tích cực trong việc bảo vệ môi trường sống của chính mình.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Môi trƣờng đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, đƣợc toàn thế giới quan tâm. Nằm trong khung cảnh chung của thế giới, môi trƣờng Việt Nam đang xuống cấp cục bộ, có nơi bị hủy hoại nghiêm trọng gâ nên ngu cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nƣớc. Trong đó chất lƣợng môi trƣờng tại các vùng kinh tế lớn phía Bắc đang là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm. Từ xƣa, con ngƣời đã sử dụng nguồn nƣớc để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngà nhƣ: tắm rửa, ăn uống, tƣới tiêu,… Đến bây giờ nƣớc mặt vẫn là nguồn nƣớc chủ yếu cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất của con ngƣời.

Với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội ngà càng tăng cao nhƣ hiện na thì nƣớc mặt càng trở thành một vấn đề quan trọng không chỉ riêng một quốc gia mà còn là vấn đề của tất cả mọi ngƣời, mọi vùng, mọi khu vực trên trái đất. Song song với việc phát triển nhanh về dân số là việc nâng cao khoa học công nghệ cùng với công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc, thì con ngƣời ngày càng làm xấu đi nguồn nƣớc mặt bằng việc thải ra lƣợng chất thải ngày một tăng lên vào môi trƣờng, trong đó có môi trƣờng nƣớc. Việc này không những làm giảm chất lƣợng môi trƣờng xung quanh mà còn ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải đánh giá chính xác chất lƣợng nƣớc ở hiện tại, quản lý tốt các nguồn gây ô nhiễm, kiểm soát đƣợc các nguồn gây ô nhiễm để duy trì chất lƣợng nƣớc mặt có thể cung cấp cho thế hệ sau sử dụng nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của môi trƣờng.

Sông Bùi là một con sông đổ ra Sông Đá .Sông có chiều dài 91 km và diện tích lƣu vực là 1. Sông Bùi bắt nguồn từ xã Lâm Sơn, hu ện Lƣơng Sơn, Hòa Bình và chảy qua Hà Nội. Sông Bùi đổ vào sông Đá tại Ba Thá, xã Phúc Lâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Ngã ba sông đó là ranh giới của ba huyện Chƣơng Mỹ, Mỹ Đức và Ứng Hòa.

1 Theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì huyện Chƣơng Mỹ là một trong những khu vực có mức độ ảnh hƣởng quan trọng nhất đến chất lƣợng nƣớc sông Bùi. Sông Bùi ngoài chức năng cơ bản là thoát lũ từ thƣợng nguồn còn có vai trò rất quan trọng trong cấp nƣớc phục vụsinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, thủy sản của ngƣời dân. Tuy nhiên trong những năm gần đâ cho thấy tình trạng ô nhiễm của đoạn sông ngà càng tăng bởi chất thải của các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,.các trận sạt lở, lũ lụt mà các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của các hộ dân xung quanh cũng tác động đến chất lƣợng nƣớc sông. Theo UBND huyện Chƣơng Mỹ, đến thời điểm nà , chƣa có đánh giá của cơ quan chức năng ha báo cáo nào về mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc ở sông Bùi.

Chính vì vậy, việc xem xét, đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Bùi, xác định các nguồn ô nhiễm và mức độ ảnh hƣởng của các hoạt động kinh tế xã hội của huyện Chƣơng Mỹ đến môi trƣờng nƣớc là rất quan trọng. Đó là lý do tôi chọn đề tài : “ Đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Bùi đoạn chảy qua khu vực Chƣơng Mỹ, Hà Nội” nhằm xem xét, giải quyết các vấn đề môi trƣờng và làm cơ sở để đƣa ra biện pháp quản lý và cải thiện chất lƣợng nƣớc. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về ô nhiễm nƣớc 1.

Khái niệm Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi tính chất vật lí, hóa học và thành phần sinh học của nƣớc không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật cho phép, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật (Điều 2 – Luật tài nguyên nước số 17/2012) 2. Nguyên nhân Do sự vận động của trái đất và các tác động mang tính khách quan mà môi trƣờng nƣớc có thể bị ô nhiễm. Tuy nhiên, có 2 nguyên nhân chính làm ô nhiễm nguồn nƣớc đồng thời là tác nhân làm nồng độ ô nhiễm trong nƣớc tăng đáng kể là: nguồn ô nhiêm tự nhiên và ô nhiễm nhân tạo. Ô nhiễm tự nhiên Do sự bào mòn, sự sụt lở núi đồi, đất ven bờ sông làm dòng nƣớc cuốn theo các chất cơ học: bùn đất, cát, chất mùn,… Đặc biệt, tại các vùng đất nông nghiệp, làng nghề khi xảy ra lụt lội có thể kéo theo các chất ô nhiễm từ các sản phẩm hóa học theo ngấm vào lòng đất hoặc chảy trực tiếp vào các dòng sông.

Do sự phun trào của núi lửa làm khói bụi bốc lên cao theo nƣớc mƣa rơi xuống mặt đất, nƣớc,… (Không thường xuyên) Do triều cƣờng nƣớc biển dâng cao kéo theo nhiều rác thải, các chất ô nhiễm từ các vùng khác làm ô nhiễm dòng sông. Do sự hòa tan nhiều chất muối khoáng có nồng độ quá cao, trong đó có các chất gâ ung thƣ nhƣ: Arsen, Fluor và các kim loại nặng. Do xác của các loài sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ, một phần ngấm vào lòng đất sau đó theo dòng nƣớc ngầm chảy tới các vùng nƣớc mặt khác. Ô nhiễm nhân tạo Quá trình phát triển kinh tế, xã hội ngà càng thúc đẩy các nguồn gây ô nhiễm.

Các nguồn ô nhiễm chủ yếu đƣợc phát sinh từ các hoạt động sống của con ngƣời: sinh hoạt và sản xuất. Đối với nguồn ô nhiễm từ quá trình sinh hoạt (Nƣớc thải sinh hoạt): là nƣớc thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trƣờng học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con ngƣời. Thành phần cơ bản của nƣớc thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dƣỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối sống mà lƣợng nƣớc thải cũng nhƣ tải lƣợng các chất có trong nƣớc thải của mỗi ngƣời trong một ngày là khác nhau.

Nhìn chung mức sống càng cao thì lƣợng nƣớc thải và tải lƣợng thải càng cao. Hiện nay, vấn đề xử lý nƣớc thải sinh hoạt còn nhiều hạn chế do hệ thống thu gom nƣớc thải sinh hoạt chƣa đồng bộ, thông thƣờng, nƣớc thải sinh hoạt chủ yếu đổ trực tiếp ra sông ngòi gây ô nhiễm nặng nề. Đối với nguồn ô nhiễm nƣớc thải sản xuất, bao gồm: nƣớc thải công nghiệp, nƣớc thải làng nghề, nƣớc thải từ các hoạt động chăn nuôi, giết mổ, thuốc trừ sâu bị rửa trồi. Các nguồn ô nhiễm trên chứa rất nhiều các chất nguy hại, khó xử lý.

Hiện nay, tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đã xâ dựng hệ thống xử lý phù hợp với tình hình sản xuất của các doanh nghiệp, tuy nhiên vấn đề xử lý nƣớc thải tập trung và kiểm soát chất lƣợng nƣớc sau xử lý vẫn chƣa đƣợc quản lý chặt chẽ. Tại các trang trại, khu làng nghề chƣa đồng bộ về hệ thống thu gom, xử lý; nƣớc thải đƣợc xả trực tiếp ra các nguồn tiếp nhận gây ô nhiễm môi trƣờng nặng nề. Tình trạng ô nhiễm nƣớc trên thế giới Hiện nay tình trạng ô nhiễm nƣớc lục địa và đại dƣơng đang gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tốc độ ô nhiễm nƣớc phản ánh một cách chân thực tôc độ phát triển kinh tế của các quốc gia.

Xã hội càng phát triển thì xuất hiện càng nhiều ngu cơ gâ ô nhiễm môi trƣờng, đặc biệt là môi trƣờng nƣớc, ví dụ nhƣ: 4 - Ở Mỹ tình trạng thảm thƣơng do ô nhiễm nƣớc cũng xảy ra ở bờ phía đông, cũng nhƣ nhiều vùng khác. Vùng đại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Nhƣ ở Anh, đầu thế kỉ 19, sông Tamise rất sạch. Đến giữa thế kỉ 20 nó trở thành ống cống lộ thiên.

Các sông khác cũng có tình trạng tƣơng tự trƣớc khi ngƣời ta đƣa ra các biện pháp bao vệ nghiêm ngặt. - Ở Trung Quốc, hàng năm lƣợng chất thải và nƣớc thải công nghiệp thải ra ở các thành phố và thị trấn tăng từ 23,9 tỷ m3 trong năm 1980 lên 73,1 tỷ m3 trong năm 2006. Một lƣợng lớn chất thải chƣa qua xử lí vẫn đƣợc thải vào các sông ngòi. Hậu quả là hầu hết nƣớc ở các sông hồ ngày càng trở nên ô nhiễm.

Tình trạng ô nhiễm nước tại Việt Nam Nƣớc ta hiện có nền công nghiệp thực sự chƣa phát triển, chịu ảnh hƣởng của xu hƣớng đô thị hóa mạnh mẽ, mặc dù đã có các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ môi trƣờng dành riêng cho các khu công nghiệp, khu dân cứ. Tuy nhiên, tại một sốkhu công nghiệp và các đô thị đã xảy ra tình trạng ô nhiễm ở rất nhiều nơi, trên biển, sông suối, trong cả tầng nƣớc ngầm với các mức độ nghiêm trọng khác nhau. Đầu tiên là ô nhiễm biển. Do có đƣờng bờ biển rất dài nên khi ô nhiễm biển xảy ra sẽ cực kì phức tạp.

Do sự phát triển kinh tế, hầu hết vùng thềm lục địa đã bị ô nhiễm và dần dần lan ra ngoài khơi. Điển hình nhƣ ở Hải phòng, hằng năm có tới hơn 1500 lƣợt tàu vận tải biển cập cảng Hải Phòng. Lƣợng dầu cặn qua sử dụng trong quá trình vận tải từ 5-10 m3. Nhƣ vậy hàng nghìn m3 dầu cặn qua sử dụng cùng rác thải sinh hoạt của ngƣời dân vạn chài và khách du lịch đã tự nhiên theo nhiều cách xả xuống biển.

Tình hình ô nhiễm nƣớc ngọt lại càng trầm trọng hơn. Công nghiệp là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm, trong đố mỗi ngành có một loại chất thải khác nhau. Ví dụ KCN Việt Trì mỗi ngày xả hàng trăm nghìn m3 nƣớc thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, dệt,… khoảng 168m3/ ngà đêm xuống hạ lƣu cùng 1 lƣợng nƣớc thải công nghiệp và sinh hoạt từ thƣợng nguồn Trung Quốc 5 đã làm chất lƣợng nƣớc sông Hồng ngày càng xấu đi theo cả không gian và thời gian. Ở Hà Nội các sông nhƣ sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ có màu đen và hôi thối, đặc biệt là khu công nghiệp Biên Hòa, Đồng Nai và thành phố HCM tạo ra nguồn nƣớc thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn làm nhiễm bản các sông ngòi và vùng phụ cận.

Nƣớc dùng trong sinh hoạt của dân cƣ càng ngà càng tăng nhanh do dân số và đô thị. Nƣớc thải từ sinh hoạt với nƣớc thải từ các khu tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cƣ là đặc trƣng ô nhiễm của các khu đô thị ở nƣớc ta.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ