CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong nước và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước - Schmithusen (1959) đã chia thảm thực vật trái đất thành 9 lớp quần hệ là: Lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ savan và đồng cỏ, lớp quần hệ đồng cỏ, lớp quần hệ cây bụi nhỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống một năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển [34].
- UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:2. Đây là khung phân loại được sử dụng phổ biến phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn thế giới [36]. - Các công trình nghiên cứu hệ thực vật quan trọng có: Thực vật chí Hồng Kông (1861); Thực vật chí Australia (1866); Thực vật chí Ấn Độ (1874); Thực vật chí Miến Điện (1877); Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925); Thực vật chí Hải Nam, Trung Hoa (1972); Thực vật chí Vân Nam, Trung Hoa (1977).I (1974), Urxep (1974) đều tập trung vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu của hệ thực vật.I (1974) đã đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1.000 loài và ông cũng cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý” [16]. - Ở các nước Âu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thổ đã được hoàn thành từ lâu.
Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô nổi tiếng thế giới như Kew (Anh), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga). Vì vậy, khi xây dựng các khu Bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ. Đối với các nước khu vực Đông Nam Á, một số nước đã được nước ngoài tài trợ, giúp đỡ cho nên tuy chưa hoàn thành nhưng cơ bản các nước đó đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia, Malaysia. 11 Theo số liệu của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (2000) trên thế giới đã thống kê được 1.000 loài sinh vật, trong đó có 300.000 loài thực vật [16].
Nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng cũng như vấn đề bảo tồn chúng đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới. Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992 đã có 150 nước ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng. Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời. Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng về đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy), Wri, IUCN and WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn cầu (Global biological strategy).
Năm 1991, Wri, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới (Conserving the World's biological diversity) hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn "Hãy quan tâm tới trái đất" (Caring for the earth). Cùng năm, Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động. Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai [31]. Hiện nay, bên cạnh các công trình xuất bản bằng sách đã có các trang thông tin điện tử xuất bản và cung cấp thông tin chính thức và có độ tin cậy cao.
The Plant List (http://www.org/ [40]) là website cung cấp lịch sử công bố các loài, tên khoa học cập nhật và chính xác nhất. Tình hình nghiên cứu trong nước - Chuyên khảo về Đồng Tháp Mười - tài nguyên thực vật do Phạm Hoàng Hộ và cộng sự (1992) nghiên cứu. Các tác giả đã kiểm kê các loài thực vật gặp ở các sinh cảnh khác nhau của Đồng Tháp Mười và bước đầu đánh giá năng suất của một vài sinh cảnh. Tuy nhiên, công trình này chỉ tập trung một số điểm của vùng Đồng Tháp Mười như Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa (Long An), Hồng Ngự (Đồng Tháp).
chứ không điều tra hết tất cả các điểm thuộc phạm vi nghiên cứu [18]. - Điều tra đa dạng sinh học của các vùng đất ngập nước chủ yếu của vùng đồng bằng sông Cửu Long do Buckton và cộng sự (1999) thuộc tổ chức Birdlife 12 International tiến hành. Đề tài tập trung khảo sát nhóm chim và thực vật bậc cao vùng đồng bằng sông Cửu Long với mục đích đánh giá phân loại mức độ ưu tiên trong việc bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long [8]. - Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đa dạng sinh học vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long do Trần Linh Phước (2000) thuộc trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh chủ trì.
Đề tài đã tổng hợp và phân tích hiện trạng về đa dạng sinh học vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có đề cập đến các nhóm sinh vật như thực vật bậc cao, phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy, chim và cá…[27]. Tại trường Đại học Đồng Tháp cũng có một số nghiên cứu liên quan như sau: - Phạm Thị Thanh Mai, Bổ sung một số loài vào danh lục thành phần loài thực vật của Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, Bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học & Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Huế (ISSN 1859-1612), Số 01 (05)/ 2008. Trong bài báo này, tác giả đã bổ sung 22 loài thực vật bậc cao không có trong danh lục 130 loài của Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp [23]. - Phạm Thị Thanh Mai, “Thành phần loài hoa, cây cảnh được trồng ở Làng hoa kiểng Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp”, Bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, số 09 (6/2014).
Trong bài báo này, tác giả đã bước đầu xác định, phân tích và đánh giá được 280 loài hoa, cây cảnh được trồng tại Làng hoa kiểng Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp [24]. - Phạm Thị Thanh Mai, “Đa dạng thực vật ở Khu di tích lịch sử - văn hóa Xẻo Quýt, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”, Bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, số 25 (4/2017). Trong bài báo này, tác giả đã xác định, phân tích và đánh giá được 334 loài thực vật ở Khu di tích Xẻo Quýt, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp [25]. Trên trang https://bqlkdtgt.vn/ có giới thiệu tổng quan về sinh thái Khu di tích Gò Tháp như sau: “Gò Tháp là nơi còn giữ được nét hoang sơ vùng Đồng Tháp Mười với hệ sinh thái vô cùng phong phú, khoảng 130 loài thực vật khác nhau.
Trong đó, tiêu biểu phải kể tới như: rừng tràm, đế, sậy, những cánh đồng 13 sen hồng bạt ngàn, tỏa hương thơm thanh mát quanh năm… đồng thời, đây là nơi cư trú của hàng chục loài động vật và hơn 20 loài chim nước như: nhan sen, nhan điển, cò, trích…” [41]. Qua tìm hiểu thông tin từ Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp thì số liệu thống kê này không có minh chứng tài liệu cụ thể. Trong Biên bản Thanh tra về Bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu di tích Gò Tháp của Tổng cục Môi trường vào ngày 17 tháng 8 năm 2016 đã kết luận: “Đến thời điểm hiện nay chưa có nghiên cứu điều tra, đánh giá đa dạng sinh học của khu vực này” [33]. Từ đó cho thấy trong những năm qua chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá sự đa dạng hệ thực vật Khu di tích Gò Tháp này.
Vì vậy, nghiên cứu này là hết sức cần thiết và quan trọng, góp phần phục vụ công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Khu di tích Gò Tháp. Mô tả về khu vực nghiên cứu 1. Tổng quan về Khu di tích Gò Tháp Hình 1-1. Bằng xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt Gò Tháp (Nguồn: Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp) Khu di tích Gò Tháp được người Pháp phát hiện từ cuối thế kỷ XIX và là địa chỉ khai quật khảo cổ từ năm 1984 đến nay.
Nơi đây được các nhà khảo cổ xác định 14 là một tiểu quốc của vương quốc Phù Nam, đã lưu giữ được các di tích của nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam với hơn 10 di tích kiến trúc và nhiều bộ sưu tập hiện vật độc đáo. Đồng thời, Gò Tháp là vùng căn cứ địa cách mạng của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước [2]. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt đó, Khu di tích Gò Tháp đã được xếp hạng qua các thời kỳ [2]: Năm 1989, Gò Tháp được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích quốc gia. Năm 2012, Gò Tháp được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt về loại hình di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật [14].
Năm 2014, Gò Tháp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là Khu bảo vệ cảnh quan theo Quyết định số 1976/ QĐ-TTg ngày 30/10/2014 [32]. Năm 2015, Gò Tháp được Bộ Tài nguyên và Môi trường công nhận là Khu bảo tồn đa dạng sinh học theo Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015 [5]. Về giá trị khảo cổ [2], [39], [41] Cách đây khoảng 1.500 năm, Gò Tháp là nơi cư trú của một bộ phận dân tộc có nền văn hóa phát triển, là vùng đất có quá khứ gắn liền với lịch sử của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Gò Tháp, một “ốc đảo xanh” nổi lên giữa vùng đồng ruộng bao la có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi cảnh quan độc đáo cùng nhiều huyền thoại về một nền văn minh cổ với những dấu tích đi theo thời gian và chiến tranh.
Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, một bộ phận cư dân người Việt từ đàng ngoài đã vào đây khai hoang lập nghiệp, mở mang bờ cõi trên vùng đất còn hoang hóa với nhiều rừng rậm, sình lầy, muỗi bầy, thú dữ.