Đánh Giá Đa Dạng Hệ Thực Vật Có Mạch Tại Khu Di Tích Gò Tháp: Hiện Trạng, Giá Trị Tài Nguyên và Định Hướng Bảo Tồn Bền Vững

Tóm tắt nghiên cứu

Nghiên cứu "Đánh giá sự đa dạng hệ thực vật có mạch ở Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp" (Mã số đề tài: SPD2018.18) do ThS. Phạm Thị Thanh Mai chủ nhiệm cùng các cộng sự tại Trường Đại học Đồng Tháp thực hiện. Đề tài tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu then chốt: Hiện trạng thành phần loài, cấu trúc phân loại, phổ dạng sống, giá trị tài nguyên thực vật và mức độ xâm lấn của các loài ngoại lai tại Khu di tích Gò Tháp hiện nay diễn ra như thế nào nhằm phục vụ mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững?

Áp dụng phương pháp điều tra thực địa chuẩn hóa với 50 ô tiêu chuẩn ($20\text{ m} \times 20\text{ m}$) trải dài qua 4 đợt khảo sát (bao quát cả mùa mưa, mùa lũ ngập nước và mùa khô), kết hợp định loại hình thái so sánh theo các hệ thống phân loại hiện đại (Takhtajan, Margulis & Chapman, Raunkiaer), nghiên cứu đã ghi nhận 516 loài thực vật có mạch thuộc 335 chi, 110 họ, 63 bộ và 4 ngành. Trong đó, 491 loài đã được xác định danh pháp khoa học chính xác. Nghiên cứu phát hiện nhiều loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN (như Cà dăm, Cà na, Dầu nước, Sao đen), đồng thời định danh các nhóm thực vật có giá trị dược liệu, thực phẩm, tạo cảnh quan và cảnh báo các loài ngoại lai xâm hại nguy hiểm như Mai dương (Mimosa pigra). Kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu thực vật học toàn diện đầu tiên, đóng vai trò nền tảng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với phát triển du lịch sinh thái tại di tích quốc gia đặc biệt Gò Tháp.


Bối cảnh và tầm quan trọng

Khu di tích Gò Tháp (tọa lạc trên địa bàn hai xã Mỹ Hòa và Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) là Di tích Quốc gia đặc biệt mang giá trị tổng hòa hiếm có về khảo cổ học nền văn hóa Óc Eo - Phù Nam cổ đại, lịch sử đấu tranh cách mạng, tín ngưỡng tâm linh và sinh thái cảnh quan đất ngập nước đặc trưng vùng Đồng Tháp Mười. Được ví như một "ốc đảo xanh" giữa cánh đồng trũng phèn, Gò Tháp sở hữu những sinh cảnh tiêu biểu như rừng tràm nguyên sơ, trảng cỏ ngập nước theo mùa, đầm sen hồng và các quần thể cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Mặc dù có vị thế đặc biệt quan trọng và được công nhận là Khu bảo tồn đa dạng sinh học từ năm 2015, nhưng trong suốt một thời gian dài, dữ liệu về tài nguyên thực vật nơi đây tồn tại một "khoảng trống nghiên cứu" (research gap) rất lớn. Trước thời điểm đề tài triển khai, tài liệu thống kê duy nhất chỉ ghi nhận ước lượng khoảng 130 loài thực vật từ năm 2000 nhưng hoàn toàn không có dẫn liệu khoa học, mẫu tiêu bản hay tài liệu minh chứng cụ thể. Biên bản thanh tra của Tổng cục Môi trường năm 2016 cũng đã khẳng định khu vực này chưa từng có công trình điều tra đa dạng sinh học toàn diện nào.

Trong bối cảnh áp lực từ hoạt động du lịch, tập quán canh tác nông nghiệp xung quanh, sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai và tác động cực đoan của biến đổi khí hậu (biến động chu kỳ lũ - kiệt), việc thực hiện một nghiên cứu hệ thống hóa thành phần loài thực vật có mạch là vô cùng cấp thiết. Đề tài không chỉ lấp đầy khoảng trống dữ liệu khoa học của hệ thực vật vùng trũng phèn Nam Bộ, mà còn mang lại tác động thực tiễn sâu sắc: cung cấp luận cứ khoa học để Ban Quản lý Khu di tích xây dựng phương án khoanh vùng bảo tồn nguồn gen, tiêu trừ thực vật ngoại lai xâm hại, bảo vệ cảnh quan di tích và phát triển du lịch sinh thái bền vững.


Methodology và approach

Nghiên cứu được thiết kế bài bản, kết hợp chặt chẽ giữa khảo sát thực địa đa thời gian, thu mẫu thực vật học chuẩn mực và phân tích định loại chuyên sâu trong phòng thí nghiệm:

  • Thiết kế lấy mẫu thực địa: Áp dụng phương pháp điều tra tuyến và ô tiêu chuẩn theo quy chuẩn của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008). Tổng cộng 50 ô tiêu chuẩn kích thước $20\text{ m} \times 20\text{ m}$ ($400\text{ m}^2$) được thiết lập ngẫu nhiên đại diện cho tất cả các sinh cảnh chính (rừng tràm, trảng cỏ ngập nước, bờ kênh rạch, gò đất cao, vườn thực vật di tích).
  • Tiến trình thu mẫu: Quá trình điều tra diễn ra trong 12 tháng (6/2018 – 5/2019) chia làm 4 đợt khảo sát nhằm bắt trọn toàn bộ chu kỳ sinh học và nhịp điệu sinh thái của thực vật:
    • Đợt 1 & 2 (tháng 7 – 11/2018): Khảo sát mùa mưa và đỉnh lũ ngập nước nổi để ghi nhận thực vật thủy sinh, cỏ ngập nước theo mùa.
    • Đợt 3 & 4 (tháng 12/2018 – 4/2019): Khảo sát mùa khô nhằm ghi nhận các loài thực vật chồi ẩn, cây hàng năm và các loài ra hoa, kết quả trong mùa kiệt.
  • Xử lý và định loại mẫu: Mỗi loài thu từ 3 đến 5 mẫu đầy đủ cơ quan sinh dưỡng và sinh sản (hoa, quả, hạt). Các mẫu được xử lý tiêu bản khô và định loại bằng phương pháp hình thái học so sánh, đối chiếu với các tài liệu chuẩn quốc gia: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), Thực vật chí Việt Nam, Từ điển thực vật thông dụng, Danh lục cây thuốc Việt Nam. Tên khoa học được chuẩn hóa theo cơ sở dữ liệu quốc tế The Plant List.
  • Hệ thống phân loại và chỉ số đánh giá:
    • Khung phân loại ngành theo Margulis & Chapman (2009); thực vật hạt kín sắp xếp theo Takhtajan (2009).
    • Đánh giá phổ dạng sống theo hệ thống Raunkiaer (1934) có bổ sung bởi Nguyễn Nghĩa Thìn (2008).
    • Tính toán tần suất và độ thường gặp ($C%$) theo công thức của Nguyễn Văn Tuyên (2000): $$C = \frac{p}{P} \times 100%$$ (Trong đó $p$ là số điểm xuất hiện loài, $P$ là tổng số điểm điều tra).
    • Đánh giá giá trị bảo tồn dựa trên Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2018) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Đánh giá loài ngoại lai xâm hại theo Thông tư/Quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018).

Phát hiện chính

Công trình nghiên cứu đã mang lại những kết quả mang tính đột phá về bức tranh đa dạng sinh học thực vật tại Khu di tích Gò Tháp:

                  CƠ CẤU PHÂN LOẠI HỆ THỰC VẬT GÒ THÁP
  1. Sự giàu có vượt bậc về thành phần loài: Đề tài đã ghi nhận và lập danh lục chi tiết cho 516 loài thực vật có mạch, thuộc 335 chi, 110 họ, 63 bộ thuộc 4 ngành. Con số này tăng gần gấp 4 lần so với số liệu ghi nhận sơ bộ trước đây (130 loài), chứng minh Gò Tháp là một trung tâm đa dạng sinh học thực vật phong phú bất ngờ của vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười.
  2. Cấu trúc phân loại chiếm ưu thế tuyệt đối bởi ngành Ngọc lan: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 505 loài (chiếm 97,87% tổng số loài), 327 chi và 103 họ. Trong đó, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) và lớp Hành (Liliopsida) giữ vai trò chủ đạo cấu thành các quần xã. Các họ có độ đa dạng loài cao nhất gồm họ Đậu (Fabaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cỏ (Poaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae).
  3. Đặc trưng phổ dạng sống thích nghi sinh thái đất ngập nước: Phổ dạng sống phản ánh rõ nét tính chất nhiệt đới gió mùa và chế độ ngập lũ định kỳ. Nhóm cây chồi trên (Phanerophytes - Ph) và nhóm cây chồi một năm (Therophytes - Th) chiếm tỷ lệ cao, cùng với nhóm thực vật thủy sinh chồi ẩn (Cryptophytes - Cr) như Sen (Nelumbo nucifera), Súng (Nymphaea spp.), Rau bợ (Marsilea quadrifolia), Rau nhút (Neptunia oleracea), thể hiện khả năng thích nghi cao độ với sự thay đổi mực nước theo mùa.
  4. Kho tàng giá trị tài nguyên thực vật đa dụng: Thống kê công dụng cho thấy:
    • Cây làm thuốc (M): Nhóm chiếm số lượng lớn nhất với hàng trăm loài dược liệu quý dùng trong y học cổ truyền (Cỏ xước, Cỏ mực, Kim tiền thảo, Chó đẻ răng cưa, Sâm bố chính, Ngải chổi...).
    • Cây ăn được (Ed) & Cây làm cảnh (Or): Phục vụ đời sống cư dân và tôn tạo cảnh quan du lịch tâm linh.
    • Cây lấy gỗ (T), cây cho tinh dầu (Eo), tanin (Ta) và sợi (Fb): Các loài bản địa đặc trưng như Tràm (Melaleuca leucadendra), Cà na, Bàng, Mù u, Dây choại.
  5. Ghi nhận các loài nguy cấp và cảnh báo thực vật ngoại lai:
    • Giá trị bảo tồn cao: Đã phát hiện các loài quý hiếm như Cà dăm (Anogeissus acuminata - Cực kỳ nguy cấp CR trong Sách Đỏ Việt Nam), Cà na (Elaeocarpus hygrophilus - VU trong SĐVN, EN theo IUCN), Dầu nước (Dipterocarpus alatus - EN-IUCN), Sao đen (Hopea odorata - VU-IUCN), Vạn tuế (Cycas revoluta - Nhóm IIA Nghị định 32).
    • Mối đe dọa sinh thái: Phát hiện sự bùng phát của các loài ngoại lai xâm hại có nguy cơ làm suy thoái thảm thực vật bản địa, tiêu biểu là Cây mai dương (Mimosa pigra), Cỏ lào (Chromolaena odorata), Trinh nữ móc (Mimosa diplotricha) và Cúc xuyến chi (Sphagneticola trilobata).

Đóng góp khoa học

  • Đóng góp về mặt lý thuyết và dữ liệu học thuật: Công trình là tài liệu khoa học chính thức, đầy đủ và chuẩn xác đầu tiên về hệ thực vật có mạch tại Khu di tích Gò Tháp. Nghiên cứu đã bổ sung nguồn dẫn liệu quan trọng cho cơ sở dữ liệu hệ thực vật đất ngập nước nội địa vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và sinh cảnh trũng phèn Đồng Tháp Mười nói riêng.
  • Giá trị phương pháp luận: Thiết lập quy trình khảo sát chuẩn hóa kết hợp giữa nhịp điệu mùa thủy văn (lũ - kiệt) với các ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên trong vùng di tích lịch sử - văn hóa, tạo hình mẫu phương pháp điều tra thực vật cho các khu bảo tồn cảnh quan phức hợp khác tại Việt Nam.
  • Ứng dụng thực tiễn và chuyển giao công nghệ: Báo cáo khoa học và bộ đĩa CD ngân hàng dữ liệu hình ảnh đã được chuyển giao trực tiếp cho Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp. Đây là công cụ phục vụ trực tiếp công tác:
    • Khoanh vùng, gắn biển nhận diện và bảo vệ nghiêm ngặt các loài cây di sản, cây gỗ quý hiếm, cây thuốc bản địa.
    • Xây dựng quy trình kỹ thuật kiểm soát, triệt phá các ổ thực vật ngoại lai xâm hại (đặc biệt là cây Mai dương) và loại bỏ các cây có độc tính nguy hiểm trong khu vực tham quan.
    • Cung cấp tư liệu số hóa và nội dung biển bảng cho việc phát triển các tour du lịch sinh thái học đường, du lịch trải nghiệm khám phá thiên nhiên.
  • Ý nghĩa chính sách: Cung cấp cơ sở pháp lý và khoa học vững chắc giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp hoạch định chiến lược quản lý tổng hợp Khu di tích Quốc gia đặc biệt Gò Tháp theo hướng hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa và bảo tồn đa dạng sinh thái.

Đối tượng quan tâm

Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nhà nghiên cứu thực vật học, sinh thái học và bảo tồn đa dạng sinh học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về cấu trúc thảm thực vật đất phèn ngập nước, biến động thành phần loài theo mùa và đánh giá mức độ rủi ro sinh thái từ thực vật du nhập.
  • Ban Quản lý di tích, cơ quan quản lý môi trường và lâm nghiệp: Áp dụng trực tiếp danh lục thành phần loài và các giải pháp đề xuất để xây dựng kế hoạch quản lý rừng tràm, bảo vệ cây di sản, diệt trừ loài xâm lấn và quy hoạch không gian xanh di tích.
  • Các doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển du lịch: Khai thác tri thức bản địa về cây thuốc, cây ăn trái và cảnh quan đồng cỏ ngập nước để xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm văn hóa sông nước Đồng Tháp Mười.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Sinh học, Khoa học Môi trường, Nông lâm nghiệp: Nguồn tư liệu phục vụ học tập, giảng dạy thực địa, nghiên cứu khóa luận, đề tài khoa học và làm giàu tiêu bản thực vật trường Đại học Đồng Tháp.

FAQ (Câu hỏi thường gặp)

1. Phát hiện mang tính đột phá nhất của nghiên cứu này là gì?

Đó là việc phát hiện và định danh chính xác 516 loài thực vật có mạch (gấp gần 4 lần số liệu ước lượng 130 loài trước đây), trong đó phát hiện nhiều loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao như Cà dăm (CR trong Sách Đỏ Việt Nam), Cà na, Dầu nước, Sao đen; chính thức xác lập Gò Tháp là điểm nóng đa dạng sinh học thực vật của vùng Đồng Tháp Mười.

2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài có điểm gì đặc biệt?

Phương pháp nổi bật ở tính toàn diện về mặt thời gian và không gian: bố trí 50 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên trên các sinh cảnh đại diện và tiến hành điều tra trải đều qua 4 đợt theo chu kỳ thủy văn (mùa mưa, đỉnh lũ ngập nước nổi và mùa kiệt khô hạn). Điều này giúp thu thập đầy đủ cả các loài thủy sinh phù du theo lũ lẫn các loài thân thảo, chồi ẩn mùa khô mà các khảo sát đơn lẻ không thể ghi nhận.

3. Kết quả nghiên cứu có thể khái quát hóa (generalize) cho toàn vùng Đồng Tháp Mười không?

Có thể khái quát hóa cao cho các hệ sinh thái đất ngập nước trũng phèn nội địa vùng Đồng Tháp Mười (bao gồm Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu di tích Xẻo Quýt, Láng Sen). Cấu trúc phân loại và phổ dạng sống ở Gò Tháp phản ánh chuẩn xác các quy luật sinh thái đặc trưng của vùng đồng bằng ngập lũ Nam Bộ.

4. Các bước nghiên cứu tiếp theo (Next steps) cần triển khai là gì?

Cần mở rộng nghiên cứu sang:

  1. Đánh giá trữ lượng sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của rừng tràm Gò Tháp;
  2. Nghiên cứu sâu về hoạt tính sinh học và thành phần hóa học của các cây thuốc dân gian bản địa;
  3. Thử nghiệm các mô hình sinh học kiểm soát loài ngoại lai xâm hại Mimosa pigra.

5. Những ứng dụng thực tiễn cấp bách nhất sau nghiên cứu là gì?

Ban Quản lý Khu di tích cần triển khai ngay việc cắm biển thông tin hướng dẫn bảo vệ các loài cổ thụ quý hiếm, thực hiện chiến dịch cắt tỉa và xử lý gốc cây Mai dương xâm lấn trước mùa phát tán hạt, đồng thời xuất bản cẩm nang "Thực vật Gò Tháp" phục vụ du khách tham quan học tập.


Kết luận

Báo cáo nghiên cứu khoa học của ThS. Phạm Thị Thanh Mai đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đánh giá toàn diện sự đa dạng hệ thực vật có mạch tại Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp. Với việc ghi nhận 516 loài thực vật thuộc 4 ngành, công trình không chỉ làm sáng tỏ giá trị tài nguyên sinh vật phong phú, tiềm năng dược liệu to lớn và sự hiện diện của các nguồn gen nguy cấp, mà còn đưa ra những cảnh báo kịp thời về nguy cơ xâm hại sinh học.

Để bảo tồn và phát triển bền vững Khu di tích Gò Tháp trong giai đoạn mới, các cấp chính quyền tỉnh Đồng Tháp, Ban Quản lý di tích cùng cộng đồng khoa học cần phối hợp chặt chẽ triển khai đồng bộ các giải pháp: bảo tồn nguyên vị (in-situ) các loài quý hiếm, kiểm soát triệt để sinh vật ngoại lai và lồng ghép giáo dục môi trường vào các hoạt động du lịch văn hóa tâm linh. Đây chính là chìa khóa để giữ gìn "ốc đảo xanh" Gò Tháp trường tồn cùng các giá trị di sản ngàn năm của dân tộc.