Đặt vấn đề Trong những năm vừa qua, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm, thể hiện ở nhiều chƣơng trình, dự án đã đƣợc đầu tƣ và các cơ chế chính sách đã đƣợc ban hành, tạo động lực để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý bảo vệ rừng. Chính vì vậy, 10 năm qua, diện tích rừng của cả nƣớc đã liên tục tăng lên, từ 33,2% năm 1999, tăng lên 38.7% vào năm 2008, đặc biệt là độ che phủ của rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đã không ngừng tăng lên, tác dụng phòng hộ cũng nhƣ bảo tồn của rừng đã đƣợc nâng cao. Trên cả nƣớc đã hình thành nhiều vùng cây nguyên liệu công nghiệp tập trung, nguồn nguyên liệu đã đáp ứng đƣợc một phần cho nhu cầu chế biến, hàng hóa lâm sản góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nƣớc. Cùng với những thành tựu đạt đƣợc về tăng độ che phủ rừng, đến nay nhiều diện tích rừng đã có chủ quản lý thực sự, rừng đƣợc giao đã đƣợc quản lý bảo vệ tốt hơn, hiệu quả sử dụng rừng, đất rừng đã đƣợc nâng cao.
Việc giao đất, giao rừng đã tạo ra nhiều việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập cho nhiều hộ dân ở vùng nông thôn miền núi, góp phần tích cực vào Chƣơng trình xóa đói giảm nghèo của cả Nhà nƣớc. Tuy nhiên, kể từ đợt Tổng kiểm kê rừng toàn quốc theo Chỉ thị 286/CT-TTg, ngày 02 tháng 5 năm 1997 của Thủ tƣớng Chính phủ đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) chƣa thực hiện kiểm kê rừng.Trong giai đoạn này, tình hình kinh tế, xã hội của đất nƣớc đã có nhiều thay đổi. Những sự thay đổi đó, đã và đang tác động trực tiếp và gián tiếp, tạo nên sự biến động về diện tích và chất lƣợng rừng theo cả hai chiều hƣớng, tích cực và tiêu cực. Mặt khác, do đặc thù của ngành lâm nghiệp là 2 phải quản lý, sử dụng, kinh doanh trên đối tƣợng sản xuất là rừng và đất rừng có diện tích rộng lớn, lại phân bố ở nơi khó khăn, nên những diễn biến về số lƣợng và chất lƣợng rừng trong thời gian qua chƣa thể cập nhật đƣợc một cách trung thực, đầy đủ và chính xác.
Những năm qua, việc công bố số liệu về hiện trạng rừng hàng năm cơ bản đƣợc thực hiện thông qua công tác thống kê dựa trên nền số liệu kiểm kê rừng từ năm 1998-2000. Việc điều tra bổ sung từ thực địa theo những phƣơng pháp tin cậy còn hạn chế, thông tin không còn tính thời sự.Vì vậy, những số liệu về rừng đƣợc công bố hàng năm chƣa phản ánh kịp thời thực trạng và diễn biến về tài nguyên rừng. Kiểm kê rừng là một công việc rất quan trọng, giúp cho cơ quan quản lý nhà nƣớc về rừng và đất lâm nghiệp từ Trung Ƣơng đến địa phƣơng nắm bắt chính xác về diện tích rừng, chất lƣợng rừng từng khu vực, trên cơ sở đó để giúp cho công tác xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp trên toàn quốc nói chung và trong đó có tỉnh Tuyên Quang đƣợc chính xác và phù hợp với từng loại rừng, từng loại cây. Thực hiện Quyết định 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2003 của Thủ Tƣớng Chính Phủ về việc phê duyệt dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016”; tỉnh Tuyên Quang là một trong 25 tỉnh thành của cả nƣớc đƣợc chọn thực hiện điều tra, kiểm kê rừng giai đoạn 2014-2015.
Nằm trong phạm vi dự án và để đánh giá chính xác hiện trạng diện tích và chất lƣợng rừng cũng nhƣ đất lâm nghiệp thuộc trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trên địa bàn xã Hợp Thành, huyện Sơn Dƣơng, Tỉnh Tuyên Quang tôi triển khai đề tài “Đánh giá công tác kiểm kê rừng tại thôn Đồng Măng, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang năm 2015”, làm cơ sở cho công tác qui hoạch, lập kế hoạch quản lý, sử dụng và phát triển rừng có hiệu quả. Mục tiêu của đề tài Thống kê về diện tích rừng; trữ lƣợng, chất lƣợng rừng gắn với chủ quản lý cụ thể trên phạm vi thôn Đồng Măng, phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát về quản lý bảo vệ và phát triển rừng từ trung ƣơng đến địa phƣơng và của từng chủ rừng cụ thể. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức đã học.
- Làm quen với việc nghiên cứu khoa học, làm quen với các công việc ngoài thực tế, rèn luyện các kỹ năng tổng hợp xử lý số liệu, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng phỏng vấn và điều tra. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài nghiên cứu là cơ sở dữ liệu để thôn Đồng Măng, xã Hợp Thành theo dõi và nắm bắt diễn biến rừng, đất rừng phục vụ công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Bối cảnh chung Trong bối cảnh hiện nay, lâm nghiệp ngày càng đƣợc thừa nhận nhƣ là một ngành kinh tế quan trọng.
Ngoài việc cung cấp các sản phẩm vật chất truyền thống cho nền kinh tế quốc dân nhƣ gỗ và các loại lâm sản ngoài gỗ, lâm nghiệp còn cung cấp nhiều dịch vụ to lớn trong bảo vệ môi trƣờng và giảm nhẹ thiên tai nhƣ giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ đất, điều tiết nguồn nƣớc, bảo vệ cảnh quan, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học… Vì lẽ đó, để phát triển một nền lâm nghiệp bền vững và phát huy đầy đủ các chức năng của rừng cho lợi ích của toàn xã hội, cần thiết phải có một hệ thống thông tin đầy đủ và chính xác làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và chiến lƣợc, quy hoạch và lập kế hoạch cho các đơn vị quản lý lãnh thổ và các chủ thể quản lý cũng nhƣ thực hiện chế độ các báo quốc gia và quốc tế một cách kịp thời. Tuy nhiên, cho đến nay các thông tin về lâm nghiệp còn nhiều bất cập về tính nhất quán, tính đồng bộ cũng nhƣ mức độ tin cây. Vì vậy, chƣơng trình tổng điều tra kiểm kê mà thành quả chủ yếu của nó là cung cấp thông tin về diện tích, chất lƣợng, loại đối tƣợng sử dụng rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp và sự biến đổi của các thông tin đó theo thời gian cần đƣợc đổi mới cả về nội dung lẫn phƣơng pháp thực hiện. Theo Chiến lƣợc phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006- 2020, ngành Lâm nghiệp đƣợc Nhà nƣớc giao quản lý hơn 16.24 triệu ha rừng và đất rừng.
Nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua có thể thấy, diện tích đất có rừng giảm liên tục từ năm 1943 đến 1990 (từ 14 triệu ha năm 1943 xuống 9,3 triệu ha năm 1990). Từ năm 1990, thực hiện chƣơng trình 327/CP và tiếp đó là chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng, diện tích rừng đã liên tục tăng lên. Tuy diện tích rừng có tăng lên song chất lƣợng còn thấp; trong 13,5 triệu ha rừng hiện có, bao gồm 5 10,3 triệu ha rừng tự nhiên, nhƣng rừng già chỉ chiếm 6 % diện tích, phần còn lại chủ yếu rừng non mới phục hồi hay rừng nghèo và nghèo kiệt với giá trị kinh tế và tác dụng dịch vụ thấp và 3,2 triệu ha là rừng trồng, chủ yếu các loài nhƣ Thông, Bạch đàn và một số loài Keo. Từ hơn một thập kỷ qua, Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiện chƣơng trình xóa đói giảm nghèo trên phạm vi toàn quốc.
Mục tiêu tổng quát của chƣơng trình là đảm bảo an ninh lƣơng thực, vật chất và điều kiện tinh thần cho ngƣời dân sinh sống ở các xã khó khăn trên cơ sở quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn một cách bền vững. Chƣơng trình điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc phù hợp với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là quá trình quy hoạch phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng, một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay. Chính sách giao đất khoán rừng đƣợc thực hiện từ những năm cuối của thế kỷ trƣớc tạo ra sự phong phú và đa dạng về chủ sử dụng và quản lý rừng (trƣớc đây rừng chủ yếu là do Nhà nƣớc quản lý và sử dụng, nay số lƣợng chủ quản lý tăng lên đến hàng triệu hộ gia đình và các thành phần kinh tế khác nhau). Đỏi hỏi phải đƣợc kiểm kê, định hƣớng trong quản lý.
Rừng đóng vai trò quan trọng về hấp thụ khí CO 2. Mất rừng và suy thoái rừng tạo ra 15-20% tổng phát thải khí nhà kính và đƣợc xem là một trong những nguyên nhân quan trọng để các khí thải nhà kính tăng lên, dẫn đến thay đổi khí hậu. Hội nghị các bên thuộc Công ƣớc khung Liên hiệp quốc về biên đổi khí hậu tại Ba Li (UNFCCC COP-13) và COP 14 tại Copenhagen Đan Mạch đã thông qua một quyết định về giảm phát thải từ mất rừng ở các nƣớc đang phát triển (REDD) là phƣơng pháp để thúc đẩy hành động và yêu cầu tăng cƣờng xây dựng cách tiếp cận, phƣơng pháp luận để tính toán một cách nhất quán theo thời gian sự giảm hoặc tăng lƣợng phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng ở các nƣớc đang phát triển một cách cách rõ ràng, minh bạch, và có thể kiểm tra, kiểm chứng. Những yêu cầu đối với các hệ thống 6 giám sát chƣa đƣợc quyết định và do đó các nƣớc nên tập trung vào việc tạo ra sự sẵn sàng về các hệ thống và năng lực để giám sát và xác minh về REDD và báo cáo Khí thải hiệu ứng nhà kính.
Điều này đòi hỏi các kết quả chính xác hơn về trữ lƣợng các bon và thay đổi trữ lƣợng với tham khảo hƣớng dẫn của Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC). Việc cải tiến có thể có đƣợc với việc sử dụng công nghệ viễn thám và đánh giá các bể các bon trong Dự án Đánh giá, theo dõi lâu dài tài nguyên rừng và cây ngoài rừng. Hơn nữa hệ thống điều tra, theo dõi sẽ tạo ra dữ liệu về thực hiện chiến lƣợc REDD. Mục đích cuối cùng là tạo điều kiện thâm nhập vào việc thực hiện Nghị định thƣ Kyoto trên cơ sở sự đàm phán về cơ chế REDD.
Ngân hàng Châu Á (ADB) đang cung cấp nguồn tài chính để thực hiện chƣơng trình xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Nguyên (FLITCH) nhằm hạn chế tình trạng mất rừng, suy thoái rừng và xóa đói giảm nghèo thông qua quản lý bền vững tài nguyên rừng.