Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế của nền kinh tế và là thành phần thiết yếu cấu thành môi trường sống của con người. Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Kể từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành thay thế Luật Đất đai năm 2003, công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSD đất), đăng ký biến động đất đai nói riêng đã được triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Hoạt động này tạo lập cơ sở pháp lý chặt chẽ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, hỗ trợ công tác thu ngân sách thông qua tiền sử dụng đất, đồng thời hạn chế tình trạng lãng phí và tranh chấp.

Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện, việc kê khai đăng ký và cấp GCN QSD đất, đặc biệt là công tác đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất tại các địa phương còn bộc lộ nhiều khó khăn. Tiến độ cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân có thời điểm chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu; hiện tượng chuyển mục đích sử dụng đất không khai báo, giao dịch chuyển nhượng ngầm không thực hiện đăng ký biến động và tình trạng sử dụng đất không đúng quy hoạch vẫn diễn ra phổ biến. Trước thực trạng đó, việc phân tích thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận và giao dịch chuyển quyền sử dụng đất tại một địa bàn cơ sở là yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Anh thuộc chuyên ngành Quản lý đất đai (Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) được triển khai với 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá kết quả cấp GCN và chuyển QSD đất tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2019 - 2021.
  2. Đánh giá ý kiến của người dân và một số cán bộ chuyên môn về công tác cấp GCN và chuyển QSD đất trên địa bàn phường.
  3. Tìm hiểu những khó khăn, tồn tại trong công tác cấp GCN và chuyển QSD đất, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác này tại địa phương.

Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác đăng ký cấp GCN và chuyển QSD đất; người dân sinh sống tại địa bàn; cán bộ chuyên môn thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Nguyên, UBND phường Gia Sàng và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu quản lý đất đai trong giai đoạn 2019 - 2021; thời gian thực hiện nghiên cứu thực địa từ tháng 02/2022 đến tháng 06/2022.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan:

  • Khái niệm: Đăng ký đất đai (Điều 3 Luật Đất đai năm 2013), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất (Khoản 10 Điều 3 bao gồm 5 hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và góp vốn bằng QSD đất).
  • Phân loại đăng ký: Đăng ký đất đai lần đầu theo Điều 3 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT; đăng ký biến động đất đai theo Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 và Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT.
  • Thẩm quyền cấp giấy: Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền của UBND cấp tỉnh đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thẩm quyền của UBND cấp huyện đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
  • Hình thức mẫu GCN: Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT quy định thống nhất mẫu GCN gồm 01 tờ 04 trang in nền hoa văn trống đồng hoa sen màu hồng và trang bổ sung nền trắng, kích thước 19 cm x 26,5 cm.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Trung ương và địa phương: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (giá đất), Nghị định số 45/2014/NĐ-CP (thu tiền sử dụng đất), Nghị định số 46/2014/NĐ-CP (thu tiền thuê đất, thuê mặt nước); Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT và Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Quyết định số 16/2018/QĐ-UBND, Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 244/QĐ-STNMT và Quyết định số 174/QĐ-STNMT của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thống kê thứ cấp và khảo sát xã hội học sơ cấp:

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp nhận báo cáo hiện trạng sử dụng đất, hồ sơ địa chính, dữ liệu đăng ký và cấp GCN từ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Thái Nguyên và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2019 - 2021.
  • Thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế thông qua phiếu điều tra. Cỡ mẫu phỏng vấn gồm 15 cán bộ chuyên môn (10 cán bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Thái Nguyên; 05 cán bộ chuyên trách tại UBND phường Gia Sàng) và 30 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại phường Gia Sàng.
  • Xử lý dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu khảo sát và số liệu báo cáo được rà soát theo 3 tiêu chí: Đầy đủ, Chính xác, Lôgic; tổng hợp, lập bảng thống kê và phân tích tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý nhà nước về đất đai dưới góc độ pháp lý và kinh tế; nêu rõ tầm quan trọng của việc cấp GCN và theo dõi biến động đất đai đối với sự phát triển đô thị. Xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, chỉ rõ ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung kiến thức thực tế về thủ tục hành chính đất đai theo Luật Đất đai năm 2013 và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp thông tin đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ cấp GCN tại phường Gia Sàng.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về đăng ký đất đai, cấp GCN và các quyền giao dịch chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Phân tích chức năng của hồ sơ địa chính trong việc bảo vệ quyền tài sản của người dân và bảo đảm quyền sở hữu toàn dân của Nhà nước.

Tác giả tổng kết tình hình thực tế tại các địa phương:

  • Tỉnh Hưng Yên: Đến tháng 11/2021, cấp lần đầu đất ở đạt gần 262 nghìn thửa (hơn 6,6 nghìn ha, đạt 67%); đất nông nghiệp đạt gần 734,5 nghìn thửa (gần 46,6 nghìn ha, đạt gần 91%). Riêng thành phố Hưng Yên cấp đạt gần 92% (hơn 35,3 nghìn thửa đất ở và 61,6 nghìn thửa đất nông nghiệp). Ngược lại, huyện Tiên Lữ 10 tháng đầu năm 2021 chỉ cấp được 464/1.129 thửa đất ở và 31/571 thửa đất nông nghiệp do vướng mắc sai khác diện tích và đất giao trái thẩm quyền.
  • Thành phố Hà Nội: Thống kê 410 dự án nhà ở (223 dự án đã giao đất gồm 216.580 căn). Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã triển khai cấp 36.110 GCN, còn tồn 76.040 căn chủ đầu tư chưa làm thủ tục. Trong 7 tháng đầu năm 2019, tiếp nhận 15.321 hồ sơ, thẩm định chuyển quận/huyện 10.711 hồ sơ, trình ký cấp 2.097 GCN.
  • Tỉnh Thái Nguyên: Đã cấp cho các tổ chức đạt hơn 49.000 ha (gần 90% diện tích cần cấp). Toàn tỉnh còn khoảng 4.500 ha đất của các nông lâm trường chưa cấp GCN (chiếm khoảng 80% diện tích chưa cấp của khối tổ chức), điển hình như Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên tồn trên 2.500 ha (trong đó có gần 900 ha đất chưa quản lý sử dụng), Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa vướng 900 ha, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Võ Nhai vướng 800 ha (chưa quản lý đối với hơn 230 ha).
  • Nghiên cứu kế thừa: Phân tích 5 đề tài tốt nghiệp trước đó tại thành phố Thái Nguyên: phường Hoàng Văn Thụ giai đoạn 2010 - 2014 (Nguyễn Trần Minh), phường Cam Giá giai đoạn 2014 - 2016 (Ngô Thị Bích Nguyệt), phường Túc Duyên giai đoạn 2014 - 2016 (Nguyễn Thị Linh Trang), phường Quang Trung giai đoạn 2015 - 2017 (Ma Thị Linh Khuyên), và phường Phan Đình Phùng giai đoạn 2015 - 2017 (Hà Thị Anh).

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Thiết lập phương pháp luận và chương trình làm việc tại địa bàn. Xác lập 4 nội dung nghiên cứu chi tiết:

  1. Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất của phường Gia Sàng năm 2021.
  2. Đánh giá kết quả cấp GCN lần đầu và các giao dịch chuyển quyền (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cấp đổi/cấp lại) giai đoạn 2019 - 2021.
  3. Đánh giá nhận thức của 30 người dân và ý kiến của 15 cán bộ chuyên môn về trình tự thủ tục, hồ sơ và thực thi chính sách.
  4. Tổng hợp khó khăn, tồn tại và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai tại địa phương.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu

Hiện trạng sử dụng đất năm 2021 tại phường Gia Sàng: Tổng diện tích tự nhiên của phường là 419,70 ha, là phường có diện tích thuộc nhóm lớn nhất thành phố Thái Nguyên, tỷ lệ đưa đất vào sử dụng đạt 95,72%.

STT Chỉ tiêu loại đất Mã Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
1 Nhóm đất nông nghiệp NNP 197,51 47,06
1.1 Đất trồng lúa LUA 55,19 27,94
1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 104,22 52,77
1.3 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 24,72 12,52
1.4 Đất lâm nghiệp (rừng sản xuất) RSX 5,41 2,74
1.5 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 7,96 4,03
2 Nhóm đất phi nông nghiệp PNN 203,70 48,53
2.1 Đất ở đô thị ODT 61,37 30,13
2.2 Đất chuyên dùng CDG 122,98 60,37
2.3 Đất quốc phòng CQP 9,46 4,64
2.4 Đất an ninh CAN 0,06 0,03
2.5 Đất xây dựng trụ sở cơ quan TSC 0,31 0,15
2.6 Đất công trình sự nghiệp DSN 6,38 3,13
2.7 Đất sử dụng vào mục đích công cộng CCC 67,23 33,00
2.8 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp - 39,54 19,41
2.9 Đất sông ngòi, kênh, rạch, suối SON 14,50 7,12
2.10 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 2,78 1,36
2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 1,93 0,95
2.12 Đất cơ sở tôn giáo TON 0,14 0,07
3 Nhóm đất chưa sử dụng CSD 17,96 4,41
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 17,96 100,00
- Tổng diện tích tự nhiên - 419,70 100,00

Kết quả cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân giai đoạn 2019 - 2021: Trong 3 năm, phường Gia Sàng tiếp nhận 2.713 hồ sơ đăng ký với diện tích 324,87 ha; đã giải quyết cấp được 2.459 GCN tương ứng diện tích 320,04 ha, đạt tỷ lệ chung 90,64%. Số lượng tồn đọng là 254 hồ sơ với diện tích 4,83 ha.

Năm Tổng số hồ sơ đăng ký Tổng diện tích đăng ký (ha) Tổng số GCN đã cấp Diện tích đã cấp (ha) Số hồ sơ còn lại Diện tích còn lại (ha) Tỷ lệ đạt (%)
2019 692 91,74 656 91,13 36 0,61 94,80
2020 774 100,92 677 99,27 97 1,65 87,81
2021 1.247 132,21 1.126 129,64 121 2,57 90,30
Tổng 2.713 324,87 2.459 320,04 254 4,83 90,64

Số lượng hồ sơ có sự biến động tăng mạnh qua các năm: năm 2020 tăng nhẹ 1,1 lần (110%) so với 2019 do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 và giãn cách xã hội; năm 2021 số hồ sơ đăng ký tăng vọt lên 1.247 hồ sơ, gấp 1,77 lần so với năm 2019 và gấp 1,61 lần so với năm 2020.

Phân tích nguyên nhân hồ sơ chưa được cấp GCN (254 hồ sơ):

  • Tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sử dụng sai quy hoạch: 241 hồ sơ (diện tích 4,37 ha), chiếm 94,88% tổng số hồ sơ chưa giải quyết (năm 2019: 34/36 hồ sơ, chiếm 94,44%; năm 2020: 92/97 hồ sơ, chiếm 94,85%; năm 2021: 115/121 hồ sơ, chiếm 95,04%).
  • Lấn, chiếm đất: 13 hồ sơ (diện tích 0,46 ha), chiếm 5,12% (năm 2019: 02 hồ sơ; năm 2020: 05 hồ sơ; năm 2021: 06 hồ sơ).

Kết quả cấp GCN lần đầu: Số lượng đăng ký cấp lần đầu rất ít: giai đoạn 2019 - 2021 có 28 trường hợp đăng ký (0,64 ha), thực hiện được 22 trường hợp (0,50 ha), đạt tỷ lệ 78,57%.

  • Năm 2019: Đăng ký 5 trường hợp (0,13 ha), cấp được 4 trường hợp (0,11 ha gồm 0,04 ha đất nông nghiệp và 0,07 ha đất ở), đạt 80,00%.
  • Năm 2020: Đăng ký 9 trường hợp (0,23 ha), cấp được 7 trường hợp (0,15 ha gồm 0,10 ha đất nông nghiệp và 0,05 ha đất ở), đạt 77,78%.
  • Năm 2021: Đăng ký 14 trường hợp, cấp được 11 trường hợp (0,24 ha gồm 0,14 ha đất nông nghiệp và 0,10 ha đất ở), đạt 78,57%.

Kết quả chuyển quyền sử dụng đất (hoạt động chuyển nhượng): Giao dịch chuyển nhượng chiếm tỷ trọng áp đảo trong các giao dịch biến động tại địa bàn:

  • Năm 2019: Đăng ký 426 trường hợp (9,37 ha), hoàn thành 389 trường hợp (8,56 ha), đạt 91,31%; chưa cấp 37 hồ sơ.
  • Năm 2020: Đăng ký 496 trường hợp (10,91 ha), hoàn thành 454 trường hợp (9,99 ha), đạt 91,53%; chưa cấp 42 hồ sơ.
  • Năm 2021: Đăng ký 822 trường hợp (18,08 ha), hoàn thành 746 trường hợp (16,41 ha), đạt 90,75%; chưa cấp 76 hồ sơ. Tổng cộng 3 năm: Đăng ký 1.744 trường hợp chuyển nhượng với diện tích 38,36 ha; thực hiện thành công 1.589 trường hợp tương ứng 34,96 ha, đạt tỷ lệ chung 91,11%.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về công tác đăng ký đất đai tại phường Gia Sàng giai đoạn 2019 - 2021:

  • Chứng minh tỷ lệ bao phủ cấp GCN cho hộ gia đình và cá nhân đạt mức cao (90,64% tổng số hồ sơ tiếp nhận, cấp được 320,04 ha trên 324,87 ha đăng ký).
  • Phân tích rõ sự bùng nổ của thị trường chuyển nhượng đất đai năm 2021 sau giai đoạn trầm lắng vì Covid-19: hồ sơ chuyển nhượng tăng từ 426 trường hợp (2019) lên 822 trường hợp (2021), diện tích giao dịch tăng gần gấp đôi từ 9,37 ha lên 18,08 ha.
  • Lượng hóa chính xác nguồn gốc tồn đọng hồ sơ: nguyên nhân chính khiến hồ sơ không đủ điều kiện cấp giấy không phải do lấn chiếm (chỉ chiếm khoảng 5,12%) mà tập trung chủ yếu ở hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sử dụng sai quy hoạch được phê duyệt và xây dựng công trình không phép (chiếm gần 95%).
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận cập nhật chuỗi số liệu sau giai đoạn 2018 tại đô thị loại I của tỉnh Thái Nguyên; chỉ ra sự suy giảm mạnh của hồ sơ cấp lần đầu (chỉ còn 28 hồ sơ trong 3 năm), minh chứng cho thấy công tác đo đạc, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận cơ sở tại địa bàn phường đã cơ bản hoàn thiện, chuyển trọng tâm quản lý sang giai đoạn đăng ký biến động và kiểm soát giao dịch chuyển nhượng.

Về giải pháp, tác giả đề xuất:

  • Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai nhằm khắc phục tâm lý người dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng mà không khai báo biến động.
  • Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa UBND cấp xã/phường, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố trong khâu xác minh nguồn gốc đất và kiểm tra quy hoạch.
  • Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, số hóa cơ sở dữ liệu địa chính và tăng cường kiểm tra, xử lý dứt điểm các trường hợp xây dựng trái phép, vi phạm quy hoạch đất đai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do tác giả tự ghi nhận:

  • Thời gian thực tập và nghiên cứu thực tế tại địa phương tương đối ngắn (từ tháng 02/2022 đến tháng 06/2022).
  • Khung mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế: chỉ thực hiện khảo sát 30 hộ dân và 15 cán bộ chuyên môn tại phường và thành phố, chưa bao quát được toàn diện tâm lý của mọi nhóm đối tượng sử dụng đất trên địa bàn.
  • Trải nghiệm thực tế của tác giả trong xử lý hồ sơ hành chính phức tạp còn hạn chế, chủ yếu tiếp cận theo số liệu báo cáo thống kê định kỳ của cơ quan chức năng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng:

  • Đi sâu nghiên cứu chi tiết diễn biến các hình thức chuyển quyền khác ngoài chuyển nhượng như tặng cho, thừa kế, thế chấp và chuyển đổi quyền sử dụng đất tại địa bàn đô thị.
  • Đánh giá tác động của quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2021 - 2030 đến quyền lợi của người dân có hồ sơ đang bị ách tắc do vi phạm quy hoạch.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên, Bất động sản và Địa chính môi trường: Cung cấp phương pháp xây dựng đề cương, cách thức xử lý số liệu thứ cấp từ văn phòng đăng ký đất đai và cấu trúc một báo cáo đánh giá quản lý đất đai cấp xã/phường.
  • Cán bộ quản lý địa chính tại UBND phường Gia Sàng và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Thái Nguyên: Nắm bắt bức tranh tổng thể về nguồn gốc các hồ sơ tồn đọng (đặc biệt là 241 hồ sơ sai quy hoạch và tự ý chuyển mục đích) để có cơ chế phân loại, tham mưu xử lý dứt điểm.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2021 và dữ liệu phân loại nguyên nhân tồn đọng hồ sơ địa chính theo các năm.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất tại phường Gia Sàng năm 2021 có tỷ lệ như thế nào? Tổng diện tích tự nhiên của phường Gia Sàng là 419,70 ha. Trong đó, nhóm đất phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 203,70 ha (48,53%), nhóm đất nông nghiệp chiếm 197,51 ha (47,06%), và nhóm đất chưa sử dụng còn 17,96 ha (4,41%, toàn bộ là đất bằng chưa sử dụng).

2. Tổng số hồ sơ đăng ký cấp GCN QSD đất của hộ gia đình, cá nhân tại phường Gia Sàng giai đoạn 2019 - 2021 được giải quyết ra sao? Trong giai đoạn 2019 - 2021, phường tiếp nhận tổng cộng 2.713 hồ sơ với diện tích 324,87 ha; đã giải quyết cấp được 2.459 GCN tương ứng diện tích 320,04 ha, đạt tỷ lệ hoàn thành 90,64%. Tồn đọng chưa cấp là 254 hồ sơ với diện tích 4,83 ha.

3. Đâu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc 254 hồ sơ chưa được cấp GCN trong giai đoạn nghiên cứu? Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng đất tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, không đúng quy hoạch và xây dựng công trình không phép, chiếm tới 241/254 hồ sơ (tỷ lệ 94,88% với diện tích 4,37 ha). Nguyên nhân lấn chiếm đất chỉ chiếm 13 hồ sơ (5,12% với diện tích 0,46 ha).

4. Khối lượng giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại phường Gia Sàng biến động như thế nào qua các năm? Hoạt động chuyển nhượng tăng trưởng mạnh qua các năm: năm 2019 tiếp nhận 426 hồ sơ (cấp 389); năm 2020 tiếp nhận 496 hồ sơ (cấp 454); đến năm 2021 tăng vọt lên 822 hồ sơ (cấp 746). Tổng 3 năm tiếp nhận 1.744 hồ sơ (38,36 ha) và hoàn thành 1.589 hồ sơ (34,96 ha), đạt tỷ lệ 91,11%.

5. Cỡ mẫu khảo sát xã hội học của đề tài được phân bổ như thế nào? Khóa luận tiến hành khảo sát thực tế với 15 cán bộ chuyên môn (10 cán bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Thái Nguyên, 05 cán bộ chuyên trách tại UBND phường Gia Sàng) và điều tra 30 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trên địa bàn phường Gia Sàng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Anh đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận và đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2019 - 2021. Kết quả nghiên cứu khẳng định tỷ lệ cấp giấy chứng nhận đạt mức cao (90,64%), đồng thời nhận diện chính xác điểm nghẽn tồn đọng hồ sơ xuất phát từ tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng trái phép và xây dựng sai quy hoạch (chiếm 94,88%). Công trình cung cấp các dẫn chứng số liệu thực tế có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương trong việc xử lý vi phạm quy hoạch và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính.