Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của ngành lao động giai đoạn 2007-2010, lĩnh vực công nghiệp ghi nhận trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 5.800 vụ tai nạn lao động, làm gần 6.050 người bị thương và khoảng 567 người tử vong. Đáng chú ý, số ca tích lũy bệnh nghề nghiệp trên cả nước đến cuối năm 2008 đã lên tới 23.872 trường hợp. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuẩn hóa công tác an toàn vệ sinh lao động, đặc biệt tại các doanh nghiệp sản xuất điện tử có quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh.

Công ty TNHH Nissei Electric Việt Nam là doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư từ Nhật Bản, hoạt động trên khuôn viên rộng 19.244,2 m2 tại Khu chế xuất Linh Trung 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Doanh nghiệp vận hành 3 nhà máy sản xuất dây điện, cáp quang, linh kiện điện tử và ống nhựa với lực lượng lao động lên tới 4.924 người. Mặc dù công ty đã đạt các chứng nhận quốc tế ISO 9001, ISO 14001 và trang bị cơ sở hạ tầng hiện đại, công tác quản lý bảo hộ lao động vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, đặc biệt là việc xây dựng kế hoạch hàng năm còn mang tính hình thức và chưa bao quát đầy đủ 5 nội dung theo quy định hiện hành.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động tại toàn bộ 3 nhà máy của công ty, đi sâu khảo sát chuyên biệt tại bộ phận sản xuất ống và dây Silicone 9825, từ đó thiết lập phương thức lập kế hoạch bảo hộ lao động khoa học, sát thực tế. Ý nghĩa nghiên cứu hướng tới việc kiểm soát 100% danh mục máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt, hướng đến mục tiêu kéo giảm 50% số vụ sự cố và tai nạn lao động, đồng thời bảo vệ sức khỏe cho gần 5.000 cán bộ công nhân viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chuỗi tai nạn lao động và mô hình quản trị rủi ro nghề nghiệp, kết hợp chặt chẽ với chu trình cải tiến liên tục PDCA (Kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Hành động). Bên cạnh đó, các nguyên lý Ergonomics học và phương pháp quản trị hiện trường 5S (Sàng lọc, Sắp xếp, Sạch sẽ, Săn sóc, Sẵn sàng) từ Nhật Bản được tích hợp để đánh giá điều kiện vi khí hậu, tư thế làm việc và tâm sinh lý của người lao động.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), Điều kiện lao động (ĐKLĐ), Phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN), Mạng lưới an toàn vệ sinh viên (ATVSV) và Kế hoạch bảo hộ lao động (BHLĐ). Hệ thống cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn áp dụng bao gồm Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động trong cơ sở lao động, Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT về 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, Thông tư liên tịch 10/1999/TTLT-BLĐTBXH-BYT và Thông tư 10/2006/TTLT-BLĐTBXH-BYT về chế độ bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật, cùng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường như QCVN 26:2010/BTNMT về tiếng ồn và QCVN 19:2009/BTNMT về khí thải công nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra toàn bộ (census sampling) đối với toàn bộ hồ sơ nhân sự của 4.924 người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp nhằm phân tích cơ cấu giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và phân loại sức khỏe trong 2 năm 2009 và 2010. Đối với việc khảo sát chuyên sâu tại hiện trường sản xuất, phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng tại bộ phận 9825 thuộc Nhà máy 2, nơi tập trung nhiều công đoạn gia công dây điện silicone, máy luyện cán gôm và máy cắt nhiệt có nguy cơ cao về cơ học và hóa chất.

Nguồn dữ liệu bao gồm dữ liệu thứ cấp từ báo cáo định kỳ 6 tháng về tai nạn lao động, hồ sơ kiểm định 100% thiết bị nghiêm ngặt, nhật ký cấp phát thuốc của phòng y tế diện tích 60 m2, và dữ liệu sơ cấp thu thập qua bảng kiểm quan sát hiện trường (Checklist 5S và SHC), phỏng vấn sâu cán bộ quản lý an toàn, bác sĩ y tế cơ sở cùng các an toàn vệ sinh viên. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích hồi cứu và phân tích nguyên nhân gốc rễ là nhằm bảo đảm tính khách quan, phản ánh chính xác mối tương quan giữa điều kiện lao động thực tế với các chỉ số sức khỏe và sự cố lao động trong giai đoạn từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nhân khẩu học của công ty thể hiện tính đặc thù cao của ngành sản xuất linh kiện điện tử khi tỷ lệ lao động nữ chiếm tới 85,44% (4.207 người), trong khi lao động nam chỉ chiếm 14,56% (717 người). Lực lượng lao động có tuổi đời rất trẻ với 77,31% (3.807 người) nằm trong độ tuổi từ 18 đến 25, và 22,01% (1.084 người) thuộc nhóm từ 26 đến 35 tuổi. Về học vấn, trình độ trung học phổ thông chiếm 65,15% (3.208 người), trung học cơ sở chiếm 30,34% (1.494 người), còn trình độ đại học chỉ chiếm 2,44% (120 người).

Thứ hai, dữ liệu phân loại sức khỏe qua 2 năm liên tiếp cho thấy sự biến động đáng lo ngại. Năm 2009, tỷ lệ sức khỏe loại I đạt 23%, nhưng sang năm 2010 đã sụt giảm 3% xuống còn 20%. Mặc dù sức khỏe loại IV giảm tích cực từ 11% xuống 6%, tỷ lệ người lao động xếp loại sức khỏe kém nhất (loại V) lại gia tăng từ 7% lên mức 8%. Tỷ lệ sức khỏe loại II tăng từ 38% lên 47%, chủ yếu do sự dịch chuyển suy giảm từ nhóm sức khỏe loại I.

Thứ ba, quy mô tiêu thụ nguyên vật liệu và hóa chất phục vụ sản xuất rất lớn. Hằng tháng, doanh nghiệp sử dụng 2.000 kg Ethanol, 2.000 kg cồn IPA, 120 kg Acetone và 20 kg Xylen cho công đoạn vệ sinh sản phẩm; cùng với 400 kg NaOH 32%, 100 kg HCl, 100 kg FeCl 42% và 200 kg H2SO4 10% phục vụ trạm xử lý nước thải. Năng lượng tiêu thụ hằng tháng đạt mức 1.777.485 kWh điện lưới, 10.980 kg khí hóa lỏng Gas và 3 m3 dầu DO.

Thứ tư, hồ sơ an toàn ghi nhận trong năm 2010 xảy ra 10 vụ tai nạn lao động nhẹ trong nội bộ nhà máy và 6 vụ tai nạn giao thông trên đường đi làm. Trong 6 tháng đầu năm 2011, công ty tiếp tục xảy ra 3 vụ tai nạn lao động nhẹ tại các bộ phận 9815 (kẹt tay vào bộ kéo máy đùn), 9860 (miệng gió máy lạnh rơi trúng đầu) và 9825 (đứt tay do lưỡi dao máy cắt).

Thảo luận kết quả

Phân tích sâu nguyên nhân gốc rễ cho thấy các vụ tai nạn lao động cơ học xuất phát từ việc thiếu quy trình thao tác chuẩn bằng văn bản tại vị trí làm việc, chỉ hướng dẫn truyền miệng, kết hợp với cơ cấu che chắn an toàn của máy cắt và bộ kéo máy đùn chưa bao kín hoàn toàn vùng nguy hiểm. Bên cạnh đó, tình trạng công nhân ca 1 thường xuyên tăng ca ít nhất 2 giờ mỗi ngày dẫn đến căng thẳng thần kinh và suy giảm độ tập trung.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với thống kê chung của ngành công nghiệp, khi có tới 70% nguyên nhân sự cố bắt nguồn từ việc vi phạm quy trình kỹ thuật do thiếu huấn luyện chuyên sâu hoặc thiếu sự giám sát thường xuyên. Để người đọc dễ hình dung, dữ liệu phân loại sức khỏe có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng so sánh 5 phân nhóm thể lực qua 2 năm, kết hợp bảng ma trận đánh giá rủi ro cho từng dòng thiết bị nguy hiểm. Về mặt tổ chức, mặc dù công ty đã thành lập mạng lưới 78 an toàn vệ sinh viên và duy trì trạm y tế 60 m2 với 5 nhân sự chuyên môn trực 24/24, bản kế hoạch bảo hộ lao động trước đây thực chất chỉ liệt kê nhiệm vụ hành chính đơn lẻ mà chưa cấu thành một kế hoạch hoàn chỉnh theo đúng 5 nội dung của Thông tư liên tịch 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch bảo hộ lao động hàng năm theo đúng 5 nội dung luật định, bao gồm: biện pháp kỹ thuật an toàn và phòng chống cháy nổ; biện pháp kỹ thuật vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện làm việc; trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; chăm sóc sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp; và công tác tuyên truyền, huấn luyện an toàn. Kế hoạch phải đặt mục tiêu cụ thể cắt giảm 50% số vụ tai nạn lao động, do Giám đốc Tổng vụ chủ trì phối hợp cùng Ban Chấp hành Công đoàn hoàn thành vào quý IV hàng năm cho năm tài chính tiếp theo.

Thứ hai, triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật công nghệ tại các vị trí máy móc nguy hiểm. Bộ phận Kỹ thuật sản xuất (PE) cần tiến hành cải tiến hộp bảo vệ bộ kéo máy đùn tại phân xưởng 9815 bằng cách kéo dài thân hộp và thu hẹp khe đưa dây; lắp đặt tấm chắn cơ học tự động cho toàn bộ hệ thống lưỡi dao máy cắt tại bộ phận 9825; đồng thời hoàn thiện việc gắn cáp treo an toàn chịu lực cho 100% miệng gió máy lạnh trên toàn bộ các tầng sản xuất trong quý I năm 2012.

Thứ ba, mở rộng và hoàn thiện chính sách bồi dưỡng hiện vật độc hại. Bên cạnh 5 bộ phận đang được nhận bồi dưỡng 1 hộp sữa mỗi ca làm việc do chịu ảnh hưởng của tiếng ồn vượt ngưỡng (8840, 9811, 9820-9821, 9880), Phòng Tổng vụ cần phối hợp với đơn vị quan trắc môi trường tiến hành đo đạc độ rung và nhiệt độ bức xạ tại khu vực lò sấy nhiệt cao và máy cán gôm silicone, khẩn trương lập danh sách bổ sung công nhân làm việc tại đây vào diện hưởng chế độ độc hại định kỳ vào thứ Tư và thứ Bảy hàng tuần.

Thứ tư, tái cơ cấu thời giờ làm việc và nâng cao hiệu quả đào tạo an toàn. Ban Giám đốc cần kiểm soát chặt chẽ chế độ làm thêm giờ, tuyệt đối không để công nhân tăng ca vượt quá 4 giờ mỗi ngày và 8 giờ mỗi tuần theo quy định của Bộ luật Lao động. Phòng Tổng vụ cần tổ chức các khóa huấn luyện chuyên đề định kỳ hàng quý cho toàn thể 78 an toàn vệ sinh viên, tiến hành biên soạn và dán bảng quy trình thao tác chuẩn hóa trực quan bằng hình ảnh tại 100% vị trí máy móc trọng yếu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các giám đốc điều hành, trưởng phòng an toàn sức khỏe môi trường (HSE/EHS) và cán bộ quản lý sản xuất tại các doanh nghiệp FDI thuộc ngành cơ khí chính xác, chế tạo dây cáp và lắp ráp điện tử, giúp tham khảo quy trình đánh giá hiện trường và phương thức lập kế hoạch an toàn bài bản.

Nhóm thứ hai là ban quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp và thanh tra viên của Sở Lao động Thương binh và Xã hội, xem đây là tài liệu tham chiếu thực chứng về việc thực thi pháp luật an toàn lao động tại các nhà máy có quy mô trên 4.000 công nhân.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kỹ thuật An toàn, Vệ sinh Lao động, Quản lý Môi trường và Y học Lao động, sử dụng làm case study thực tiễn phục vụ giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Nhóm thứ tư là các cán bộ công đoàn cơ sở và an toàn vệ sinh viên tại các nhà máy sản xuất thâm dụng lao động nữ, khai thác các số liệu về tâm sinh lý, chế độ thai sản và phụ cấp độc hại để nâng cao hiệu quả thương lượng thỏa ước lao động tập thể.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp có cơ cấu lao động nữ chiếm trên 85% đối mặt với những thách thức an toàn vệ sinh lao động nào nổi bật nhất? Thách thức lớn nhất nằm ở vấn đề suy giảm thể lực trong thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ, khi tỷ lệ sức khỏe loại V tại Nissei Electric tăng lên 8% trong năm 2010. Doanh nghiệp cần bố trí công việc nhẹ hơn, giảm thiểu thời gian đứng liên tục và kiểm soát chặt chẽ việc tăng ca của lao động nữ.

Tại sao các vụ tai nạn lao động tại công ty chủ yếu là tai nạn nhẹ nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro nghiêm trọng? Các sự cố như kẹt tay vào máy đùn ở bộ phận 9815 hay đứt tay do máy cắt ở bộ phận 9825 phản ánh lỗ hổng trong che chắn cơ học và thiếu quy trình chuẩn. Nếu không cải tạo khe hở máy và bổ sung rào chắn, các va chạm này hoàn toàn có thể biến thành tai nạn đứt rời ngón tay hoặc chấn thương vĩnh viễn.

Mạng lưới an toàn vệ sinh viên tại doanh nghiệp quy mô gần 5.000 người hoạt động như thế nào để đạt hiệu quả? Công ty thiết lập mạng lưới gồm 78 an toàn vệ sinh viên trải rộng trên 18 bộ phận sản xuất dưới sự hướng dẫn của Công đoàn và Phòng Tổng vụ. Do là công nhân trực tiếp làm việc tại dây chuyền, họ dễ dàng phát hiện sớm nguy cơ phát sinh từ máy móc và hóa chất để báo cáo xử lý kịp thời.

Kế hoạch bảo hộ lao động theo Thông tư liên tịch 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT bắt buộc phải bao gồm những nội dung nào? Bản kế hoạch bắt buộc phải có đủ 5 nội dung: kỹ thuật an toàn và PCCC, kỹ thuật vệ sinh lao động và cải thiện môi trường, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, chăm sóc sức khỏe và bồi dưỡng độc hại, cùng công tác tuyên truyền và huấn luyện an toàn vệ sinh lao động.

Chế độ bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật tại Nissei Electric Việt Nam đang được thực hiện ra sao? Doanh nghiệp đang cấp phát hiện vật là 1 hộp sữa mỗi ca làm việc cho công nhân tại 5 bộ phận chịu tiếng ồn vượt tiêu chuẩn vào thứ Tư và thứ Bảy hàng tuần. Nghiên cứu khuyến nghị cần mở rộng chế độ này cho công nhân làm việc tại khu vực lò sấy nhiệt độ cao.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc đánh giá toàn diện hệ thống an toàn vệ sinh lao động trên quy mô 4.924 công nhân tại 3 nhà máy của Công ty TNHH Nissei Electric Việt Nam.
  • Công trình đã bóc tách chính xác các nguy cơ mất an toàn cốt lõi: 85,44% lao động nữ chịu áp lực tăng ca, biến động sức khỏe loại V tăng 1%, rủi ro tiếp xúc với hơn 4.100 kg hóa chất dung môi mỗi tháng và tồn tại nguy cơ cơ học từ máy đùn, máy cắt.
  • Nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt của kế hoạch bảo hộ lao động cũ khi chưa bảo đảm đầy đủ 5 nội dung theo Thông tư liên tịch 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT.
  • Xây dựng thành công khung quy trình lập kế hoạch BHLĐ chuẩn hóa 5 bước khoa học, gắn liền với mục tiêu cắt giảm 50% tai nạn lao động trong chu kỳ 12 tháng.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể cho bộ phận 9825 và phân xưởng đùn nhựa nhằm loại bỏ hoàn toàn các điểm kẹt cuốn nguy hiểm.

Lộ trình triển khai khuyến nghị kỹ thuật và hoàn thiện quy trình bảo hộ lao động cần được Ban Giám đốc và Phòng Tổng vụ phối hợp thực hiện ngay trong quý I và quý II năm 2012. Doanh nghiệp cần nhanh chóng ban hành quy định thao tác chuẩn, trang bị che chắn cơ học cho thiết bị và hoàn thiện hồ sơ kế hoạch bảo hộ lao động nhằm bảo đảm môi trường sản xuất an toàn, ổn định và bền vững.