Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chi trả các dịch vụ môi trường (PFES-payments for environmental services) là kết quả của sự nỗ lực của Chính phủ Viêt Nam, cụ thể là của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE-research center of environmental ecology), Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV), Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) và là đóng góp đáng kể của đối tác RUPES, trong đó có Tổ chức Winrock Quốc tế, Trung tâm Nông Lâm nghiệp thế giới (ICRAF), Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) trong 5 năm qua. Những khái quát về chi trả dịch vụ môi trường rừng 1. Những khái niệm liên quan 1. Khái niệm môi trường rừng Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: Thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí và cảnh quan thiên nhiên.
Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với các nhu cầu của xã hội và con người gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ carbon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. Khái niệm dịch vụ môi trường rừng Đối với khái niệm “dịch vụ môi trường”: hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa chuẩn nào về dịch vụ môi trường. Tuy vậy, để hiểu một cách gần gũi, dịch vụ môi trường là lợi ích mà tự nhiên có thể mang lại cho các hộ gia đình, cộng đồng và nền kinh tế. 5 Theo IUCN thì dịch vụ môi trường là “Các điều kiện và các mối hệ mà thông qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các loài phát triển tồn tại và phục vụ cho cuộc sống con người” [6].
Những dịch vụ đó chẳng hạn như là rừng thì cung cấp những giá trị phòng hộ đầu nguồn, cảnh quan, là bể chứa cacbon, bảo tồn những giá trị đa dạng sinh học,… Rừng ngập mặn thì cung cấp những giá trị như là bảo vệ bờ biển, lưu trữ chất dinh dưỡng, chống sói mòn, nuôi trồng thủy hải sản,… khu bảo tồn cung cấp những giá trị về các loài quí hiếm, các nguồn gen quí, cảnh quan du lịch, khu vui chơi giải trí… Hay nói cách khác Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân. Theo định nghĩa và phân loại của UNFCCC, các dịch vụ môi trường được chia thành 4 nhóm: nhóm cung cấp, nhóm điều tiết, nhóm văn hóa và nhóm hỗ trợ [22]. Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng “Chi trả dịch vụ môi trường rừng” (PES) là quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trường”. Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trường mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác động tích cực và đa dạng như bảo vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo đất…Ngày nay, trong khi nhu cầu về các dịch vụ này tăng, thì khả năng để cung cấp các dịch vụ đó của các hệ sinh thái ngày càng đứng trước nguy cơ bị suy giảm vì môi trường rừng đang dần bị suy thoái và ô nhiễm quá mức.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới điều đó là tăng 6 nhu cầu phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, sự thiếu hiểu biết về chu kỳ và chức năng của các hệ sinh thái và cả sự thiếu trách nhiệm của một số doanh nghiệp và cá nhân khi chỉ nghĩ tới việc tối đa hóa lợi nhuận trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài về bảo vệ môi trường. Cho đến nay, định nghĩa về PES được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven. Theo tác giả này, “ Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) là quá trình giao dịch tự nguyện được thực hiện bởi ít nhất một người mua và một người bán dịch vụ môi trường rừng, khi và chỉ khi người bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trường rừng đó một cách hợp lý” [Wunder, S. Để có thể hiểu một cách đơn giản, PES là việc chi trả của những người hưởng lợi dịch vụ môi trường rừng cho người cung ứng dịch vụ.
Theo Simpson và Sedjo (1996), PES là một cách tiếp cận mới để khuyến khích chủ rừng, những người quản lý rừng cung cấp dịch vụ môi trường rừng tốt hơn. PES giúp đền bù cho những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng hoặc khuyến khích những người chưa quan tâm tham gia bảo vệ và phát triển rừng [17]. Nghị định 99/2010/NĐ-CP cũng đã đưa ra cách hiểu về PES: “Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ” [7] Như vậy, PES là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ công cộng là dịch vụ môi trường rừng. Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả… Để có thể thực hiện PES, trước hết cần đánh giá được giá trị của dịch vụ này.
Thứ nhất, có rất nhiều người không hiểu được giá trị của sinh thái rừng, đặc biệt là những người còn đang chịu cảnh đói khổ, nguồn sống chỉ biết phụ 7 thuộc vào rừng. Ngoài ra, còn có những người dân có cuộc sống khá hơn nhưng vì muốn tối đa hóa lợi nhuận nên chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt mà không nghĩ tới lợi ích lâu dài. Thứ hai, việc đánh giá giá trị dịch vụ môi trường rừng sẽ cho phép các nhà tài chính phân tích chi phí- lợi ích để so sánh cái được và cái mất trong việc bảo vệ hay hủy hoại môi trường rừng, từ đó đưa ra các căn cứ để các nhà hoạch định chính sách và những nhà quản lý môi trường ra những quyết định đúng đắn và lý giải về nghĩa vụ của toàn xã hội đối với các hoạt động bảo tồn hệ sinh thái rừng. Thứ ba, Nếu muốn ai đó trả tiền cho dịch vụ môi trường rừng, chúng ta phải chỉ ra được giá trị về mặt tài chính của các dịch vụ đó.
Mặc dù còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau nhưng PES đã trở thành hình thức và cơ chế chi trả tài chính phổ biến trong hệ thống cơ chế, chính sách của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam (mặc dù Việt Nam là một nước mới thí điểm áp dụng). IUCN cũng đưa ra khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường được đưa ra như sau: “Người mua [tự nguyện] đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định” [6]. Điều này có nghĩa là chúng ta phải có được một thỏa thuận tự nguyện giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ (ví dụ như những người trồng rừng và những người được hưởng các lợi ích khác từ rừng như được sử dụng nước sạch, hưởng môi trường trong lành). Phải có được một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lí, người sử dụng thực hiện việc mua một dịch vụ môi trường được xác định rõ ràng, người cung cấp thực hiện việc sử dụng một mảnh đất nơi phát sinh một dịch vụ phải được làm rõ và việc chi trả hoặc đền bù cho nhà cung cấp phải được thực hiện 8 thông qua chi tài chính hoặc các hình thức khác.
Việc chi trả hoặc đền bù phụ thuộc và dịch vụ môi trường được cung cấp một cách liên tục và ở một mức độ xác định. Trên thế giới PES đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỉ 20 và đã được đề xuất bởi WWF, trong những năm gần đây khái niệm về PES đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới. Và PES cũng đã được gắn kết vào trong mục tiêu thiên niên kỉ (MDGs). PES được xem như là một cơ chế tài chính để giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, vì một thế giới phát triển bền vững hơn.
PES đã được áp dụng ở một số nước châu Phi, Châu á, Đông Âu và Châu Mĩ La Tinh. Và được áp dụng cho các lĩnh vực như bảo vệ nguồn nước, rừng, cảnh đẹp, khu bảo tồn và đa dạng sinh học. Chẳng hạn như dự án chi trả dịch vụ nguồn nước được tiến hành ở 5 nước Peru, Quatemala, Philippin, Tanzania, Indonesia. Và chương trình quản lí đồng bằng lưu vực sông Danube gồm 4 nước tham gia là Bungari, Moldova, Rumani, Ucraina.
Khái niệm Chi trả Dịch vụ Môi trường (CTDVMT) được hiểu như sau: “Là một giao dịch tự nguyện đối với một loại dịch vụ môi trường cụ thể.giữa ít nhất một bên sử dụng dịch vụ môi trường và một bên cung ứng dịch vụ môi trường khi và chỉ khi bên cung ứng dịch vụ môi trường có khả năng cung cấp dịch vụ (trong những điều kiện cụ thể)” (Wunder, S. Ở Việt Nam, khái niệm chi trả DVMTR được diễn giải khác với Quốc tế dưới một số góc độ như sau: Thứ nhất, Nhà nước đóng vai trò điều tiết chủ yếu: Chi trả DVMTR được xem là một công cụ dựa vào thị trường, bắt buộc áp dụng trong một số điều kiện nhất định và được đưa vào các quy định của Chính phủ. Thứ hai, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu chính 9 của chính sách chi trả DVMTR (Nguyễn Tuấn Phú, 2009) [9]. Do vậy, hầu như không thể tách những nỗ lực bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học ra khỏi công tác xóa đói giảm nghèo.
Một số nhà phê bình thì cho rằng, trọng tâm của chi trả DVMTR không thể là các vấn đề “vì người nghèo”, vì điều này có thể hạn chế hiệu quả của chương trình chi trả DVMTR. Do đó, “trọng tâm hàng đầu” vẫn là vấn đề môi trường chứ không phải vấn đề đói nghèo (Wunder, 2008) [24].