Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG 4G LTE [1,3,4] 1. Giới thiệu về công nghệ 4GPP LTE [2, tr.2-7] Hệ thống không dây thế hệ thứ 3 (3G) dựa trên W-CDMA, Hiện đã được triển khai rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. W-CDMA duy trì được lợi thế cạnh tranh bằng cách cung cấp truy cập gói tốc độ cao (HSPA) trong cả hai chế độ đường xuống và đường lên. Để đảm bảo khả năng cạnh tranh của hệ thống 3G trong tương lai, một tiến hoá dài hạn (long term evolution - LTE) 3GPP đã được chấp nhận bởi Release 8 của chuẩn 3GPP.
Các đặc điểm của LTE cung cấp một khuôn khổ cho việc tăng khả năng, nâng cao hiệu quả quang phổ, cải thiện vùng phủ sóng và giảm độ trễ so với việc triển khai HSPA hiện nay. Ngoài ra, truyền tải với nhiều ăng ten đầu vào và nhiều ăng ten đầu ra (multi input multi output - MIMO) sẽ được hỗ trợ cho thông lượng lớn, cũng như nâng cao năng lực hoặc phạm vi hoạt động. Một số thuộc tính quan trọng của LTE Dung lượng đường xuống: Tốc độ dữ liệu đỉnh lên đến 172.8Mbps với băng thông 20MHz và 2x2 SU-MIMO Dung lượng đường lên: Tốc độ dữ liệu đỉnh lên tới 86.4Mbps với băng thông 20MHz và sơ đồ điều chế 64QAM Tính linh hoạt của phổ: Khả năng mở rộng băng thông lên tới 20MHz, bao gồm 1.2, 5, 10,15 và 20 MHz trong cả hai đường lên và đường xuống. Hiệu quả quang phổ: Tăng hiệu quả quang phổ so với Release 6 HSPA từ 2 đến 4 lần; Độ trễ: 5 micro giây độ trễ cho gói tin IP nhỏ Di động: Tối ưu hoá cho di động tốc độ thấp từ 0 đến 15km/h, di động tốc độ cao lên đến 120km/h được hỗ trợ với hiệu suất cao.
Chỉ hỗ trợ cho chuyển mạch gói. Băng thông truyền dẫn Để giải quyết vấn đề của môi trường không dây quốc tế, quy định khu vực phổ, LTE bao gôm việc thay đổi băng thông kênh có thể lựa chọn trong khoảng từ 1.4MHz đến 20MHz, với khoảng cách giữa các sóng mang con là 15kHz, trong trường hợp dịch vụ phát sóng đa phương tiện tiến hoá (evolved multimedia broadcast multicast service - eMBMS), khoảng cách của sóng mang con cũng có thể là 7.5 kHz, khoảng cách của sóng mang con là cố định đối với bất kỳ một băng thông nào, để cho phép hoạt động trong phân bố kích thước phổ tần, băng thông truyền thay đổi bằng cách thay đổi số lượng sóng mang con của phương pháp điều chế OFDM. Chương trình đa truy nhâp Chương trình đa truy nhập cho tầng vật lý của LTE là dựa trên phương pháp ghép kênh phân chia theo tần số trực giao (orthogonal frequency division multiplexing - OFDM) cho đường xuống (down link – DL), và đơn sóng mang phân chia tần số đa truy nhập (SC-FDMA) đường lên (up link – UL), OFDM trong DL là rất thích hợp để đạt được tốc độ dữ liệu đỉnh cao, và SC-FDMA trong UL là phù hợp hơn so với OFDM do tỷ số công suất đỉnh trên công suất trung bình (peak to average power ratio – PAPR) của tín hiệu phát thấp hơn, nên hiệu quả sử dụng công suất sẽ tốt hơn, vì thế có thể tiết kiệm pin cho các thiết bị di động. Kênh lớp vật lý.
LTE DL và UL bao gồm kênh vật lý và tín hiệu vật lý, kênh vật lý mang thông tin từ các lớp cao hơn và được sử dụng để thực hiện các dữ liệu người dùng, cũng như điều khiển thông tin người sử dụng, tín hiệu vật lý không mang thông tin từ các lớp cao, và thường được sử dụng cho việc tìm kiếm và ước lượng kênh của các tế bào. Các kênh vật lý DL chính là kênh phát quảng bá vật lý (physical broadcast channel - PBCH), kênh điều khiển đường xuống (physical downlink control channel - PDCCH), và kênh chia sẽ đường xuống (physical downlink shared z 14 channel - PDSCH), các tín hiệu vật lý DL chính là các tín hiệu tham chiếu (reference signal - RS), và các tín hiệu đồng bộ sơ cấp và thứ cấp (primery synchronization signals P-SCH) và (secondary synchronization signals S-SCH) Các kênh vật lý UL chính là kênh điều khiển đường lên vật lý (physical uplink control channel - PUCCH) và đường lên vật lý chia sẽ kênh (physical uplink shared channel - PUSCH), các tín hiệu vật lý UL chính là giải điều chế tín hiệu tham chiếu và truy nhập kênh vật lý ngẫu nhiên (physical random access channel - PRACH). Điều chế và mã hoá Cũng giống như truy nhập giói tin xuống tốc độ cao (hight speed downlink packet access - HSDPA), LTE cũng sử dụng điều chế thích ứng và mã hoá (adaptive modulation and coding - AMC) để cải thiện thông lượng dữ liệu, kỹ thuật này thay đổi sơ đồ điều chế mã hoá đường xuống dựa trên điều kiện kênh cho mỗi người sử dụng, khi chất lượng liên kết tốt, hệ thống LTE có thể sử dụng một chương trình điều chế bậc cao hơn (nhiều bít hơn trên một ký hiệu), kỹ thuật sẽ dẫn đến kết quả tốt hơn về hiệu suất của hệ thống, mặt khác, khi điều kiện liên kết là kém hơn do các hiện tượng như fading, hệ thống LTE có thể thay đổi sang một sơ đồ điều chế thấp hơn, để truy nhập một kết nối vô tuyến ở ranh giới có thể chấp nhận được về hiệu xuất của kênh. Các sơ đồ điều chế cho phép cho cả DL và UL được trình bầy ở bảng sau: Bảng 1.
Cơ chế điều chế cho đường lên và đường xuống [2,tr.3-4] Đường xuống Kênh đường xuống Sơ đồ điều chế PCH QPSK PDCCH QPSK PDSCH QPSK, 16QAM, 64QAM Tín hiệu vật lý Sơ đồ điều chế RS Orthogonal sequence modulated by binary pseudo random sequence P-SCH Cycle of three Zadoff-Chu sequences S-SCH Two 31-bit BPSK M sequence Đường lên z 15 Kênh vật lý Sơ đồ điều chế PUCCH Based on Zadoff-Chu PUSCH QPSK Tín hiệu vật lý Sơ đồ điều chế PRACH Zadoff-Chu PRACH Uth root Zadoff-Chu S-SCH Two 31-bit BPSK M sequence Hình 1. Cấu trúc frame loại 1 [2,tr. Cấu trúc frame đường xuống Hai cấu trúc frame vô tuyến được định nghĩa trong LTE, cấu trúc frame loại 1, sử dụng cả hai kỹ thuật là kỹ thuật song công phân chia theo tần số (frequency division duplex – FDD) và kỹ thuật song công phân chia theo thời gian (time division duplex – TDD) trong cả hai chiều, cấu trúc frame loại 2 sử dụng TDD trong cả hai chiều. Cấu trúc frame loại 1 được tối ưu hoá để cùng tồn tại với hệ thống 3.84 Mcps UTRA, Cấu trúc khung loại 2 được tối ưu hoá để cùng tồn tại với hệ thống 1.28 Mcps UTRA TDD, còn được gọi là TD-SCDMA.1 thể hiện cấu trúc frame loại 1.
Một frame vô tuyến DL có chu kỳ 10 ms và bao gồm 20 khe (slot) với chu kỳ của một khe là 0.5 ms, hai khe z 16 bao gồm một sub-frame, một sub-frame cũng được biết đến như khoảng thời gian truyền (transmit time interval -TTI), có một chu kỳ 1 ms so với 2 ms TTI của hệ thống HSPA, TTI ngắn hơn làm giảm độ trễ trong hệ thống và sẽ bổ sung thêm dịch vụ cho bộ sử lý thiết bị đầu cuối di động.1 sự ánh xạ vật lý của tín hiệu vật lý DL là: - Điểm quy chiếu tín hiệu đã được truyền đi ở biểu tượng OFDM 0 và 4 của mỗi khe. Điều này phụ thuộc vào cấu trúc frame và số lượng ăng- ten. - P-SCH được truyền tải trên ký hiệu 6 của khe 0 và 10 của mỗi frame vô tuyến, nó chiếm 72 sóng mang con, xung quanh trung tâm sóng mang phụ DC. - S-SCH được truyền tải trên ký hiệu 5 của khe 0 và 10 của mỗi frame vô tuyến, nó chiếm 72 sóng mang con tập trung xung quanh sóng mang con DC.
- Kênh vật lý PBCH được truyền trên 72 sóng mang con tập trung xung quanh sóng mang con DC 1. Cấu trúc khe đường xuống Đơn vị thời gian nhỏ nhất cho đường truyền xuống được gọi là tài nguyên nguyên tố, là một biểu tượng trên một sóng mang con, một nhóm 12 sóng mang con kề nhau trong tần số và một slot trong một lần, tạo thành một khối tài Hình 1. Lưới tài nguyên đường xuống [2,tr.6] z 17 nguyên (RB-resource block) thể hiện ở hình 1. Dữ liệu được phân bổ cho từng thiết bị người dùng (UE) trong đơn vị của RB.
Một cấu trúc frame loại 1 sử dụng tiến tố lặp (cyclic prefic) thông thường, một RB kéo dài 12 sóng mang con liên tiếp tại một không gian sóng mang con 15kHz, và 7 ký hiệu liên tiếp qua một chu kỳ khe của 0.5 ms như trong bảng dưới đây, một CP được gắn vào ký hiệu như là khoảng bảo vệ, do đó, một RB có 84 tài nguyên nguyên tố (12 sóng mang con x 7 ký hiệu) tương ứng với một khe trong miền thời gian và 180 kHz (12 sóng mang con x 15 kHz khoảng cách) trong miền thời gian, kích thước của một RB là như nhau cho tất Bảng 1. Chỉ số tương ứng với hai loại cấu trúc frame Cấu hình Cấu trúc frame loại 1 Cấu trúc frame loại 2 Tiền tố lặp bình thường f=15kHz 12 7 9 Tiền tố lặp mở rộng f=15kHz 6 8 f=7.5kHz 24 3 4 cả băng thông, do đó, số lượng của các RB vật lý phụ thuộc vào băng thông truyền. Trong miền tần số, số lượng của các RB có thể dao động từ 6 (khi băng thông truyền là 1. Frame đường lên và cấu trúc khe đường lên Cấu trúc frame loại 1 là tương tự như frame DL về khe, và chiều dài khung, một cấu trúc khe phụ thuộc vào chiều dài CP, đối với một CP thông thường, có bảy ký hiệu SC-FDMA trên một khe, để mở rộng CP có sáu ký hiệu SC-FDMA trên một khe.
Giải điều chế tín hiệu tham chiếu UL, được sử dụng để ước tính kênh cho giải điều chế phù hợp, được truyền đi trong bốn ký hiệu (tức là ký hiệu số 3) của khe. frame đường lên và định dạng khe cho cấu trúc frame loại 1 [2,tr. So sánh LTE với HSPA và WiMAX [4] Đối với việc phát triển một hệ thống di động thể hệ mới điều quan trọng hơn cả đó chính là khả năng tái sử dụng được các cơ sở hạ tầng có sẳn cũng như tái sử dụng các nguồn tài nguyên. Đối với LTE khả năng tái sử dụng cơ sở hạ tầng và tài nguyên là rất hiệu quả như việc tăng hiệu suất mạng mà không cần sửa đổi hệ thống ăng-ten, hiệu suất của giao thức.
LTE có tốc độ cao nhờ khả năng tương thích với cả phương thức TDD và FDD trong khi mWiMAX (moble WiMAX) chỉ tương thích với TDD. HSPA mWiMAX LTE Lưu lượng Vùng phủ sóng Độ phức tạp Giá thành Hình 1.