Đặt vấn đề VoIP là một công nghệ đã được triển khai rộng rãi và lợi nhuận có được từ nó rất lớn. Thuận lợi chính của công nghệ này là sử dụng cơ sở hạ tầng của Internet hiện tại và rất hiệu quả về mặt chi phí. Tuy nhiên, cũng có điểm yếu là do chất lượng kết nối Internet thấp. Chất lượng thoại có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như mất gói, trễ gói, sự biến động về thời gian (jitter), hiệu ứng dội lại (echo), nhiễu.
Các tham số QoS có quan hệ với sự hài lòng về chất lượng thoại của người nghe. Sự thỏa mãn của người nghe được biểu thị bằng điểm số với các cuộc thử nghiệm chủ quan. Trong thực tế thường dùng các phương pháp khách quan thay thế cho thử nghiệm chủ quan do dễ thực hiện hơn. Phương pháp khách quan đánh giá chất lượng thoại dựa trên việc xử lý tín hiệu mà không cần người nghe thực sự.
Phương pháp PESQ là phương pháp khách quan chủ yếu được dùng để đánh giá chất lượng thoại [22]. Theo chuẩn IEEE 802. Chuyển vùng là một phần không thể tách rời của tất cả các hệ thống không dây di động. Có được sự kết nối liên tục trong suốt quá trình thuê bao di chuyển giữa các tế bào là do quá trình chuyển vùng.
Tuy nhiên mặt khác, quá trình chuyển vùng làm tăng sự trao đổi bản tin quản lý trong lớp MAC và làm giảm lưu lượng của thuê bao. Hơn nữa chuyển vùng làm tăng thời gian vận chuyển gói tin đến người dùng đích. HVTH: Nguyễn Hồng Nhu 16 Luận văn thạc sỹ GVHD: TS. Trần Hoài Trung Có nhiều mô hình được đề nghị nhằm mục đích làm giảm thiểu thời gian trễ trong quá trình chuyển vùng.
Trong luận văn này áp dụng mô hình làm giảm thời gian trong quá trình đăng nhập lại mạng và kết hợp với chiến lượt gán CID vận chuyển để tránh sự xung đột các CID ở phía BS đích trong quá trình chuyển vùng.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Chuẩn IEEE 802.16e định nghĩa ba kiểu chuyển vùng: chuyển vùng cứng (HHO), chuyển vùng phân tập vĩ mô (MDHO) và chuyển trạm gốc nhanh (FBSS). Trong quá trình chuyển vùng, MS tốn một khoảng thời gian từ khi mất kết nối với mạng cho đến khi các kết nối mới với BS đích được thiết lập. Khoảng thời gian này được gọi là gián đoạn chuyển vùng hay thời gian trễ trong quá trình chuyển vùng và nên được giảm tối thiểu do nó làm giảm QoS [2]. Gián đoạn chuyển vùng xảy ra khi sử dụng mô hình chuyển vùng cứng, MS luôn luôn giao tiếp với chỉ một BS.
Tuy nhiên, MS có thể kết nối đồng thời với nhiều hơn một BS. Loại giao tiếp này trong quá trình chuyển vùng được gọi là chuyển vùng mềm. Danh sách các BS tham gia giao tiếp như vậy thường được ký hiệu là tập phân tập hay tập tích cực. Để đảm bảo hiệu suất tối ưu của mạng, kích thước của tập phân tập (số lượng BS trong tập phân tập) cần được tối ưu theo các điều kiện của mạng và chất lượng tín hiệu [21].
Tối thiểu thời gian gián đoạn trong chuyển vùng cứng cũng như tối ưu kích thước tập phân tập trong trường hợp chuyển vùng mềm có thể đạt được bằng việc dự đoán quá trình chuyển vùng. Hơn nữa, nếu dự đoán chuyển vùng đúng và hiệu quả, thì có thể giảm số lượng chuyển vùng không cần thiết. Các quá trình chuyển vùng không cần thiết có thể do hiệu ứng ping-pong khi MS HVTH: Nguyễn Hồng Nhu 17 Luận văn thạc sỹ GVHD: TS. Trần Hoài Trung chuyển qua lại liên tục giữa hai BS lân cận do nó di chuyển dọc theo biên của các tế bào.
Cơ chế chuyển vùng dựa trên logic mờ được giới thiệu trong [12] có kết quả chuyển đổi hiệu quả hơn giữa các BS. Do đó, nó có thể được dùng để cung cấp đủ QoS và thời gian đáp ứng tốt hơn với yêu cầu chuyển vùng. Đánh giá về thời gian chuyển vùng được trình bày trong [13]. Bài báo này đánh giá thời gian trễ qua tỉ lệ tải trên tế bào trong một vài kịch bản được định nghĩa trong IEEE 802.16e gồm quá trình sắp xếp nhanh và đăng ký trước.
Thời gian chuyển vùng tối thiểu có thể đạt được theo [13] xấp xỉ khoảng 60ms khi xem xét việc sắp xếp nhanh kết hợp với đăng ký trước. Ba thuật toán khác nhau được đề nghị để làm giảm thời gian chuyển vùng và số lượng xử lý quét được mô tả trong [16]. Làm giảm thời gian trễ này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng việc dự đoán BS đích, thời gian gián đoạn tối thiểu khoảng 175ms. Trong [17] đề xuất thủ tục đánh dấu gói cuối cùng (LPM) để làm giảm thời gian gián đoạn chuyển vùng.
Tuy nhiên, LPM dựa trên sự kết hợp các đặc tính lớp MAC và lớp mạng cho nên nó nằm ngoài phạm vị của các chuẩn IEEE 802. Trong [7] giới thiệu ba mô hình cho chuyển vùng để làm giảm thời gian gián đoạn. Mô hình hiệu quả nhất dựa trên việc giảm thời gian đặt trước hướng lên cho việc khởi tạo sắp xếp, cho phép thời gian gián đoạn giảm xuống còn 34ms. Việc chỉnh sửa quá trình chuyển vùng cứng cho phép nhận dữ liệu hướng xuống chỉ sau khi đồng bộ với kênh hướng xuống của BS đích được đề nghị trong [18].
Việc giảm thời gian gián đoạn được thực hiện với việc giới thiệu một bản tin quản lý MAC mới – Fast DL_MAP_IE. Bản tin này được dùng để truyền các gói với độ ưu tiên cao (các gói của các dịch vụ nhạy về độ trễ) do BS đích truyền tới MS. Do đó có thể dùng để gửi các gói hướng xuống trước khi MS hoàn tất việc đồng bộ với BS đích và trước khi hoàn tất HVTH: Nguyễn Hồng Nhu 18 Luận văn thạc sỹ GVHD: TS. Trần Hoài Trung việc cập nhật CID.
CID được gán bởi BS phục vụ được dùng cho giao tiếp với BS đích. Do đó, xung đột với CID hiện tại có thể xảy ra trong tế bào của BS đích.3 Nội dung nghiên cứu Khảo sát các vấn đề trong mô hình chuyển vùng của mạng WiMAX di động (IEEE 802.16e) Tập trung vào mô hình thời gian của quá trình chuyển vùng Lựa chọn mô hình chuyển vùng đã chỉnh sửa nhằm giảm thời gian gián đoạn trong quá trình chuyển vùng Giới thiệu mô hình gán CID vận chuyển để tránh xung đột bên BS đích nhằm tăng hiệu suất với mô hình đã lựa chọn Giới thiệu thêm bản tin quản lý trong lớp MAC dành cho các ứng dụng thời gian thực cần sự an toàn trong giao tiếp Áp dụng phương pháp PESQ để đánh giá chất lượng thoại qua mô hình lựa chọn so với mô hình chuẩn Trình bày các kết quả đánh giá 1.4 Cấu trúc luận văn Trong phần này tổng quan về cấu trúc luận văn và trình bày tóm tắt các điểm chính của mỗi chương. Giới thiệu, trình bày các vấn đề liên quan đến nghiên cứu về WiMAX, tổng quan tình hình nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. Trình bày tổng quan về công nghệ WiMAX, so sánh các đặc tính cơ bản với các chuẩn trong IEEE 802.16 và với các công nghệ truy HVTH: Nguyễn Hồng Nhu 19 Luận văn thạc sỹ GVHD: TS.
Trần Hoài Trung cập khác. Hơn nữa cũng giới thiệu về hệ thống các phiên bản của WiMAX bao gồm mô hình mạng tham khảo và các khối chức năng cơ bản. Giới thiệu về quá trình chuyển vùng trong WiMAX, các mô hình chuyển vùng được hỗ trợ trong WiMAX. Phân tích về quá trình khởi tạo chuyển vùng cũng như quá trình chọn lại tế bào.
Sau đó trình bày về vấn đề an toàn trong quá trình chuyển vùng. Lựa chọn mô hình chuyển vùng để giảm thiểu thời gian trễ trong quá trình chuyển vùng với hai mô hình chuyển vùng nhanh có sự an toàn hay không an toàn tùy thuộc vào ứng dụng. Đánh giá thời gian trễ của mô hình chuyển vùng lựa chọn với mô hình chuyển vùng trong IEEE 802. Mô tả phương pháp đánh giá chất lượng thoại PESQ để đánh giá chất lượng thoại.
Chương 6 Đưa ra kết luận về mô hình lựa chọn và chất lượng thoại đã đánh giá qua phương pháp PESQ. Cuối cùng đưa ra hướng nghiên cứu về lĩnh vực chuyển vùng. HVTH: Nguyễn Hồng Nhu 20 Luận văn thạc sỹ GVHD: TS. Trần Hoài Trung CHƯƠNG 2 CÔNG NGHỆ WIMAX 2.1 Tổng quan về WiMAX WiMAX là một hệ thống truyền thông số không dây dành cho các mạng khu vực đô thị WMAN.
WiMAX có thể cung cấp khả năng truy cập không dây băng rộng lên tới 50 km cho thuê bao cố định và 5-15 km cho thuê bao di động. Trong khi đó mạng không dây cục bộ WiFi/802.11 bị giới hạn tới khoảng 30-100 m. WiMAX dùng trong mạng không dây, sử dụng giao thức gần giống như giao thức trong WiFi. WiMAX sử dụng băng thông hiệu quả hơn, tránh được giao thoa và có thể truyền với tốc độ nhanh hơn ở khoảng cách xa hơn.16 được hình thành vào năm 1998 để phát triển chuẩn giao tiếp cho băng rộng không dây.
Ban đầu chỉ chủ yếu phát triển hệ thống không dây băng rộng điểm tới đa điểm dựa trên mô hình LOS hoạt động ở băng tần 10 GHz – 66 GHz. Tháng 12 năm 2001, chuẩn 802.16 được hoàn thành dựa trên lớp vật lý (PHY) với kỹ thuật sóng mang đơn và ghép kênh phân chia thời gian (TDM) theo nhóm trong lớp MAC.16 có sửa đổi, bao gồm các ứng dụng NLOS trong băng tần 2 GHz – 11 GHz dùng kỹ thuật ghép kênh phân chia tần số trực giao (OFDM) dựa trên lớp vật lý. Hơn nữa, kỹ thuật đa truy cập phân chia tần số trực giao (OFDMA) cũng được thêm vào trong lớp MAC. Việc sửa đổi vẫn tiếp tục và kết quả đưa ra chuẩn mới trong năm 2004, được gọi là IEEE 802.16-2004, thay thế tất cả các phiên bản HVTH: Nguyễn Hồng Nhu 21 Luận văn thạc sỹ GVHD: TS.
Trần Hoài Trung trước đây và hình thành nền tảng cho giải pháp WiMAX đầu tiên. Giải pháp WiMAX này dựa trên IEEE 802.16-2004 được áp dụng vào các ứng dụng cố định [19]. Vào tháng 12 năm 2005, nhóm IEEE hoàn thành chuẩn IEEE802.16e-2005 có hỗ trợ tính di động.16e- 2005 hình thành nền tảng cho WiMAX đối với các ứng dụng di động [19]. Các chuẩn này có nhiều lựa chọn khác nhau cơ bản trong thiết kế.
Ví dụ có nhiều sự lựa chọn lớp vật lý: Lớp vật lý dự trên sóng mang đơn được gọi là WirelessMAN- SCa, lớp vật lý dự trên OFDM được gọi là WirelessMAN- OFDM, và lớp vật lý dự trên OFDMA được gọi là WirelessMAN- OFDMA. Tương tự, có nhiều lựa chọn cho kiến trúc MAC, cách truyền dữ liệu, tần số hoạt động, v.