Chương 1: Quá trình phát triển công nghệ 4G LTE theo tiêu chuẩn 3GPP Long Term Evolution (LTE) là tiêu chuẩn mới theo quy định của 3GPP trên con đường hướng tới thế hệ di động thứ tư. Trong chương này trình bày các tính năng kỹ thuật chính của tiêu chuẩn này cũng như hiệu quả của nó về tốc độ bit cao nhất và các thông lượng trung bình của tế bào (cell) cũng như kiến trúc của một mạng 4G. LTE đòi hỏi một công nghệ cải tiến lớn so với các tiêu chuẩn 3G trước đó.Thông qua việc thiết kế và tối ưu hóa các kỹ thuật truy nhập vô tuyến mới và sự phát triển nâng cao của hệ thống, 3GPP đặt nền tảng của tiêu chuẩn LTE-Advanced trong tương lai. Chương này cung cấp một cái nhìn ngắn gọn về quá trình phát triển của công nghệ 4G.
Giới thiệu Trong những năm qua, sự tiến hóa công nghệ truyền thông di động chủ yếu được thúc đẩy bởi ba yếu tố qua trong: Một là, toàn cầu hóa thị trường và tự do hóa ngày càng tăng giữa các nhà cung cấp và các nhà khai thác mạng. Hai là, sự phổ biến của chuẩn IEEE 802 công nghệ không dây trong lĩnh vực truyền thông di động Ba là, sự gia tăng theo cấp số nhân trong nhu cầu cho các dịch vụ viễn thông tiên tiến. Liên quan đến yếu tố thứ 3, các ứng dụng dự kiến sẽ được hỗ trợ bởi hệ thống di động hiện tại và tương lai bao gồm Voice over IP (VoIP), hội nghị truyền hình, push- to-talk qua di động (PoC), nhắn tin đa phương tiện, nhiều trò chơi, âm thanh và hình ảnh, tải nhạc chuông, video clip, kết nối mạng riêng ảo (VPN), duyệt web, truy cập email, giao thức truyền tải tập tin (FTP).Tất cả các ứng dụng này có thể được phân loại theo nhiều cách dựa trên chất lượng dịch vụ (QoS). Một số dịch vụ trong các dịch vụ kể trên, yêu cầu truyền thời gian thực và độ trễ ít như thoại và hội nghị truyền hình, trong khi một số các dịch vụ khác yêu cầu tính an toàn cao hơn, tốc độ dữ liệu cao và độ trễ ít như VPN và FTP.
Việc hỗ trợ đồng thời các ứng dụng với yêu cầu chất lượng HDKH: TS.Trần Hoài Trung - 13 - HVTH: Lê Trường An Luận văn thạc sĩ dịch vụ QoS khác nhau là một trong những thách thức quan trọng nhất mà các hệ thống di động đang phải đối mặt với. Đồng thời, sự khan hiếm phổ làm cho hệ thống băng rộng di động mới được thiết kế với hiệu suất phổ rất cao. Nhu cầu này ngày càng cao của thị trường và lợi ích kinh tế to lớn của nó, cùng với những thách thức mới, đi kèm với các yêu cầu về hiệu suất quang phổ cao hơn, tăng sự cần thiết phải phân bổ kênh tần số mới cho hệ thống thông tin di động. Đó là lý do tại sao tiêu chuẩn ITU-R WP 8F bắt đầu vào tháng 10 năm 2005 định nghĩa tương lai của thế hệ di động thứ tư (Generation Mobile 4G), còn được biết đến như là Thông tin di động quốc tế (IMTs) nâng cao, theo cùng một mô hình chuẩn hóa toàn cầu đã được sử dụng với thế hệ di động thứ ba (IMT-2000).
Mục tiêu của tiêu chuẩn ITU-R này là để xác định các yêu cầu về dung lượng truyền dẫn và chất lượng dịch vụ. Theo đó nếu một công nghệ nào đáp ứng được tất cả các yêu cầu của tổ chức ITU trong bộ tiêu chuẩn IMT-Advanced sẽ được công nhận là một thế hệ di động mới. Điều này thúc đẩy các nhà khai thác đầu tư vào đó và hơn thế nữa nó cho phép sử dụng hiệu quả các dải tần số đặc biệt được chỉ định cho IMT-Advanced, đồng thời tạo ra một động lực lớn cho các nhà khai thác di động gia tăng các dịch vụ và dung lượng truyền dẫn. Cuộc đua tới IMT-Advanced được chính thức bắt đầu tháng 3 năm 2008, khi một thông báo yêu cầu nộp đề xuất công nghệ mới của ITU.
Trước lời kêu gọi chính thức này, Tổ chức Dự án Quan hệ đối tác thứ 3 (3GPP) thành lập một công nghệ di động mới Term Evolution Long (LTE), để xây dựng một khuôn khổ cho sự phát triển của các công nghệ vô tuyến 3GPP, cụ thể UMTS và hướng tới 4G. 3GPP chia quá trình này vào hai giai đoạn: giai đoạn đầu hoàn thành tiêu chuẩn LTE đầu tiên phiên bản 8 (Release 8), giai đoạn sau phát triển LTE theo yêu cầu của 4G thông qua các đặc điểm kỹ thuật của một công nghệ mới được gọi là LTE-Advanced phiên bản 9 và 10 (Release 9 và 10). Theo kế hoạch này, trong tháng 12 năm 2008 3GPP đã được phê duyệt chi tiết kỹ thuật của LTE phiên bản thứ 8 trong đó bao gồm mạng truy nhập vô tuyến UTRAN Evolved (E-UTRAN) và mạng lõi Packet Core Evolved (EPC). Trong khi, các điều khoản thành lập LTE-Advanced đã được đề xuất từ tháng 5 năm 2008, với hy vọng hoàn thành trong tháng 10 năm 2009 theo lịch trình của ITU-R cho quá HDKH: TS.Trần Hoài Trung - 14 - HVTH: Lê Trường An Luận văn thạc sĩ trình IMT-Advanced.
Trong khi đó, cộng đồng nghiên cứu đã được lập là để đánh giá hiệu suất của tiêu chuẩn LTE phiên bản thứ 8. Chương này này giới thiệu các đặc điểm chính của LTE Phiên bản thứ 8. Bên cạnh đó, năng lực của hệ thống LTE được phân tích về thông lượng tối đa đạt được và dung lượng cell trong một điều kiện thông thường. Những nghiên cứu này cho phép có một ý tưởng thô về lợi ích và khả năng của các tiêu chuẩn mới về xu hướng nghiên cứu hiện nay của 3GPP trong quá trình định nghĩa của LTE Advanced và dự báo các đặc điểm chính của thế hệ di động tiếp theo.
Tổng quan về công nghệ LTE 3GPP Long Term Evolution là tên đặt theo tiêu chuẩn mới được phát triển bởi 3GPP để đáp ứng với các yêu cầu thông lượng ngày càng tăng của thị trường. LTE là bước tiếp theo trong sự tiến hóa của hệ thống di động 2G và 3G và trong việc cung cấp các mức chất lượng tương tự như của các mạng có dây hiện tại. 3GPP RAN bắt đầu chuẩn hóa LTE / EPC trong tháng 12 năm 2004.Trong tháng 12 năm 2007 tất cả các chi tiết kỹ thuật chức năng LTE đã được hoàn tất. Bên cạnh đó, việc giao tiếp giữa mạng 3GPP và CDMA cũng được hoàn thành.
Những công việc này hoàn thành vào tháng 12 năm 2008 cho ra phiên bản thứ 8. Yêu cầu của công nghệ LTE Một số yêu cầu then chốt bao gồm: o Hệ thống hỗ trợ tốc độ dữ liệu đỉnh đường xuống 100 Mbps và đường lên 50Mbps trong một băng thông 20MHz hoặc tương đương, giá trị hiệu quả quang phổ là 5 bps/Hz và 2,5 giây/Hz, tương ứng. Sử dụng 2 ăng ten trong UE cho đường xuống và 1 ăng ten trong UE cho đường lên.Thông lượng người sử dụng đường xuống và đường lên mỗi MHz tại điểm 5% của chức năng phân phối tích luỹ (CDF) hơn 2 đến 3 lần phiên bản 6 HSPA.Trần Hoài Trung - 15 - HVTH: Lê Trường An Luận văn thạc sĩ o Thông lượng trung bình đường xuống mỗi MHz hơn 3 đến 4 lần phiên bản 6 HSDPA. Thông lượng trung bình đường lên mỗi MHz lớn hơn 2 đến 3 lần phiên bản 6 HSUPA.
o Hiệu quả sử dụng phổ tăng 3 đến 4 lần phiên bản 6 HSDPA trong đường xuống và 2 đến 3 lần phiên bản 6 HSUPA trong đường lên. o Khả năng di động lên đến 350 km/h. o Tính linh hoạt của phổ, liên tục cùng tồn tại với các công nghệ trước, giảm độ phức tạp và chi phí của toàn bộ hệ thống. Tổng quan kiến trúc công nghệ LTE phiên bản thứ 8 Có nhiều chức năng khác nhau trong một mạng di động.
Kiến trúc được chia thành hai phần: một phần mạng truy cập vô tuyến và một phần mạng lõi. Các chức năng như điều chế, nén tiêu và chuyển giao giữa các mạng truy cập, trong khi một số chức năng khác như tính cước hoặc quản lý di động là một phần của mạng lõi. Trong kiến trúc LTE, mạng truy nhập vô tuyến gọi là E-UTRAN và mạng lõi EPC. Mạng truy nhập vô tuyến (E-UTRAN) Mạng truy cập vô tuyến LTE được gọi là E-UTRAN và một trong các tính năng chính của nó là tất cả các dịch vụ, bao gồm thời gian thực, sẽ được hỗ trợ trên các kênh gói tin được chia sẻ.
Cách tiếp cận này sẽ đạt được tăng hiệu quả quang phổ sẽ giúp nó trở thành một hệ thống có dung lượng cao hơn lớn hơn hệ thống hiện tại UMTS và HSPA. Một hệ quả quan trọng của việc sử dụng truy cập dữ liệu gói cho tất cả các dịch vụ là sự tích hợp tốt hơn giữa tất cả các dịch vụ đa phương tiện, giữa các dịch vụ không dây và cố định. Mục tiêu chính của LTE là giảm thiểu số lượng các thành phần mạng. Vì vậy các nhà phát triển đã lựa chọn một kiến trúc nút duy nhất.
Các trạm cơ sở mới sẽ phức tạp hơn so với các NodeB trong mạng truy cập vô tuyến của hệ thống WCDMA / HSPA và do đó nó được gọi là eNB (Enhanced Node B). Các eNodeB có tất cả các chức năng cần thiết cho mạng truy cập vô tuyến LTE, bao gồm các chức năng liên quan đến HDKH: TS.Trần Hoài Trung - 16 - HVTH: Lê Trường An Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên vô tuyến. Các eNodeB kết nối với 1 hoặc nhiều thành phần quản lý di động (MME). Những MME này được kết nối với nhiều cổng dịch vụ S-GW (chúng có thể nằm cùng vị trí, cùng 1 phần cứng vật lý) với MME.
Giao diện giữa eNodeB và MME được gọi là giao diện S1. Trong trường hợp MME và S-GW không cùng một phần cứng vật lý thì giao diện mặt phẳng điều khiển S1 sẽ kết nối eNodeB và MME, trong khi giao diện mặt phẳng dữ liệu sẽ kết nối eNodeB với S-GW. Trong trường hợp eNodeB kết nối với nhiều MME. Thủ tục báo hiệu ban đầu một eNodeB với một MME là thủ tục thiết lập S1 của phần ứng dụng S1 (S1AP).
Giao diện X2 được sử dụng để kết nối các eNodeB với nhau. Mục đích chính của kết nối này là sử dụng cho việc chuyển giao trong cùng mạng E-UTRAN. Trên thực tế thì không thể kết nối tất cả các eNodeB của mạng thông qua giao diện X2 do hạn chề về tài nguyên truyền dẫn. Điều quan trọng phải hiểu là các eNodeB và các kết nối giữa chúng thuộc phần mạng truy nhập E-UTRAN, còn các thành phần MME, S-GW là các thành phần mạng lõi EPC.1 Kiến trúc mạng truy nhập vô tuyến E-UTRAN HDKH: TS.