Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, áp lực từ hoạt động thâm canh nông nghiệp, gia tăng dân số và sự phát triển của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại khu vực nông thôn đang tác động tiêu cực đến môi trường nước. Nguồn nước mặt và nước ngầm tại nhiều địa phương phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm do việc lạm dụng phân bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật, cùng với nước thải sinh hoạt và chăn nuôi chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường tiếp nhận. Tại Việt Nam, nhiều bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa phổ biến như tả, lỵ, thương hàn và tiêu chảy cấp có mối liên hệ mật thiết với chất lượng nguồn nước và điều kiện vệ sinh môi trường.
Tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhu cầu sử dụng nước phục vụ đời sống hàng ngày của người dân là rất lớn. Tuy nhiên, nguồn nước mặt trên địa bàn có lưu lượng phân bố không đồng đều theo mùa: mùa mưa thường xảy ra ngập úng cục bộ, trong khi mùa khô kéo dài gây cạn kiệt nguồn nước. Hệ thống giếng đào của các hộ dân thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu nước vào những tháng cuối năm âm lịch cho đến khi hồ Gò Miếu tiến hành xả nước phục vụ sản xuất. Thêm vào đó, trên địa bàn xã có hoạt động khai thác mỏ quặng sắt (được triển khai từ năm 2010 tại khu vực xóm Gió và xóm Đặn 2) cùng các hiện tượng nước nhiễm đá vôi, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước ngầm. Nhằm làm rõ hiện trạng cấp nước, mức độ an toàn của nguồn nước và nhu cầu thực tế của cộng đồng, đề tài khóa luận "Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của người dân tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" đã được triển khai.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 nội dung chính:
- Nắm được hiện trạng chất lượng của nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt của người dân tại xã.
- Đề ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường và nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt của người dân tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đề tài đáp ứng các yêu cầu khoa học: thu thập số liệu chính xác, trung thực, khách quan; các điểm lấy mẫu phân tích mang tính khoa học và đại diện cho địa bàn nghiên cứu; kết quả phân tích được đối chiếu chặt chẽ với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; các kiến nghị đề xuất phù hợp với thực tiễn địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nguồn nước sinh hoạt của người dân tại xã Ký Phú.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 16/08/2014 đến ngày 16/12/2014.
- Địa điểm phối hợp thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Ký Phú và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Về mặt khoa học và thực tiễn, đề tài giúp hệ thống hóa phương pháp điều tra hiện trạng tài nguyên nước cấp nông thôn, cung cấp bộ dẫn liệu cụ thể phản ánh thực trạng nguồn nước và nhu cầu cấp nước sạch tại cơ sở, đồng thời làm cơ sở dữ liệu hỗ trợ công tác quy hoạch, xây dựng chính sách cấp nước sạch và bảo vệ môi trường cho chính quyền địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành của Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu, bao gồm:
- Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
- Các văn bản quy phạm kỹ thuật: Thông tư số 01/2015/TT-BTNMT (định mức kinh tế - kỹ thuật quan trắc và dự báo tài nguyên nước); Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT (quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt); Thông tư số 13/2014/TT-BTNMT (quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất); Thông tư số 40/2014/TT-BTNMT (quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất); Thông báo số 1088/VPCP-NN; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường); Nghị định số 80/2014/NĐ-CP (về thoát nước và xử lý nước thải); Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND và Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên về phí, lệ phí tài nguyên nước.
- Quy chuẩn và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước: TCVN 5502:2003 (chất lượng nước cấp sinh hoạt); Quyết định số 1329/2002/BYT/QĐ (tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống); Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT (tiêu chuẩn nước sạch); QCVN 08:2008/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, cột A1); QCVN 09:2008/BTNMT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm); QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT (quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước ăn uống và nước sinh hoạt).
Về cơ sở lý thuyết, đề tài phân loại tác nhân ô nhiễm nguồn nước thành các nhóm:
- Tác nhân hóa học: Kim loại nặng (Hg, Cd, Pb, As, Cu, Zn, Mn) phát sinh từ địa chất, nước thải tiểu thủ công nghiệp và khai khoáng; các nhóm anion dinh dưỡng ($NO_3^-$, $PO_4^{3-}$, $SO_4^{2-}$) gây phú dưỡng hóa; hóa chất bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp.
- Tác nhân sinh học: Nguồn ô nhiễm từ phân, rác và nước thải sinh hoạt mang vi khuẩn chỉ thị Coliform, E.coli, cùng các mầm bệnh nguy hiểm như phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae), vi khuẩn thương hàn (Salmonella typhi), trực khuẩn lỵ (Shigella), động vật nguyên sinh (Etamoeba histolytica, Giardia intestinalis, Balantidium coli), virus đường ruột (viêm gan A, sốt bại liệt) và các loại giun sán.
Phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm được tác giả áp dụng phối hợp:
| Tên phương pháp |
Mô tả nội dung và quy trình thực hiện |
| Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp |
Khai thác các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Ký Phú, số liệu từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ, số liệu quy hoạch từ Đề án xây dựng nông thôn mới xã Ký Phú giai đoạn 2013-2020, các tài liệu bản đồ, số liệu khí tượng thủy văn huyện Đại Từ. |
| Điều tra phỏng vấn xã hội học |
Thiết kế phiếu điều tra gồm 2 phần: thông tin chung hộ gia đình và hiện trạng vệ sinh, nguồn nước, ý kiến đánh giá môi trường. Chọn mẫu phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 60 hộ gia đình trên địa bàn 10 xóm của xã Ký Phú. |
| Khảo sát thực địa và lấy mẫu nước |
Khảo sát thực địa nhằm nhận diện các nguồn thải, đánh giá cảm quan nguồn nước (màu sắc, mùi, vị). Tiến hành lấy 3 mẫu nước sinh hoạt đại diện (thể tích 1,5 lít/mẫu) tại vòi xả sau bể chứa của các hộ gia đình: - Mẫu 1: Hộ ông Bùi Văn Tám (xóm Đặn 3) - nguồn nước giếng đào. - Mẫu 2: Hộ bà Lê Thị Thự (xóm Gió) - nguồn nước giếng khoan. - Mẫu 3: Hộ ông Trần Văn Kha (xóm Gió) - nguồn nước giếng đào. |
| Phân tích phòng thí nghiệm |
Phân tích 5 chỉ tiêu chất lượng nước theo phương pháp tiêu chuẩn: - pH: phân tích theo TCVN 6492:2011. - Asen (As): phân tích theo TCCS/PTHH 01:2014. - Sắt (Fe): phân tích theo TCVN 6177:1996 (trắc phổ dùng thuốc thử). - Tổng chất rắn hòa tan (TS): phân tích theo SMEWW 2540B. - Nhu cầu oxy hóa học (COD): phân tích theo TCVN 4565-88. |
| Xử lý số liệu và so sánh quy chuẩn |
Tổng hợp, phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm và vẽ đồ thị bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word. Đối chiếu các giá trị phân tích với QCVN 08:2008/BTNMT (cột A1) và QCVN 09:2008/BTNMT (đối với chỉ tiêu TS). |
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của vấn đề vệ sinh nguồn nước đối với sức khỏe cộng đồng nông thôn trong bối cảnh các nguồn ô nhiễm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước thải gia tăng. Xác định mục tiêu trọng tâm là đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt, đo lường nhu cầu dùng nước sạch của người dân xã Ký Phú và đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp. Phần mở đầu cũng xác lập các yêu cầu phương pháp luận cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cứ liệu cho công tác quy hoạch tài nguyên môi trường tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tập hợp cơ sở pháp lý gồm 2 bộ luật, 8 thông tư, nghị định và 7 quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về nước sinh hoạt. Tác giả phân tích cơ chế gây hại của các tác nhân kim loại nặng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật đường ruột và tổng hợp các nghiên cứu về nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Về mặt địa bàn, văn bản cung cấp bức tranh thủy văn tỉnh Thái Nguyên với hai trục sông chính là sông Cầu (lưu vực 3.480 $\text{km}^2$, chiều dài qua tỉnh 110 km, lưu lượng 2,28 tỷ $\text{m}^3$/năm) và sông Công (lưu vực 951 $\text{km}^2$, được tích nước tạo thành Hồ Núi Cốc rộng 25 $\text{km}^2$, dung tích 175 triệu $\text{m}^3$ phục vụ tưới tiêu cho 12.000 ha lúa) cùng mạng lưới 395 hồ chứa trên toàn tỉnh. Chương cũng tổng thuật các bệnh lý truyền qua nguồn nước (tả, thương hàn do vi khuẩn Salmonella, lỵ trực khuẩn Shigella, viêm gan A, amip và giun sán) dựa trên thống kê y tế.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Văn bản xác định chi tiết 4 nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Ký Phú.
- Đánh giá nguồn nước và tình hình sử dụng nước sinh hoạt.
- Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt thông qua khảo sát và phân tích phòng thí nghiệm.
- Đề xuất các giải pháp đáp ứng nhu cầu nước sạch.
Chương này chuẩn hóa quy trình điều tra 60 hộ gia đình, quy chuẩn lấy 3 mẫu nước đại diện tại xóm Đặn 3 và xóm Gió với thể tích 1,5 lít mỗi mẫu, đồng thời quy định cụ thể mã hiệu phương pháp thử nghiệm cho 5 thông số hóa lý (pH, As, Fe, TS, COD).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương trình bày toàn diện các kết quả thu thập và khảo sát thực tế:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Ký Phú có diện tích tự nhiên 1.835,47 ha, địa hình đồi núi dốc từ Tây Nam sang Đông Bắc (độ cao từ 80 m đến 500 m). Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế với 946,77 ha (chiếm 61,70% đất nông nghiệp), trong đó có 573,85 ha rừng đặc dụng thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo. Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 22°C, lượng mưa trung bình 2.100 mm/năm (tập trung 90% vào mùa mưa). Xã có 6 con suối dài 15 km và Hồ Gò Miếu (dung tích 5.300 $\text{m}^3$, diện tích mặt nước 39 ha). Dân số năm 2014 là 2.325 nhân khẩu phân bổ ở 10 xóm, dân tộc thiểu số chiếm 4,5%; toàn xã có 4.012 lao động, trong đó 74,8% làm nông nghiệp và chỉ 11,27% qua đào tạo. Hạ tầng thủy lợi có 11 vai đập (chỉ có vai Đá Đen được kiên cố hóa, 10 vai đập tạm phục vụ tưới cho 382 ha) và 59,11 km kênh mương (chỉ cứng hóa 20,12 km, đạt 34%). 100% hộ dân dùng điện lưới; trạm y tế đạt chuẩn quốc gia năm 2007. Toàn xã hoàn toàn chưa có hệ thống cống thoát nước mưa và nước thải riêng biệt, nước thải sinh hoạt xả tràn tự nhiên vào đồng ruộng và khe suối.
- Tình hình sử dụng và chất lượng cảm quan nguồn nước: Kết quả điều tra 60 hộ gia đình cho thấy 70,00% hộ sử dụng nước giếng đào, 26,67% hộ sử dụng giếng khoan, chỉ có 3,33% hộ (2 hộ) sử dụng nước máy do Công ty Nước sạch Tam Đảo cấp nhưng áp lực yếu và thường xuyên mất nước. Đánh giá cảm quan cho thấy 8,33% hộ thấy nước có màu đục hoặc vàng vào mùa mưa; 20,00% hộ ghi nhận nước có mùi tanh hoặc mùi lạ; 5,00% hộ phản ánh nước có vị khác thường do nhiễm đá vôi. Tỷ lệ hộ áp dụng biện pháp lọc nước trước khi dùng là 71,67%, trong khi 28,33% hộ sử dụng trực tiếp không qua lọc.
- Yếu tố gây ô nhiễm và phân tích chất lượng nước: Các nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước gồm có chất thải chăn nuôi, rác sinh hoạt, nước thải chưa xử lý, đường ống kim loại bị rỉ sét và hoạt động của mỏ quặng sắt tại xóm Gió và xóm Đặn 2. Kết quả thử nghiệm 3 mẫu nước sinh hoạt tại xóm Đặn 3 và xóm Gió được phân tích theo 5 chỉ tiêu lý hóa nhằm kiểm chứng tính an toàn của nguồn nước ngầm đang khai thác.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tổng kết các kết luận chính: Nguồn nước sinh hoạt tại xã Ký Phú chủ yếu dựa vào giếng đào và giếng khoan nông; chất lượng nước chịu tác động của điều kiện địa chất (nhiễm sắt, đá vôi), thời tiết mùa vụ và hoạt động dân sinh, khai khoáng. Khóa luận đưa ra các nhóm giải pháp quy hoạch, kỹ thuật và quản lý môi trường nhằm ổn định nguồn cấp nước sạch cho nhân dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng cụ thể cơ cấu sử dụng nguồn nước và thực trạng vệ sinh môi trường thông qua số liệu điều tra thực địa 60 hộ gia đình tại xã Ký Phú:
| Nhóm chỉ tiêu khảo sát |
Phân loại chi tiết |
Số hộ (n=60) |
Tỷ lệ (%) |
| Nguồn nước sinh hoạt chính |
Giếng đào |
42 |
70,00 |
|
Giếng khoan |
16 |
26,67 |
|
Nước máy tập trung |
2 |
3,33 |
|
Nguồn khác (sông, suối, ao hồ) |
0 |
0,00 |
| Đánh giá cảm quan: Màu sắc |
Không có vấn đề |
55 |
91,17 |
|
Có vấn đề (đục, ngả vàng mùa mưa) |
5 |
8,33 |
| Đánh giá cảm quan: Mùi |
Không có vấn đề |
48 |
80,00 |
|
Có vấn đề (mùi tanh, mùi lạ) |
12 |
20,00 |
| Đánh giá cảm quan: Vị |
Không có vấn đề |
57 |
95,00 |
|
Có vấn đề (vị lạ, cặn đá vôi) |
3 |
5,00 |
| Biện pháp xử lý trước khi dùng |
Có sử dụng hệ thống lọc |
43 |
71,67 |
|
Không sử dụng biện pháp lọc |
17 |
28,33 |
Số liệu thực tế chỉ ra rằng nước giếng đào vẫn là nguồn cung cấp chủ đạo (70%), trong khi nước giếng khoan mới được đưa vào khai thác phổ biến từ khoảng năm 2010. Dù phần lớn người dân đánh giá nguồn nước an toàn, vẫn có 20% số hộ phản ánh nước có mùi tanh và 8,33% phản ánh hiện tượng đổi màu vào mùa mưa lũ. Đáng chú ý, có 28,33% số hộ hoàn toàn không xử lý nước trước khi ăn uống, sinh hoạt.
Về kiểm nghiệm chất lượng nước, tác giả đã thiết lập chương trình lấy 3 mẫu nước đại diện tại hộ ông Bùi Văn Tám (xóm Đặn 3, giếng đào), hộ bà Lê Thị Thự (xóm Gió, giếng khoan) và hộ ông Trần Văn Kha (xóm Gió, giếng đào) để đo đạc các thông số pH, As, Fe, TS và COD, đối chiếu với giới hạn của QCVN 08:2008/BTNMT cột A1 và QCVN 09:2008/BTNMT. Kết quả kiểm tra ghi nhận nguồn nước ngầm tầng nông có biểu hiện ảnh hưởng cục bộ bởi hàm lượng sắt, hiện tượng nhiễm đá vôi và biến động chất lượng theo mùa do ngấm nước bề mặt.
Hệ thống giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất:
- Giải pháp công trình và kỹ thuật: Hướng dẫn người dân cải tạo và xây dựng các bể lọc cát, sỏi, than hoạt tính đúng tiêu chuẩn kỹ thuật để xử lý triệt để sắt và cặn lơ lửng trước khi cấp vào bể chứa; thay thế các đoạn đường ống dẫn nước bằng kim loại rỉ sét bằng ống nhựa an toàn; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống cấp nước sạch tập trung từ đơn vị tư nhân để phủ rộng mạng lưới cấp nước trên toàn xã, giảm thiểu sự phụ thuộc vào giếng đào trong mùa khô.
- Giải pháp quy hoạch và quản lý: Chính quyền địa phương cần đầu tư nâng cấp hệ thống cống rãnh thoát nước thải sinh hoạt và nước mưa tách rời, xóa bỏ tình trạng xả thải tự do gây ô nhiễm nguồn nước ngầm; tăng cường kiểm tra, giám sát môi trường đối với hoạt động khai thác mỏ quặng sắt tại xóm Gió và xóm Đặn 2; quản lý việc thu gom, xử lý vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên các cánh đồng.
- Giải pháp tuyên truyền: Nâng cao ý thức cộng đồng trong việc giữ gìn vệ sinh khu vực xung quanh miệng giếng, di dời chuồng trại chăn nuôi ra xa nguồn nước theo đúng khoảng cách quy định.
Đóng góp của tác giả thể hiện ở việc thu thập và phân tích được nguồn dữ liệu điều tra sơ cấp trực tiếp từ các hộ dân, gắn kết hiện trạng môi trường nước với điều kiện thổ nhưỡng, mạng lưới thủy lợi và các nguồn gây tác động đặc thù (mỏ quặng, đá vôi) tại một xã bán sơn địa thuộc huyện Đại Từ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế nhất định phản ánh từ điều kiện nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 4 tháng (từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014), chủ yếu rơi vào giai đoạn chuyển mùa mưa sang mùa khô, chưa theo dõi được chu kỳ biến động thủy văn và chất lượng nước suốt cả năm.
- Quy mô lấy mẫu phân tích phòng thí nghiệm còn hạn chế (3 mẫu nước tại 2 xóm Đặn 3 và xóm Gió) và tập trung vào 5 thông số lý hóa cơ bản (pH, As, Fe, TS, COD). Đề tài chưa thực hiện phân tích định lượng các chỉ tiêu vi sinh vật (như Coliform, E.coli) và các kim loại nặng độc hại khác có khả năng phát tán từ mỏ quặng sắt (như chì, cadimi, mangan).
- Số lượng mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở mức 60 hộ dân trên tổng số hàng nghìn hộ của 10 xóm, do đó mang tính đại diện tương đối cho các điểm dân cư tập trung.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng số lượng điểm lấy mẫu trên toàn bộ 10 xóm, tăng tần suất quan trắc định kỳ theo mùa khô và mùa mưa để đánh giá toàn diện diễn biến chất lượng nước ngầm.
- Bổ sung các chỉ tiêu phân tích chuyên sâu về vi sinh vật học và kim loại nặng độc hại, đặc biệt đánh giá mức độ lan truyền ô nhiễm từ khu vực khai thác quặng sắt xóm Gió và Đặn 2 vào các tầng chứa nước.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc nghiên cứu khoa học liên quan đến đánh giá chất lượng nước sinh hoạt nông thôn.
- Cán bộ quản lý môi trường tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ và UBND xã Ký Phú sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tế phục vụ xây dựng kế hoạch cấp nước nông thôn, tiêu chí số 17 về môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm:
- Phương pháp xây dựng phiếu điều tra khảo sát xã hội học về nhu cầu và cảm quan sử dụng nguồn nước cấp nông hộ.
- Các bảng số liệu chi tiết trích dẫn từ đề án nông thôn mới về hiện trạng sử dụng đất, cơ cấu hệ thống thủy lợi, danh mục 11 vai đập và chiều dài cứng hóa của 59,11 km kênh mương tại 10 xóm của xã Ký Phú.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân xã Ký Phú được phân bổ như thế nào?
Theo kết quả khảo sát 60 hộ gia đình của tác giả vào năm 2014, nguồn nước sinh hoạt của xã tập trung vào 3 nguồn chính: giếng đào chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,00% (42 hộ), giếng khoan chiếm 26,67% (16 hộ), và nguồn nước máy từ Công ty Nước sạch Tam Đảo chỉ chiếm 3,33% (2 hộ). Không có hộ gia đình nào sử dụng trực tiếp nước từ sông, suối, ao hồ cho mục đích sinh hoạt.
2. Tác giả đã lấy mẫu nước tại các địa điểm cụ thể nào và phân tích những chỉ tiêu gì?
Tác giả đã thu thập 3 mẫu nước sinh hoạt (dung tích 1,5 lít/mẫu) lấy từ vòi xả sau bể chứa tại các hộ gia đình:
- Mẫu 1: Giếng đào của hộ ông Bùi Văn Tám tại xóm Đặn 3.
- Mẫu 2: Giếng khoan của hộ bà Lê Thị Thự tại xóm Gió.
- Mẫu 3: Giếng đào của hộ ông Trần Văn Kha tại xóm Gió.
Các mẫu được phân tích trong phòng thí nghiệm với 5 chỉ tiêu: pH (TCVN 6492:2011), Asen (TCCS/PTHH 01:2014), Sắt (TCVN 6177:1996), Tổng chất rắn hòa tan TS (SMEWW 2540B) và COD (TCVN 4565-88).
3. Tỷ lệ xử lý nước trước khi sử dụng của các hộ gia đình tại địa phương đạt mức bao nhiêu?
Kết quả điều tra ghi nhận 71,67% số hộ (43 hộ) có sử dụng hệ thống lọc cát/than hoặc thiết bị lọc trước khi sử dụng, trong khi vẫn còn 28,33% số hộ (17 hộ) sử dụng nước trực tiếp mà không qua bất kỳ khâu xử lý lọc nào. Nguyên nhân xuất phát từ điều kiện kinh tế hộ gia đình hoặc do người dân chủ quan đánh giá nguồn nước ngầm tự nhiên đã đủ sạch.
4. Những yếu tố nào tại địa phương được xác định gây tác động xấu đến chất lượng nước sinh hoạt?
Các yếu tố chính được chỉ ra gồm: hoạt động khai thác mỏ quặng sắt từ năm 2010 tại khu vực xóm Gió và xóm Đặn 2; nguồn nước tự nhiên bị nhiễm đá vôi; việc sử dụng đường ống dẫn nước bằng kim loại bị oxy hóa; nước thải sinh hoạt và chăn nuôi không qua xử lý ngấm vào đất; và tính chất phân bố không đều của khí hậu khiến giếng đào thường xuyên bị cạn nước vào mùa khô và nhiễm bẩn, đục vào mùa mưa lũ.
5. Thực trạng hệ thống hạ tầng thủy lợi và thoát nước tại xã Ký Phú ra sao?
Toàn xã có 11 vai đập dâng nước nhưng chỉ có duy nhất vai Đá Đen được xây dựng kiên cố, 10 vai đập còn lại là đập tạm bằng đất đá phục vụ 382 ha canh tác và thường bị bồi lắng, cuốn trôi sau mưa lũ. Tổng chiều dài kênh mương là 59,11 km nhưng mới chỉ cứng hóa được 20,12 km (đạt 34%). Đáng chú ý, địa phương hoàn toàn chưa có hệ thống cống thoát nước thải sinh hoạt riêng biệt, nước thải sinh hoạt chảy chung với nước mưa và thoát tự do ra các vùng trũng, mương rãnh tự nhiên.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Thắng đã phản ánh đầy đủ hiện trạng cấp nước sinh hoạt tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2014, nơi người dân vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước giếng đào (70%) và giếng khoan (26,67%). Công trình làm rõ những nguy cơ tiềm ẩn về môi trường nước xuất phát từ hiện trạng khai khoáng quặng sắt, nhiễm đá vôi, sự thiếu hụt hạ tầng cống thoát nước thải và tỷ lệ 28,33% hộ dân dùng nước chưa qua xử lý lọc. Các kết quả điều tra và số liệu thử nghiệm là căn cứ thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch hệ thống cấp nước sạch và bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư khu vực nông thôn miền núi.