Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã đông yên huyện quốc oai thành phố hà nội

Đánh giá chi tiết chất lượng nước sinh hoạt tại Đông Yên, Quốc Oai, Hà Nội. Phân tích các chỉ số quan trọng, xác định mức độ an toàn cho người dùng.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận

2019

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng nước sinh hoạt xã Đông Yên Quốc Oai

Nước là tài nguyên thiết yếu, quyết định sự sống và phát triển của mọi cộng đồng. Tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, vấn đề đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt đang nhận được sự quan tâm đặc biệt. Đây là một xã thuần nông, đời sống người dân phụ thuộc lớn vào các nguồn tài nguyên tại chỗ, đặc biệt là nguồn nước ngầm. Một nghiên cứu chuyên sâu về “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” đã được thực hiện để cung cấp bức tranh toàn cảnh về hiện trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp. Nghiên cứu cho thấy, nguồn nước chính phục vụ đời sống người dân là nước ngầm, được khai thác chủ yếu qua các giếng khơi (giếng đào). Đáng chú ý, hầu hết các hộ gia đình sử dụng nguồn nước này một cách trực tiếp, không qua các hệ thống xử lý phức tạp. Việc này đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn và các rủi ro tiềm ẩn đối với sức khỏe. Các hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm trong khu dân cư và việc xả thải chưa qua xử lý được xác định là những nguyên nhân chính có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng mạch nước ngầm. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết kết quả khảo sát, đánh giá các chỉ tiêu hóa lý quan trọng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện và bảo vệ nguồn nước quý giá này cho cộng đồng.

1.1. Nguồn cung cấp nước chủ yếu từ giếng khơi và nước ngầm

Tại xã Đông Yên, 100% hộ dân được khảo sát đều sử dụng nước ngầm cho các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Hình thức khai thác phổ biến nhất là giếng khơi, hay còn gọi là giếng đào, với độ sâu trung bình từ 8 – 15 mét. Toàn xã có khoảng 2100 giếng khơi đang được sử dụng. Nguồn nước này được chứa trong các bể có dung tích lớn, từ 34m³ đến 40m³. Theo báo cáo, nước giếng khơi được dùng cho mọi mục đích: 40,64% cho ăn uống trực tiếp, 38,8% cho tắm giặt và sinh hoạt chung, và 20,56% cho các hoạt động khác. Tuy nhiên, các giếng đào tại địa phương phần lớn chưa đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Thành giếng thấp, khoảng cách từ giếng đến các khu vực chăn nuôi, nhà vệ sinh còn gần, tiềm ẩn nguy cơ cao về ô nhiễm vi sinh và hóa học từ chất thải thấm vào mạch nước.

1.2. Thực trạng các biện pháp xử lý nước tại hộ gia đình

Quá trình khảo sát thực địa cho thấy đa số người dân xã Đông Yên có thói quen sử dụng nước trực tiếp từ giếng mà không qua bất kỳ hệ thống lọc nào. Nguyên nhân chủ yếu đến từ điều kiện kinh tế và niềm tin rằng nguồn nước ngầm tại địa phương còn sạch do cách xa các khu công nghiệp. Chỉ một số ít hộ gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn mới trang bị các thiết bị lọc hiện đại như máy lọc RO hoặc Nano để xử lý nước dùng cho ăn uống. Đáng lo ngại, 65% hộ dân có hoạt động chăn nuôi gia súc ngay trong khuôn viên sinh sống. Việc quy hoạch các khu chăn nuôi này chưa hợp lý, hệ thống xử lý chất thải, nước thải còn sơ sài. Đây là nguồn gây ô nhiễm trực tiếp, làm giảm chất lượng nước sinh hoạt, đặc biệt là nguồn nước ngầm.

II. Cảnh báo các chỉ tiêu chất lượng nước Đông Yên vượt ngưỡng

Để có đánh giá chính xác, nghiên cứu đã tiến hành lấy 16 mẫu nước tại 4 thôn của xã Đông Yên và phân tích các chỉ tiêu quan trọng. Kết quả phân tích được so sánh với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Y Tế (BYT)Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT), bao gồm QCVN 01:2009/BYT (chất lượng nước ăn uống), QCVN 02:2009/BYT (chất lượng nước sinh hoạt) và QCVN 09:2015/BTNMT (chất lượng nước dưới đất). Kết quả tổng thể cho thấy, các chỉ tiêu như pH, TDS (Tổng chất rắn hòa tan) và Độ cứng hầu hết đều nằm trong giới hạn cho phép. Điều này cho thấy nước không có vị lạ, không gây đóng cặn nhiều và tương đối an toàn cho các thiết bị gia dụng. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu kim loại nặng và hợp chất nitơ lại cho thấy dấu hiệu ô nhiễm đáng báo động. Cụ thể, hàm lượng Sắt (Fe), Mangan (Mn)Amoni (NH4+) tại một số điểm lấy mẫu đã vượt ngưỡng quy định. Sự hiện diện của các chất này không chỉ ảnh hưởng đến cảm quan của nước (màu, mùi, vị) mà còn tiềm ẩn những rủi ro lâu dài cho sức khỏe người sử dụng. Nguyên nhân chính được cho là do ảnh hưởng từ địa chất khu vực kết hợp với việc xả thải sinh hoạt và chăn nuôi không được kiểm soát chặt chẽ.

2.1. Nồng độ Sắt Fe và Mangan Mn vượt quy chuẩn cho phép

Phân tích hàm lượng Sắt (Fe) cho thấy có 3/16 mẫu vượt giới hạn của QCVN 01:2009/BYT (0,3 mg/l) đối với nước ăn uống. Các mẫu này thuộc về các hộ gia đình ở thôn Việt Yên, Đông Thượng. Nước nhiễm sắt thường có mùi tanh, màu vàng và gây ố vàng quần áo khi giặt. Tương tự, Mangan (Mn) cũng là một vấn đề. Có 2 mẫu vượt quy chuẩn nước ăn uống (0,3 mg/l) và 1 mẫu vượt quy chuẩn nước dưới đất (QCVN 09:2015/BTNMT là 0,5 mg/l). Nước nhiễm mangan gây ra các lớp cặn đen bám vào thành và đáy bồn chứa. Sử dụng lâu dài nguồn nước có hàm lượng hai kim loại này cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe. Nguyên nhân có thể do đặc điểm địa chất của vùng bán sơn địa.

2.2. Dấu hiệu ô nhiễm Amoni NH4 trong nước ngầm khu vực

Amoni là một chỉ tiêu quan trọng cảnh báo ô nhiễm hữu cơ. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng Amoni (NH4+) trong các mẫu nước không có sự chênh lệch quá lớn, nhưng có một số điểm đáng lo ngại. Mặc dù tất cả các mẫu đều nằm dưới ngưỡng của QCVN 02:2009/BYT (3 mg/l) cho nước sinh hoạt, nhưng có 3 mẫu tại thôn Đông Thượng vượt quá giới hạn của QCVN 09:2015/BTNMT (1 mg/l) đối với nước dưới đất. Mẫu cao nhất ghi nhận được là 2,17 mg/l. Amoni (NH4+) trong nước là dấu hiệu của sự ô nhiễm từ chất thải sinh hoạt, phân bón và hoạt động chăn nuôi. Bản thân amoni không quá độc, nhưng trong cơ thể có thể chuyển hóa thành nitrit và nitrat, là những chất có khả năng gây ung thư và ảnh hưởng đến hệ hô hấp, đặc biệt ở trẻ nhỏ.

III. Phương pháp xử lý nước sinh hoạt nhiễm bẩn tại xã Đông Yên

Từ kết quả đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Đông Yên, việc áp dụng các biện pháp xử lý là vô cùng cần thiết để bảo vệ sức khỏe người dân. Mặc dù chất lượng nước tổng thể ở mức khá tốt, sự tồn tại của các chỉ tiêu vượt ngưỡng như Sắt (Fe), Mangan (Mn)Amoni (NH4+) đòi hỏi phải có giải pháp can thiệp kịp thời. Các giải pháp kỹ thuật cần được ưu tiên, tập trung vào việc xử lý nước ngay tại hộ gia đình. Các giải pháp này cần đáp ứng hai tiêu chí quan trọng: hiệu quả trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm cụ thể và chi phí hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân địa phương. Đề tài nghiên cứu đã đề xuất một số mô hình xử lý đơn giản nhưng hiệu quả, có thể tự xây dựng và vận hành. Bên cạnh đó, việc lựa chọn các thiết bị lọc nước công nghiệp cũng là một phương án cho các hộ gia đình có điều kiện. Quan trọng nhất là nâng cao nhận thức để người dân hiểu rằng, ngay cả khi nước trong về mặt cảm quan, nó vẫn có thể chứa các chất ô nhiễm vô hình gây hại cho sức khỏe. Việc đầu tư cho một hệ thống lọc nước chính là đầu tư cho sức khỏe của cả gia đình trong dài hạn.

3.1. Xây dựng mô hình bể lọc nước thủ công đơn giản hiệu quả

Một giải pháp kỹ thuật khả thi và tiết kiệm chi phí là xây dựng bể lọc nước thủ công. Mô hình này sử dụng các vật liệu lọc tự nhiên, dễ tìm như cát, sỏi và than hoạt tính. Cấu tạo bể lọc thường bao gồm nhiều lớp: lớp sỏi đỡ ở dưới cùng, tiếp đến là các lớp cát thạch anh với kích thước khác nhau, và trên cùng là lớp than hoạt tính. Nước từ giếng khơi sẽ được bơm lên và chảy qua các lớp vật liệu này. Cát và sỏi có tác dụng loại bỏ cặn bẩn, chất lơ lửng. Than hoạt tính có vai trò quan trọng trong việc hấp phụ màu, mùi, và một phần các hợp chất hữu cơ, kim loại nặng như Sắt (Fe)Mangan (Mn). Mô hình này dễ xây dựng, chi phí thấp, và có thể cải thiện đáng kể chất lượng nước sinh hoạt cho các hộ gia đình tại xã Đông Yên.

3.2. Cân nhắc sử dụng các thiết bị lọc nước công nghệ cao

Đối với các hộ gia đình có yêu cầu cao hơn về chất lượng nước ăn uống và có điều kiện kinh tế, việc lắp đặt các máy lọc nước hiện đại là một lựa chọn tối ưu. Các công nghệ phổ biến hiện nay là thẩm thấu ngược (RO) và Nano. Máy lọc RO có khả năng loại bỏ gần như hoàn toàn các tạp chất, vi khuẩn, virus và cả các ion kim loại hòa tan, cho ra sản phẩm nước tinh khiết. Công nghệ Nano giữ lại được một phần khoáng chất tự nhiên trong nước. Việc lựa chọn thiết bị phù hợp cần dựa trên kết quả phân tích nguồn nước đầu vào. Với tình trạng nước tại xã Đông Yên có nhiễm sắt (Fe)mangan (Mn), các hệ thống lọc nên có thêm các lõi lọc chuyên dụng để xử lý kim loại nặng, đảm bảo hiệu quả và độ bền cho màng lọc chính.

IV. Giải pháp quản lý tuyên truyền bảo vệ nguồn nước ngầm

Cải thiện chất lượng nước sinh hoạt tại xã Đông Yên không chỉ dừng lại ở các giải pháp kỹ thuật tại từng hộ gia đình. Vấn đề cần được giải quyết từ gốc rễ thông qua các giải pháp quản lý và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước ngầm được xác định là do hoạt động sinh hoạt và chăn nuôi. Do đó, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể cần đóng vai trò nòng cốt trong việc triển khai các biện pháp tổng thể. Việc quy hoạch lại các khu vực chăn nuôi, xây dựng hệ thống xử lý chất thải tập trung hoặc bán tập trung là yêu cầu cấp bách. Cần có quy định rõ ràng về khoảng cách an toàn giữa giếng khơi, giếng khoan với các nguồn thải tiềm tàng như chuồng trại, nhà vệ sinh. Song song với đó, công tác tuyên truyền, giáo dục phải được thực hiện thường xuyên và sâu rộng. Người dân cần được cung cấp thông tin đầy đủ về các nguy cơ sức khỏe từ việc sử dụng nước ô nhiễm, cũng như các biện pháp đơn giản để bảo vệ nguồn nước chung. Một cộng đồng có ý thức sẽ là nền tảng vững chắc nhất cho việc bảo vệ tài nguyên nước bền vững.

4.1. Quy hoạch khu chăn nuôi và quản lý chất thải sinh hoạt

Để bảo vệ chất lượng nước ngầm tại huyện Quốc Oai nói chung và xã Đông Yên nói riêng, cần có sự can thiệp mạnh mẽ về mặt quản lý. Chính quyền xã cần xây dựng kế hoạch di dời hoặc quy hoạch các khu chăn nuôi gia súc, gia cầm ra xa khu dân cư và đặc biệt là xa nguồn nước. Các hộ chăn nuôi cần được hướng dẫn và hỗ trợ xây dựng hầm biogas hoặc các hệ thống xử lý chất thải đơn giản để giảm thiểu lượng chất ô nhiễm thấm xuống đất. Đối với rác thải sinh hoạt, cần tổ chức thu gom và xử lý tập trung, tránh tình trạng vứt rác bừa bãi ra ao hồ, kênh mương, vốn là nơi có thể làm ô nhiễm nguồn nước mặt và cả nước ngầm.

4.2. Tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng

Giải pháp tuyên truyền và giáo dục giữ vai trò then chốt. Cần tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo tại các thôn để phổ biến kết quả đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của địa phương. Thông tin cần được trình bày một cách đơn giản, trực quan để người dân dễ hiểu về tác hại của sắt (Fe), mangan (Mn), hay amoni (NH4+) đối với sức khỏe. Đồng thời, hướng dẫn họ các biện pháp bảo vệ giếng nước của gia đình như xây thành giếng cao, có nắp đậy, không đổ nước bẩn, rác thải gần khu vực giếng. Việc nâng cao nhận thức sẽ giúp người dân tự giác hơn trong việc bảo vệ nguồn nước chung, từ đó tạo ra sự thay đổi bền vững và lâu dài.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhắc đến “Nƣớc” là nói đến sự khởi nguồn và duy trì sự sống trên Trái Đất. Nƣớc là một nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta, có ảnh hƣởng quyết định đến khí hậu và là nhân tố tạo ra các quá trình khí tƣợng. Trung bình mỗi ngày con ngƣời cần 60-80 lít nƣớc để phục vụ nhu cầu hàng ngày của mình. Nƣớc chiếm tới 99% trọng lƣợng sinh vật sống trong môi trƣờng nƣớc và chiếm 70% trọng lƣợng cơ thể con ngƣời.

Chính vì vậy nƣớc là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển sự sống trên Trái Đất, cần phải trân trọng và bảo vệ nó. Nhƣng với hiện trạng nƣớc đã và đang suy giảm nhƣ hiện nay thì nƣớc sạch đƣợc dự báo sớm trở thành một dạng tài nguyên quý giá. Có rất nhiều nguyên nhân đƣợc đƣa ra xoay quanh vấn đề ô nhiễm này nhƣ hoạt động Công – Nông - Lâm nghiệp xả thải bừa bãi ra ngoài môi trƣờng nhƣng chƣa có giải pháp nào thực sự thích đáng cho vấn đề này. Việt Nam là nƣớc đang phát triển, mặc dù tài nguyên nƣớc là tƣơng đối đa dạng và phong phú, nhƣng lại có sự phân bố không đồng đều về cả không gian và thời gian.

Tình trạng hạn hán, khan hiếm nguồn nƣớc cũng nhƣ hiện tƣợng gây mƣa lũ xả ra phổ biến ở nhiều vùng địa phƣơng. Hơn nữa, dƣới dự tác động của việc bùng nổ dân số, chất thải sinh hoạt, chất thải công – nông – nghiệp và do hành vi của con ngƣời đã khiến cho nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân ngày càng bị ô nhiêm , gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe, đời sống của hàng triệu ngƣời dân ở cả thành thị và nông thôn trên cả nƣớc. Xã Đông Yên là một xã thuần nông thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, là một xã nằm ở phía Tây Hà Nội, đời sống nhân dân vẫn còn gặp khó khăn. Tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với sự đi lên và phát triển của đất nƣớc, Đông Yên đang có nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đời sống ngƣời dân không ngừng đƣợc cải thiện.

Đi kèm với sự phát triển đó, ô nhiễm môi trƣờng đang là vấn đề đƣợc ngƣời dân và chính quyền các cấp ở địa phƣơng rất quan tâm đến, trong đó có ô nhiễm nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân trong khu vực. Tuy nhiên, hiện nay tại xã vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt. Chính vì vậy đề tài đã tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” nhằm góp phần cung cấp cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Một số khái niệm cơ bản 1. Ô nhiễm tài nguyên nước Ô nhiễm tài nguyên nƣớc là hiện tƣợng các vùng nƣớc nhƣ sông, hồ, biển, nƣớc ngầm. bị các hoạt động của con ngƣời làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con ngƣời và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Ô nhiễm tài nguyên nƣớc là sự thay đổi thành phần và chất lƣợng nƣớc không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hƣởng xấu đến đời sống con ngƣời và sinh vật (UNICEF Việt Nam, 2016).

Nƣớc dùng cho sinh hoạt a. Khái niệm - Nƣớc sinh hoạt là nguồn nƣớc đƣợc sử dụng hàng ngày cho nhu cầu sinh hoạt nhƣ tắm, giặt giũ, nấu nƣớng, rửa, vệ sinh…. Thƣờng không sử dụng để ăn, uống trực tiếp. - Nƣớc sinh hoạt đảm bảo (nƣớc sạch) là nƣớc có có tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quôc gia về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT.

Về cơ bản nƣớc đạt các yêu cầu: không màu, không mùi, không vị lạ, không có các thành phần gây ảnh hƣởng đến cho sức khỏe con ngƣời. - Nƣớc ăn uống là loại nƣớc dùng để ăn uống, nƣớc dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm [6]. Các loại nguồn nước sinh hoạt được sử dụng phổ biến nhất hiện nay - Nguồn nƣớc ngầm: Nƣớc ngầm đƣợc khai thác dƣới hai hình thức là : giếng khoan và giếng đào + Nƣớc giếng khoan là nƣớc đƣợc lấy (khoan) từ các mạch nƣớc ngầm sâu trong lòng đất, qua các tầng địa chất. Nƣớc này thƣờng có nhiều nguyên tố khoáng, khó kiểm soát đƣợc chất lƣợng do tùy thuộc vào mạch nƣớc khoan đƣợc + Nƣớc giếng đào: Tƣơng tự nhƣ nƣớc giếng khoan nhƣng thay vì khoan thì đƣợc đào đất lên, thƣờng có độ nông hơn so với nƣớc giếng khoan [6].

- Nguồn nước mưa: 2 Các hộ gia đình hiện nay, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn thƣờng lƣu trữ nƣớc mƣa để sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên nguồn nƣớc mƣa thƣờng có tính axit và hiện nay ô nhiễm môi trƣờng nặng nề dẫn đến chất lƣợng nƣớc mƣa không đảm bảo [6]. - Nguồn nước máy đã qua xử lý của nhà máy nước Nguồn nƣớc này thƣờng đƣợc sử dụng nhiều ở các khu vực thành phố, một số khu vực ngoại thành, tỉnh lẻ. Nƣớc cấp là nƣớc ngầm hoặc nƣớc sông sau đó đi qua hệ thống xử lý nƣớc của các nhà máy thƣờng là lọc thô qua bể lắng, khử sắt sau đó qua khử trùng bằng clo để cung cấp nƣớc cho các hộ dân cƣ.

Nguồn nƣớc máy này thƣờng có kiểm nghiệm về chất lƣợng đạt tiêu chuẩn sinh hoạt của Bộ Y Tế quy định. Tuy nhiên do chất lƣợng nguồn nƣớc cấp quá đặc thù, do sự lỗi thời, xuống cấp của các công nghệ xử lý của nhà máy, quy trình thau rửa, nâng cấp, bảo trì không đảm bảo nên nguồn nƣớc này không có chất lƣợng ổn định. Một số ví dụ điển hình nhƣ nƣớc máy ở các nhà máy khu Mỹ Đình, Hà Đông. Hà Nội bị ngƣng, đình chỉ hoạt động do phát hiện nguồn nƣớc sinh hoạt cung cấp không đảm bảo chất lƣợng (vƣợt chỉ tiêu Asen, Amoni, Mangan, khuẩn…) gây ảnh hƣởng đến sức khỏe, cuộc sống của ngƣời dân các khu vực này [16].Hiện trạng tài nguyên nƣớc ở Việt Nam Theo Chiến lƣợc quốc gia về tài nguyên nƣớc đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính.

Trong số này có 9 sông là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba sông Đồng Nai, sông Cửu Long và bốn nhánh sông là sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông Srê Pok đã tạo nên một lƣu vực trên 10.000km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lƣới sông ngòi Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam có rất nhiều các loại hồ tự nhiên, hồ đập, vực nƣớc có kích thƣớc khác nhau tùy thuộc vào mùa. Một số hồ lớn đƣợc biết đến 3 nhƣ hồ Lắc rộng 10km2 tại tỉnh Đắk Lắk Biển Hồ rộng 2,2km2 Gia Lai, hồ Ba Bể rộng 5km2 tại Bắc Kạn và hồ Tây rộng 4,5km2 tại Hà Nội. Các đầm phá lớn thƣờng gặp ở cửa sông vùng duyên hải miền Trung nhƣ Tam Giang, Cầu Hai và Thị Nại.

Việt Nam còn có hàng ngàn hồ đập nhân tạo với tổng sức chứa lên đến 26 tỷ m3 nƣớc. Sáu hồ lớn nhất có sức chứa trên 1 tỷ m3 đang đƣợc sử dụng để khai thác thủy điện là hồ Hòa Bình, Thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ và Ya Ly. Nhiều hổ và đập nhỏ hơn trên khắp toàn quốc phục vụ tƣới tiêu nhƣ Cấm Sơn - Bắc Giang, Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh và Phú Ninh - Quảng Nam. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, cả nƣớc hiện có hơn 3.500 hồ chứa lớn nhỏ và khoảng 650 hồ chửa cỡ lớn và trung bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm soát lũ lụt, giao thông thủy, thủy lợi và nuôi trồng thủy sản.

Mặc dù tài nguyên nƣớc của Việt Nam có trữ lƣợng dồi dào, nhƣng trên thực tế nguồn nƣớc có thể sử dụng ngay lại có hạn vì phân bố không đều. Nhiều vùng bị thiếu nƣớc sạch để sinh hoạt do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân khác. Chất lƣợng nƣớc cũng bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trƣờng sống và đẩy con ngƣời đến gần các rủi ro nguy hiểm. Ƣớc tính khoảng 37% lƣợng nƣớc mất đi do lãng phí, thậm chí có nơi lên đến 50%.

Nguyên nhân là một phần hệ thống tƣới tiêu của Việt Nam đƣợc xây dựng từ thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trƣớc đến nay đã bị xuống cấp và hƣ hỏng nặng. Trong khi có hệ thống tƣới tiêu hiện tại chi có khả năng cung cấp nƣớc cho khoảng 50 - 60 % theo yêu cầu thiết kế đƣợc tƣới. Trong những năm gần đây, việc quản lý tài nguyên nƣớc ở Việt Nam đƣợc cải thiện đáng kể về mặt pháp lý, cấu trúc thể chế và các cơ chế, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Luật Tài nguyên nƣớc đã đƣợc chính thức ban hành từ năm 1998 và các văn bản hƣớng dẫn pháp quy tiếp theo, đã cung cấp các quy định về quản lý, điều hành, lƣu trữ, khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc trên toàn quốc.

Sự thay đổi về thể chế trong quản lý tài nguyên nƣớc đã khuyến khích đƣợc quá trình phi tập trung hóa, đẩy mạnh sự tham gia 4 rộng rãi của các thành phần ngoài nhà nƣớc trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nƣớc, cung cấp nƣớc sinh hoạt và nƣớc tƣới tiêu để phục vụ các mục đích khác nhau. Gần đây, cách tiếp cận quản lý tài nguyên nƣớc tổng hợp và dựa trên lƣu vực đã đƣợc đẩy mạnh ở Việt Nam. Về nguyên tắc, tài nguyên nƣớc không chỉ đƣợc xem nhƣ “tài sản chung” mà còn là “hàng hóa có giá trị thƣơng mại và kinh tế”. Do đó, Chính phủ đã áp dụng một số cơ chế nhằm tăng cƣờng hiệu quả, hiệu lực quản lý nƣớc ở các khía cạnh khác nhau về chính sách, kỹ thuật thực hiện, năng lực và cơ sở hạ tầng.

Tuy vậy, cho đến nay có rất ít nghiên cứu hoặc đánh giá toàn diện về quản lý tài nguyên nƣớc ở Việt Nam. Chính điều này đã hạn chế nỗ lực phát triển và quảng bá hiểu biết về quản lý nƣớc dựa vào cộng đồng, cũng nhƣ thúc đẩy việc áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn [5]. Vấn đề cấp nƣớc sinh hoạt tại các vùng nông thôn và đô thị ở Việt Nam Đời sống sinh hoạt hằng ngày của con ngƣời sử dụng rất nhiều nƣớc sinh hoạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ