Đặt Vấn Đề Tất cả chúng ta đều biết rằng, nước là một dạng tài nguyên đặc biệt quan trọng,là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, trên khắp thế giới, nhiều người còn chưa có được nước an toàn và đầy đủ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất của họ. Tài nguyên nước đang bị đe doạ bởi các chất thải và ô nhiễm, bởi việc khai thác sử dụng kém hiệu quả, bởi sự thay đổi mục đích sử dụng đất, thay đổi khí hậu toàn cầu và nhiều nhân tố khác… Nước ngọt do nước mưa và mưa tuyết bổ sung là một nguồn hữu hạn của một thế giới có nhu cầu nước đang tăng lên. Nước là nguồn tài nguyên không gì có thể thay thế được, trong khi dân số thế giới gia tăng ngày càng lớn mạnh thì nước tái tạo cho mỗi đầu người sẽ ít hơn.
Nước với tầm quan trọng đặc biệt không thể thiếu của nó trong cuộc sống hàng ngày của con người nên, chính tài nguyên nước ngọt là nguyên nhân dẫn đến những xung đột công khai của các đối tượng dùng nước giữa khu vực đô thị và nông nghiệp như ở California, xung đột quân sự ở Trung Đông… Hơn 200 lưu vực sông hồ nằm trên biên giới giữa hai và nhiều nước và ít nhất có tới 10 con sông chảy qua 6 hoặc nhiều nước. Trong số các nước có nguy cơ bị đe doạ nhất về nước có Aicập, Hà Lan, Cămpuchia, Syri, Sudan và Irắc – tất cả đều dựa vào nguồn nước của nước ngoài, tới hơn 2/3 lượng nước tại tạo được cung cấp của nước họ. Nguồn nước ngọt mặc dù chỉ chiếm 1% lượng nước trên thế giới nhưng nó có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của con ngươì và thế giới tự nhiên. Nguồn nước có vai trò đặc biệt quan trong đối với hầu hết các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội trên mỗi lưu vực.
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước. Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng n 2 dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít).
Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước. Một người nặng 60 kg cần cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của có thể, và duy trì các hoạt động sống bình thường. Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ thống trong cơ thể.
như suy giảm chức năng thận. Những người thường xuyên nuống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, đau đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở thận và túi mật. Khi cơ thể mất trên 10% lượng nước có khả năng gây trụy tim mạch, hạ huyết áp, nhịp tim tăng cao. Nguy hiểm hơn, bạn có thể tử vong nếu lượng nước mất trên 20%”.
Xã Đông Cứu có diện tích 6,66 km² với dân số 7301 người. Dân số gia tăng, sự phát triển kinh tế. khiến nguồn nước sạch của địa phương đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, vì vậy mà việc cung cấp và đảm bảo nước sinh hoạt đặc biệt là nước sạch là vấn đề được lãnh đạo xã quan tâm lo lắng. Trên địa bàn xã tác nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do sự phát triển của các làng nghề.
Lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Nguồn nước chủ yếu mà người dân sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày là từ nước máy, giếng khoan, giếng đào. Do vậy mà, chất lượng nước chưa được đảm bảo an toàn. Vào mùa mưa nước thường hay bị nhiễm vẩn đục và các loại vi khuẩn gây bệnh.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiêm khoa Môi Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Chí Hiểu em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Đông Cứu – Gia Bình – Bắc Ninh ’’. Mục tiêu, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục tiêu của nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát - Để đánh giá chất lượng nước đang sử dụng tại địa phương, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm, qua đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch tại địa phương. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đông Cứu – Gia Bình – Bắc Ninh - Xác định những thuận lợi và khó khăn về việc cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã. - Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã. -Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn.
- Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của địa phương. Yêu cầu của nghiên cứu - Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đông Cứu – Gia Bình – Bắc Ninh. - Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ và khách quan. - Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước chính xác.
- Đề xuất những kiến nghị, đề nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Ý nghĩa của nghiên cứu Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đông Cứu – Gia Bình – Bắc Ninh. - Xác định những khó khăn, tồn tại để đưa ra nhưng giải pháp tốt hơn cho công tác cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nước tại xã. Ý nghĩa trong học tập - Là cơ hội giúp sinh viên biết cách nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao kiến thức thực tế - Bổ sung tư liệu cho học tập - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Một số khái niệm về nước Nước là một tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Không có nước, sự sống trên trái đất không thể tồn tại được nó quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước. Mặt khác nước có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường.
Nước có thể chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo đặc tính tự nhiên hay mục đích sử dụng của con người. Căn cứ vào đặc tính lý hoá của nước, nước có thể chia thành nước mặn, nước ngọt, nước lợ…căn cứ vào dạng tồn tại của nước chia thành dạng lỏng (lỏng), dạng khí (hơi nước), dạng rắn (băng, tuyết). Căn cứ vào nơi tồn tại, nước gồm: nước biển, nước hồ, nước ao… căn cứ vào mục đích sử dụng thì có nước dùng cho sinh hoạt, sản xuất và nuôi trồng thủy sản, thủy điện…Dưới góc độ luật môi trường, nguồn nước được hiểu là “thành phần cơ bản của môi trường, là yếu tố quan trọng hành đầu của sự sống”. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo.
Nước ngầm là nguồn nước nằm dưới bề mặt đất sỏi, và trong những tầng địa chất thấm qua được. Nước sinh hoạt là nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người. Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau: + Nước trong, không màu. + Không có mùi vị lạ, không có tạp chất.
+ Không chứa chất tan có hại. + Không chứa mầm mống gây bệnh [7].2 Khái niệm ô nhiễm nước - Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất nước, có hại cho hoạt động sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều chất lạ vượt quá ngưỡng chịu đựng của sinh vật [9]. n 5 - Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa về ô nhiễm nước như sau:" Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại khi sử dụng cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi - giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại” - Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo: + Nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió, bão, lũ lụt. Ô nhiễm này còn được gọi là ô nhiễm không xác định nguồn gốc.
+ Nguồn gốc nhân tạo: Là sự thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng. Chủ yếu do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân bón trong nông nghiệp. - Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước như ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ.
sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước dưới đất mà không qua xử lí hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối. Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm. Giảm độ PH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO2- và NO3- trong nước. Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32- trong nước ngầm và nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat.
Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường nước cùng nước thải, từ khí quyển và từ các chất thải rắn.