Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn xã tân phú huyện quốc oai thành phố hà nội

Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã Tân Phú, Quốc Oai, Hà Nội. Tìm hiểu thực trạng, ảnh hưởng và đề xuất giải pháp cải thiện.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2019

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Báo động chất lượng nước sinh hoạt tại xã Tân Phú Quốc Oai

Thực trạng chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn xã Tân Phú huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội đang ở mức đáng báo động. Một nghiên cứu khoa học gần đây đã chỉ ra nhiều vấn đề tồn tại trong các nguồn nước người dân sử dụng hàng ngày. Xã Tân Phú, một địa phương thuần nông ven đô, chưa có hệ thống cấp nước sạch Hà Nội tập trung. Điều này buộc người dân phải phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn nước tự khai thác. Các nguồn này tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng của nước bẩn đến sức khỏe. Nghiên cứu được thực hiện bởi Nguyễn Thủy Tuyên (2019) đã tiến hành xét nghiệm nước sinh hoạt trên diện rộng tại 3 thôn Phú Hạng, Yên Quán, và Hạ Hòa. Kết quả cho thấy sự chênh lệch lớn về chất lượng giữa các nguồn nước và sự hiện diện của nhiều chất ô nhiễm vượt ngưỡng. Việc thiếu một công ty cấp nước Quốc Oai cung cấp dịch vụ ổn định đã đẩy người dân vào tình thế phải tự tìm giải pháp, nhưng không phải lúc nào các giải pháp này cũng hiệu quả và an toàn. Tình hình này đòi hỏi sự quan tâm khẩn cấp từ các cơ quan chức năng và một cái nhìn toàn diện về các giải pháp bền vững để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.1. Các nguồn nước sinh hoạt chính người dân đang sử dụng

Tại xã Tân Phú, người dân sử dụng nhiều loại hình nguồn nước khác nhau. Phổ biến nhất là nước giếng khoan, chiếm tới 95% số hộ được khảo sát. Nước giếng khoan được khai thác từ các tầng nước ngầm ở độ sâu 30-60m. Bên cạnh đó, nước mưa vẫn là một nguồn quan trọng, được 48,3% hộ gia đình thu trữ để phục vụ chủ yếu cho mục đích ăn uống. Nước giếng đào, từng là nguồn nước chính, hiện chỉ còn khoảng 10% hộ sử dụng do dễ bị ô nhiễm bề mặt và cạn kiệt vào mùa khô. Một tỷ lệ nhỏ, khoảng 16,7%, đã tiếp cận được nguồn nước máy nhưng chưa phủ rộng. Đáng chú ý, khoảng 60% hộ gia đình sử dụng kết hợp hai nguồn nước: nước mưa để nấu ăn và nước giếng khoan cho các hoạt động sinh hoạt khác như tắm giặt. Sự đa dạng về nguồn nước này phản ánh thực trạng thiếu một hệ thống cấp nước tập trung và an toàn.

1.2. Đánh giá cảm quan Nước có màu vàng và mùi tanh khó chịu

Đánh giá trực quan qua khảo sát 60 hộ gia đình cho thấy những dấu hiệu rõ rệt của ô nhiễm nguồn nước. Cụ thể, có đến 46,6% số người được hỏi cho biết nguồn nước giếng khoan của họ có màu vàng hoặc nâu đỏ. Đồng thời, 36,6% phản ánh nước có mùi tanh khó chịu. Đây là những biểu hiện đặc trưng của tình trạng nước nhiễm phèn và sắt. Khi nước ngầm chứa hàm lượng sắt II (Fe2+) cao tiếp xúc với không khí, nó sẽ bị oxy hóa thành sắt III (Fe3+), tạo ra kết tủa hydroxit sắt có màu nâu đỏ và gây ra mùi tanh. Hiện tượng này không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt (làm ố vàng quần áo, dụng cụ) mà còn là dấu hiệu cảnh báo về các chỉ số hóa học không đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt Bộ Y tế.

II. Rủi ro ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng sức khỏe người dân

Vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại Tân Phú không chỉ dừng lại ở các dấu hiệu cảm quan mà đã được chứng minh bằng các kết quả phân tích khoa học. Các chỉ số chất lượng nước quan trọng như Sắt và Amoni đã vượt ngưỡng cho phép nhiều lần, đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng. Nguyên nhân của tình trạng này khá phức tạp, bao gồm cả yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Hoạt động nông nghiệp chiếm 80% kinh tế hộ gia đình, với 65% hộ có chăn nuôi gia súc, gia cầm trong khuôn viên. Việc xử lý chất thải chưa đảm bảo, kết hợp với lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu, đã làm tăng nguy cơ thẩm thấu các chất ô nhiễm vào tầng nước ngầm. Thêm vào đó, ảnh hưởng từ các làng nghề lân cận cũng góp phần làm suy giảm chất lượng nước. Những ảnh hưởng của nước bẩn đến sức khỏe là không thể xem nhẹ, từ các bệnh về da, tiêu hóa cho đến nguy cơ mắc các bệnh mãn tính nguy hiểm do tích tụ nước nhiễm kim loại nặng.

2.1. Phân tích các chỉ số chất lượng nước vượt ngưỡng cho phép

Kết quả phân tích 22 mẫu nước tại xã Tân Phú đã cho thấy nhiều thông số không đạt QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt). Đặc biệt, hai chỉ tiêu Sắt tổng số và Amoni (NH4+) có hàm lượng rất cao. Một mẫu nước giếng khoan (GK3) có hàm lượng Sắt lên đến 7,36 mg/l, cao gấp 14 lần giới hạn cho phép. Tương tự, chỉ tiêu Amoni có mẫu lên tới 23,7 mg/l, cao gần 8 lần so với quy chuẩn. Amoni trong nước, dù không quá độc, nhưng có thể chuyển hóa thành Nitrit (NO2-) và Nitrat (NO3-), những chất có khả năng gây ung thư và đặc biệt nguy hiểm cho trẻ sơ sinh, gây ra hội chứng "trẻ xanh xao" do thiếu oxy trong máu.

2.2. So sánh các chỉ số pH TDS độ cứng với tiêu chuẩn Bộ Y tế

Bên cạnh Sắt và Amoni, các chỉ số khác như độ pH của nước, chỉ số TDS trong nướcnước cứng cũng được xem xét. Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các chỉ tiêu này đều nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước sinh hoạt Bộ Y tế (QCVN 01:2009/BYTQCVN 02:2009/BYT). Độ pH của các mẫu nước dao động trong khoảng an toàn, không quá axit hay kiềm. Chỉ số TDS (Tổng chất rắn hòa tan) và độ cứng tổng cũng ở mức chấp nhận được. Điều này cho thấy vấn đề ô nhiễm tại Tân Phú mang tính cục bộ, tập trung chủ yếu vào một số kim loại nặng và hợp chất nitơ, thay vì ô nhiễm trên diện rộng tất cả các chỉ tiêu.

III. Phương pháp kiểm định chất lượng nước theo QCVN 01 1 2018 BYT

Để có được đánh giá chính xác về chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn xã Tân Phú, một quy trình nghiên cứu bài bản đã được áp dụng. Công tác kiểm định chất lượng nước tuân thủ các phương pháp tiêu chuẩn, từ khâu khảo sát thực địa, lấy mẫu cho đến phân tích tại phòng thí nghiệm. Quá trình này giúp xác định cụ thể nồng độ các chất ô nhiễm và so sánh chúng với các quy chuẩn hiện hành như QCVN 01-1:2018/BYT. Việc lựa chọn 22 điểm lấy mẫu đại diện cho các loại hình nguồn nước (giếng khoan, giếng đào, nước mưa, nước máy, nước sau lọc) và phân bố trên cả 3 thôn đã đảm bảo tính khách quan và toàn diện cho nghiên cứu. Các phương pháp phân tích hiện đại được sử dụng để định lượng các chỉ tiêu hóa lý quan trọng, cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc về thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại địa phương. Những dữ liệu này là cơ sở không thể thiếu để đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả.

3.1. Quy trình lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm

Quy trình xét nghiệm nước sinh hoạt bắt đầu bằng việc khảo sát và lựa chọn 22 điểm lấy mẫu chiến lược tại 3 thôn. Các mẫu được lấy bằng chai nhựa polietylen sạch, tuân thủ nguyên tắc tránh nhiễm bẩn chéo. Sau khi lấy, mẫu được ghi nhãn cẩn thận và bảo quản đúng cách trước khi vận chuyển về phòng thí nghiệm. Tại đây, các chỉ tiêu được phân tích bằng những phương pháp tiêu chuẩn: độ pH của nước được đo bằng máy điện cực (TCVN 6492-2011), Sắt tổng số được xác định bằng phương pháp trắc quang (TCVN 6177–1996), và Amoni được phân tích bằng thuốc thử Nessler (TCVN 6179-1:1996). Quy trình nghiêm ngặt này đảm bảo độ tin cậy của các số liệu thu được.

3.2. So sánh kết quả với các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành

Các kết quả phân tích được đối chiếu trực tiếp với hai quy chuẩn quan trọng của Bộ Y tế: QCVN 01:2009/BYT (dành cho nước ăn uống) và QCVN 02:2009/BYT (dành cho nước sinh hoạt). Gần đây, QCVN 01-1:2018/BYT đã được ban hành với những quy định chặt chẽ hơn. Việc so sánh cho thấy, trong khi các chỉ tiêu như pH, TDS, độ cứng đa phần đạt yêu cầu, thì Sắt và Amoni trong nhiều mẫu nước giếng khoan lại vượt xa giới hạn cho phép của cả hai quy chuẩn. Điều này khẳng định nguồn nước ngầm tại khu vực không đủ an toàn để sử dụng trực tiếp cho mục đích ăn uống nếu không qua xử lý triệt để.

IV. Top 3 giải pháp xử lý nước giếng khoan ô nhiễm tại Tân Phú

Đối mặt với tình trạng ô nhiễm nguồn nước giếng khoan, người dân xã Tân Phú đã áp dụng nhiều biện pháp xử lý khác nhau. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này có sự chênh lệch đáng kể. Việc lựa chọn giải pháp phù hợp không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt mà còn đảm bảo an toàn sức khỏe lâu dài. Dựa trên kết quả phân tích và thực trạng địa phương, có thể tổng hợp các phương pháp xử lý nước giếng khoan thành ba nhóm chính: giải pháp truyền thống chi phí thấp, giải pháp công nghệ hiện đại và các giải pháp vĩ mô từ chính quyền. Mỗi giải pháp có ưu và nhược điểm riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế và nhận thức của từng hộ gia đình. Việc áp dụng đồng bộ và đúng kỹ thuật sẽ mang lại hiệu quả cao nhất trong việc loại bỏ các tác nhân gây hại như Sắt, Amoni hay nước nhiễm kim loại nặng.

4.1. Bể lọc thô tự xây Giải pháp truyền thống chi phí thấp

Phần lớn các hộ gia đình tại Tân Phú đang sử dụng hệ thống bể lọc thô tự xây để xử lý nước giếng khoan. Mô hình này bao gồm các lớp vật liệu lọc đơn giản như sỏi, cát đen, cát vàng. Nước giếng khoan được bơm lên và chảy qua các lớp vật liệu này trước khi được chứa trong bể để sử dụng. Phương pháp này có ưu điểm là chi phí đầu tư thấp, dễ thực hiện. Nó có thể loại bỏ một phần cặn bẩn và giảm hàm lượng Sắt thông qua quá trình oxy hóa và lắng cặn. Tuy nhiên, hiệu quả xử lý Amoni và các kim loại nặng hòa tan khác của bể lọc thô rất hạn chế. Đồng thời, nếu không được vệ sinh, thay vật liệu lọc định kỳ, bể lọc có thể trở thành nơi tích tụ vi khuẩn, gây ô nhiễm thứ cấp.

4.2. Lắp đặt máy lọc nước gia đình công nghệ RO Nano

Một số gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn đã đầu tư vào máy lọc nước gia đình sử dụng công nghệ hiện đại như thẩm thấu ngược (RO) hoặc Nano. Các thiết bị này cho hiệu quả xử lý vượt trội. Nghiên cứu cho thấy, các mẫu nước sau khi qua hệ thống lọc hiện đại có nồng độ Sắt giảm trung bình 5 lần và Amoni giảm tới 53 lần so với nước giếng khoan đầu vào. Công nghệ RO có thể loại bỏ gần như hoàn toàn các ion kim loại, hóa chất hòa tan, vi khuẩn và virus, cho ra nguồn nước tinh khiết. Đây là giải pháp tối ưu để đảm bảo nước an toàn cho ăn uống trực tiếp. Tuy nhiên, chi phí đầu tư và bảo trì (thay lõi lọc) cao hơn đáng kể so với bể lọc truyền thống.

4.3. Vai trò của công ty cấp nước và chính quyền địa phương

Giải pháp căn cơ và bền vững nhất là việc phát triển mạng lưới cấp nước sạch tập trung do một đơn vị chuyên nghiệp như công ty cấp nước Quốc Oai quản lý. Điều này sẽ đảm bảo tất cả người dân được tiếp cận nguồn nước đã qua kiểm định, đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt Bộ Y tế. Chính quyền địa phương cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác quản lý môi trường, quy hoạch các khu chăn nuôi, xử lý nước thải để ngăn chặn ô nhiễm nguồn nước ngầm từ gốc. Các chương trình tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về tầm quan trọng của nước sạch và các biện pháp bảo vệ nguồn nước cũng là nhiệm vụ cấp thiết.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời sống của con ngƣời và sinh vật trên Trái Đất. Nƣớc chiếm 70% diện tích của Trái Đất nhƣng chỉ có 0.3% tổng lƣợng nƣớc trong số đó là có thể khai thác và dùng làm nƣớc uống.[5] Tuy nhiên loài ngƣời hiện nay đang đứng trƣớc nguy cơ thiếu nƣớc nghiêm trọng , chất lƣợng nguồn nƣớc ngày càng suy giảm do đó đã và đang gây ra những tác hại rất lớn đối với sức khỏe và đời sống con ngƣời. Theo thống kê cho thấy trên thế giới hiện có 80 quốc gia và 40% dân số không đủ nƣớc dùng, 1/3 các điểm dân cƣ phải dùng các nguồn nƣớc ô nhiễm để ăn uống và sinh hoạt , hệ quả là hằng năm có trên 500 triệu ngƣời mắc bệnh , 10 triệu ngƣời ( chủ yếu là trẻ em ) bị chết, riêng bệnh tiêu chảy đã cƣớp đi mạng sống của 2,5 triệu trẻ em mỗi năm. Năm 2008 trong nhận xét bản báo cáo của UNICEF và WHO về “Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu nƣớc uống và vệ sinh ” ông David Agnew, Chủ tịch kiêm tổng giám đốc UNICEF Canada phát biểu nhƣ sau “ Báo cáo này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với cộng đồng thế giới.

Hiện nay chúng ta phải chứng kiến 40% dân số thế giới thiếu nƣớc sạch cho sinh hoạt và điều kiện vệ sinh tối thiểu. Chúng ta mất đi 4000 trẻ em mỗi ngày, đó là một thực trạng đau lòng và bức xúc hiện nay”. Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Hầu hết các thành phố lớn nhƣ Hà Nội và TP.HCM đều bị ô nhiễm.

Theo ƣớc tính của Quỹ Nhi đồng LHQ ( UNICEF ) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chƣa đƣợc sử dụng nƣớc sạch và khoảng 20 triệu (59%) chƣa có nhà tiêu hợp vệ sinh [5]. Hơn nữa dƣới sự tác động của việc bùng nổ dân số, chất thải sinh hoạt, chất thải công- nông nghiệp và do hành vi của con ngƣời đã khiến cho nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân ngày càng bị ô nhiễm, gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe, đời sống của hàng triệu ngƣời dân ở cả thành thị và nông thôn trên cả nƣớc. 1 Nằm phía Đông ngoại thành Hà Nội, Xã Tân Phú- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội, trƣớc đây là một địa phƣơng thuần nông còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên trong những năm còn đây với sự phát triển kinh tế - xã hội đời sống nhân dân cũng không ngừng đƣợc cải thiện.

Đi kèm với sự phát triển ô nhiễm môi trƣờng là một vấn đề rất đƣợc chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng quan tâm, đặc biệt là nguồn nƣớc sinh hoạt. Tuy nhiên hiện nay chƣa có công trình nghiên cứu nào điều tra, đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Tân Phú- Quốc Oai - Hà Nội. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại Xã Tân Phú, đƣợc sự đồng ý của Nhà trƣờng, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trƣờng, dƣới sự hƣớng dẫn của cô Th.S Trần Thị Thanh Thủy em đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng sinh hoạt tại địa bàn xã Tân Phú, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan về nƣớc sinh hoạt 1. Một số khái niệm cơ bản Nƣớc sinh hoạt là nguồn nƣớc đƣợc sử dụng hàng ngày cho nhu cầu sinh hoạt nhƣ tắm, giặt giũ, nấu nƣớng, rửa, vệ sinh. thƣờng không sử dụng để ăn, uống trực tiếp.[14] Nƣớc sinh hoạt đảm bảo (nƣớc sạch) là nƣớc có các tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT. Về cơ bản nƣớc đạt yêu cầu: không màu, không mùi, không vị lạ, không có các thành phần gây ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời.[14] Nƣớc ăn uống: Là loại dùng để ăn uống, dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm.

[14] Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi các thành phần của nƣớc khác biệt với trạng thái ban đầu. đó là sự biến đổi các chất hóa, lý, sinh vật và sự có mặt của chúng trong nƣớc làm cho nƣớc trở nên độc hại. Nư c ngầm Nƣớc ngầm là nguồn nƣớc nằm ở dƣới bề mặt lớp đất sỏi và trong những tầng địa chất thấm qua đƣợc. Nƣớc ngầm là một nguồn rất quan trọng của nƣớc sạch, chiếm 97% lƣợng nƣớc ngọt trên Trái đất.

Khoảng 2 tỉ ngƣời cả ở thành phố và nông thôn đang phụ thuộc vào lƣợng nƣớc này cho những nhu cầu sống hằng ngày. Nhƣng nguồn nƣớc này giờ đây cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều lý do khác nhau. [9] Các nguồn gây ô nhiễm nƣớc ngầm chính là các bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh. Ngoài ra nƣớc thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản đều có khả năng bị rò rỉ và ngấm vào tầng chứa nƣớc ngầm.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối với nguồn nƣớc ngầm. 3 Các quá trình hình thành địa chất tự nhiên là nguồn giải phóng kim loại nặng vào nƣớc ngầm, trong đó phổ biến nhất là ô nhiễm Asen. Việt Nam là nƣớc có nguồn nƣớc ngầm tƣơng đối dồi dào về cả trữ lƣợng và chất lƣợng, đƣợc coi là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên dễ sử dụng nhất. Theo Tổng cục môi trƣờng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng thì ở nƣớc ta nƣớc ngầm chiếm khoảng 35% đến 40% tổng số lƣợng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân.

[6] Nƣớc ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nƣớc đó là cực k quan trọng. Một số biện pháp ngăn chặn cơ bản là tăng cƣờng kiểm soát đối với việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nƣớc hợp vệ sinh. Tuy nhiên cho đến nay ở các nƣớc đang phát triển các biện pháp này đƣợc tiến hành rất chậm chạp, trong khi hệ thống nƣớc ngầm đang ngày càng bị nhiễm bẩn nghiêm trọng.  Nƣớc ngầm đƣợc ngƣời dân sử dụng thông qua hai hình thức là chủ yếu: - Nƣớc giếng khoan Là giếng đƣợc khoan dƣới lòng đất để lấy nƣớc từ nguồn nƣớc ngầm.

Đƣợc khai thác ở tầng nông khoảng 40-60m, tầng sâu khoảng 250m. Nguồn nƣớc này ít bị ảnh hƣởng bởi ngoại cảnh nhƣng hay bị chi phối bởi các cấu trúc địa tầng, khoáng sản. Nguồn nƣớc này ít bị ô nhiễm, chiếm ít diện tích, chi phí vận hành, bảo dƣỡng thấp, đủ nƣớc quanh năm, phù hợp với mọi gia đình. Nhƣng chi phí lắp đặt cao, không phù hợp với một số gia đình có điều kiện khó khăn.

- Nƣớc giếng đào Là giếng khai thác nƣớc ngầm ở tần nông nằm dƣới mặt đất từ 5-18m nguồn nƣớc này có nhiều khoáng chất, nhƣng dễ bị ô nhiễm bởi nƣớc mặt và các yếu tố bên ngoài. Nguồn nƣớc này phù hợp với các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, chi phí vận hành bảo dƣợng thấp, dễ sử dụng có thể gắn với các thiết bị lấy nƣớc nhƣ máy bơm tay, bơm điện.Tuy nhiên không phù hợp với vùng có lũ, dễ bị ô 4 nhiểm do các tác động bên ngoài, không đủ nƣớc vào mùa khô hay khó tìm đƣợc nguồn nƣớc tốt tại một số vùng. Nư c cấp sinh hoạt Nƣớc cấp là nƣớc sau khi đƣợc xử lý tại cơ sở xử lý nƣớc đi qua các trạm cung cấp nƣớc và từ các trạm này nƣớc sẽ đƣợc cung cấp cho ngƣời tiêu dùng. Có 2 nguồn cấp nƣớc chính là nƣớc mặt và nƣớc ngầm, tuy nhiên do nguồn nƣớc sông, nƣớc hồ ngày càng ô nhiễm nên nguồn nƣớc ngầm là nguồn cung cấp chính.

Các biện pháp xử lý nƣớc cấp thông thƣờng nhƣ: – Biện pháp cơ học : Các công trình nhƣ hồ chứa và lắng sơ bộ, song chắn rác , lƣới chắn rác, bể lắng, bể lọc… – Biện pháp hóa học: Sử dụng các hóa chất để keo tụ, tạo bông, oxy hóa mạnh các chất để khử trùng… – Biện pháp lý học: Dùng các tia vật lý để khử trùng nhƣ tia tử ngoại, sóng siêu âm, điện phân, làm thoáng … Tuy nhiên, thông thƣờng để xử lý nƣớc cấp ta thƣờng kết hợp các biện pháp lại với nhau để tăng hiệu quả xử lý và hiệu suất của hệ thống. Nư c mưa Mƣa là một dạng ngƣng tụ của hơi nƣớc khi gặp điều kiện lạnh, khi có quá nhiều giọt nƣớc hình thành ở mây lâu ngày các đám mây càng nặng (do những giọt nƣớc quá nhiều) sẽ rơi xuống tạo thành mƣa. Nƣớc mƣa đƣợc thu hứng từ mái ngói, mái tôn, trần nhà bằng bê tông… và đƣợc dẫn vào trong bể chứa nƣớc mƣa. Loại này đƣợc sử dụng rộng rãi tại nhiều vùng nông thôn, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi và đƣợc coi là rất an toàn.

Tuy nhiên hiện nay vấn đề ô nhiễm không khí đã làm suy giảm chất lƣợng nƣớc mƣa, mặt khác do mùa khô lƣợng mƣa rất ít nên thƣờng không đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng. Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nư c sinh hoạt Chất lƣợng nƣớc sinh hoạt bị ảnh hƣởng do nhiều nguyên nhân khác nhau gồm: Nguyên nhân tự nhiên (thiên tai, lũ lụt,.) nguyên nhân nhân tạo (do các 5 hoạt động sống của con ngƣời gây ra. Tuy nhiên ta có thể liệt kê một số nguyên nhân cơ bản gây ảnh hƣởng đến các hình thức sử dụng nƣớc sinh hoạt nhƣ sau: a) Các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm - Nguyên nhân tự nhiên: Chất lƣợng nƣớc ngầm bị ảnh hƣởng do mƣa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ.

Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nƣớc ngầm. Do sự hòa tan nhiều chất muối khoáng có nồng độ quá cao, trong đó có chất gây ung thƣu nhƣ Arsen, Fluor, kim loại nặng…. Các tác nhân tự nhiên nhƣ nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lƣợng Fe, Mn và một số kim loại khác cũng làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc ngầm. - Nguyên nhân nhân tạo: Do rác thải sinh hoạt từ ngƣời dân ngày càng tăng cao, rác thải không qua xử lý thải trực tiếp ra môi trƣờng.

Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp, sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, kích thích tăng trƣởng, chăn nuôi. Ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, từ khí đốt trong các nhà máy cho đến nguồn nƣớc chất thải chƣa qua xử lý, trực tiếp đƣợc thải ra môi trƣờng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ