MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài nguyên nƣớc là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất. Cùng với tài nguyên đất, tài nguyên nƣớc duy trì sự sống trên Trái đất. Nƣớc là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội trên các vùng lãnh thổ.
Mặt khác, các nguồn thải trong quá trình sản xuất nếu kh ng đƣợc xử lý hợp lý, khi xả thải ra m i trƣờng tự nhiên (trong đó có đất và nƣớc) sẽ gây nhiễm cho m i trƣờng nếu vƣợt quá khả năng chịu tải của nó. Việc sử dụng vùng nƣớc mặt làm nơi tiếp nhận nƣớc thải chƣa qua xử lý hoặc xử lý kh ng triệt để, sẽ gây hậu quả xấu cho hệ sinh thái dƣới nƣớc và cũng làm ảnh hƣởng tới các hình thức sử dụng nƣớc khác nhau. Những năm gần đây, do tốc độ đ thị hóa, c ng nghiệp hóa ngày càng nhanh, nhu cầu khai thác sử dụng nƣớc cho sinh hoạt và sản xuất tăng cao, đã tạo áp lực kh ng nhỏ lên nguồn nƣớc cả về chất và lƣợng. Việc khai thác nƣớc quá mức có thể làm gia tăng tình trạng nhiễm mặn và nhiễm nguồn nƣớc, đặc biệt là tại các vùng ven biển.
Lƣợng mƣa trong mùa kh giảm xuống làm nƣớc trong các s ng, hồ kh ng đủ để hòa tan, pha loãng chất bẩn làm cho sự nhiễm ngày càng nghiêm trọng trên nhiều đoạn sông. Hải Hà là một huyện nằm ở phía đ ng của tỉnh Quảng Ninh. Phía đ ng giáp thị xã Móng Cái, phía tây giáp các huyện Bình Liêu, Đầm Hà, phía nam giáp biển Đ ng, phía bắc giáp Trung Quốc.Tổng lƣợng nƣớc của huyện Hải Hà là 1.000,6 triệu m3; lƣợng nƣớc có thể khai thác, sử dụng là 961,44 triệu m3; lƣợng nƣớc có thể phân bổ là 786,44 triệu m3; Tổng lƣợng nƣớc mặt 935,37 triệu m3, lƣợng nƣớc có thể khai thác sử dụng 918,97 triệu m3 [17]. Sông Hà Cối là một con sông chảy qua huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
Diện tích lƣu vực khoảng 118,4km2. Sông Hà Cối phục vụ cho cấp nƣớc nông nghiệp, công nghiệp, nƣớc sinh hoạt và phát triển giao th ng đƣờng thủy. Hiện tại nhà máy nƣớc Hải Hà sử dụng nguồn nƣớc thô từ sông Hà Cối vận hàng với công suất 1.000 m3/ngày đêm đây là nguồn cấp nƣớc chính phục vụ cấp nƣớc sinh hoạt cho toàn huyện[17]. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nên các khu đ thị, c ng nghiệp đƣợc xây dựng nhiều, nhu cầu sử dụng nƣớc tăng cao và kèm theo các nguồn nƣớc thải xuống s ng đây là nguyên nhân gây nhiễm nƣớc s ng Hà Cối và làm suy giảm chất lƣợng nƣớc trong những năm gần đây hàm lƣợng NO3- gấp 2,75 lần; NO2- gấp 2,15 1 lần; BOD5 gấp 1,1 lần; tổng dầu mỡ 8,1 lần giới hạn cho phép (GHCP) của QCVN 08- MT:2015/BTNMT[21].
Để bảo vệ nguồn nƣớc mặt trên địa bàn của huyện, cần phải có những đánh giá cụ thể về chất lƣợng nƣớc mặt ở đây, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm m i trƣờng nƣớc. Chính vì vậy t i đã tiến hành thực hiện đề tài luận văn: “Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt sông Hà Cối, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2021”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá chất lƣợng m i trƣờng nƣớc mặt s ng Hà Cối. - Đánh giá các yếu tố tác động đến chất lƣợng nƣớc mặt s ng Hà Cối.
- Đề xuất một số biện pháp bảo vệ m i trƣờng nƣớc mặt s ng Hà Cối. Nhiệm vụ nghiên cứu Các nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn nhƣ: 1. Làm sáng rõ hiện trạng về m i trƣờng sông Hà Cối, mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc mặt do tác động của các nguồn thải phát sinh. Xác định nguyên nhân chính là nƣớc thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động dân sinh và nguồn nƣớc mƣa chảy tràn bề mặt.
Đánh giá chất lƣợng nƣớc thông qua chỉ số chất lƣợng m i trƣờng nƣớc (WQI). Dự báo các thông số gây ô nhiễm m i trƣờng và mức ô nhiễm. Phân tích, đánh giá ảnh hƣởng của các nguồn thải tới chất lƣợng nƣớc mặt sông Hà Cối từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ m i trƣờng (BVMT). Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu - Ý nghĩa khoa học Hoàn thiện phƣơng pháp luận trong nghiên cứu đánh giá tài nguyên nƣớc mặt phục vụ cấp nƣớc sinh hoạt và góp phần phát triển kinh tế.
- Ý nghĩa thực tiễn Xác định các yếu tố tác động đến chất lƣợng nƣớc sông Hà Cối, đề xuất sơ bộ các biện pháp quản lý và bảo vệ m i trƣờng nƣớc sông Hà Cối. - Các kết quả nghiên cứu chính. + Đánh giá hiện trạng chất lƣợng m i trƣờng nƣớc mặt s ng Hà Cối th ng qua chỉ số WQI. + Đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn nƣớc mặt s ng Hà Cối.
Những đóng góp mới của đề tài 5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết - Hệ thống hóa những vấn đề chung về đánh giá diễn biến chất lƣợng nƣớc (CLN). Đóng góp một nghiên cứu thực nghiệm chứng minh diễn biến CLN sông Hà Cối đang có dấu hiệu suy giảm. Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến CLN. - Ngoài phƣơng pháp truyền thống, luận văn cũng đã áp dụng phƣơng pháp tính chỉ số CLN Việt Nam theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT 12/11/2019 để đánh giá diễn biến CLN sông Hà Cối và là cơ sở cho các nghiên cứu sau này.2 Đóng góp về mặt thực tế - Kết quả nghiên cứu giúp cho các nghiên cứu sau này, các nhà quản lý hoạch định chính sách có cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về cách thức tiếp cận đối với vấn đề phát triển và BVMT bền vững nƣớc mặt sông Hà Cối.
- Nhận thức đầy đủ rõ ràng hơn về thực trạng CLN tại hồ, tác động của nguồn thải tới CLN sông. Từ đó đề xuất các giải pháp làm cơ sở cho việc quản lý bảo vệ CLN sông hiện nay và trong tƣơng lai. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm sử dụng trong luận văn 1.1 Khái niệm về tài nguyên nước Nƣớc là hợp chất hóa học của oxy và hidro gồm hai nguyên tử hidro và một nguyên tử oxy, có c ng thức hóa học là H2O.
Nƣớc là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là một trong các nhân tố quyết định chất lƣợng m i trƣờng sống. Và nƣớc là tài nguyện tái tạo đƣợc, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái Đất và cần thiết cho mọi hoạt động kinh tế xã hội của con ngƣời. Tài nguyên nƣớc là toàn bộ lƣợng nƣớc có trong các khu vực có nƣớc trên Trái Đất mà con ngƣời có thể sử dụng đƣợc trong cuộc sống hằng ngày, để tồn tại, phát triển, phát triển nền kinh tế xã hội. Tài nguyên nƣớc bao gồm nguồn nƣớc mặt, nƣớc dƣới đất, nƣớc mƣa và nƣớc biển thuộc lãnh thổ của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[13].
Trong đó nguồn nƣớc là khái niệm chỉ các dạng tích tụ nƣớc tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác sử dụng đƣợc, bao gồm: s ng, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nƣớc dƣới đất, mƣa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nƣớc khác. Tùy theo tính chất, đặc điểm, của các nguồn nƣớc cũng nhƣ yêu cầu quản lý, sử dụng chúng vào những mục đích khác nhau, pháp luật phân chia nguồn nƣớc nói chung và các lƣu vực s ng thành từng loại cụ thể nhƣ: - Nƣớc mặt là nƣớc tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo - Nƣớc dƣới đất là nƣớc tồn tại trong các tầng chứa nƣớc dƣới đất. - Nƣớc sinh hoạt là nƣớc sạch hoặc nƣớc có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con ngƣời. - Nƣớc sạch là nƣớc có chất lƣợng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nƣớc sạch của Việt Nam.2 Các khái niệm khác có liên qua đến vấn đề nghiên cứu a.
Ô nhiễm nguồn nước Ô nhiễm nguồn nƣớc là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nƣớc không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật[13]. Khái niệm về chỉ số chất lượng nước: Chỉ số chất lƣợng nƣớc (Watrer Quality Index – WQI) là một chỉ số đƣợc tính toán từ các th ng số quan trắc chất lƣợng nƣớc, dùng để m tả định lƣợng về chất lƣợng nƣớc và khả năng sử dụng của nguồn nƣớc đó, đƣợc biểu diễn qua một thang điểm[6]. Suy thoái nguồn nước Suy thoái nguồn nƣớc là sự suy giảm về số lƣợng, chất lƣợng nguồn nƣớc so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nƣớc đã đƣợc quan trắc trong các thời kỳ trƣớc đó[13]. Cạn kiệt nguồn nước Cạn kiệt nguồn nƣớc là sự suy giảm nghiêm trọng về số lƣợng của nguồn nƣớc, làm cho nguồn nƣớc không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh[13].
Quan trắc môi trường Là việc theo dõi liên tục, định kỳ, đột xuất, có hệ thống về thành phần môi trƣờng, các nhân tố tác động đến m i trƣờng, chất thải nhằm cung cấp th ng tin đánh giá hiện trạng m i trƣờng, diễn biến chất lƣợng m i trƣờng và tác động xấu đến môi trƣờng [13]. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới Theo báo cáo diễn biến m i trƣờng nƣớc ở Việt Nam của Bộ Tài nguyên và môi trƣờng (BTNMT) năm 2004, tổng lƣợng nƣớc trên Thế giới ƣớc tính khoảng 1,328 tỷ km3. Trong đó nƣớc đại dƣơng chiếm 94,4% ; khoảng 2% tồn tại ở dạng băng tuyết ở các cực và 0,6% ở các bể chứa khác. Trên 80% lƣợng băng tồn tại ở Nam cực và chỉ có hơn 10% ở Bắc cực, phần còn lại ở các đỉnh núi hoặc s ng băng.
Lƣợng nƣớc ngọt chúng ta có thể sử dụng ở các s ng, suối, hồ, nƣớc ngầm chỉ khoảng 8.000 km3 (0,6% tổng lƣợng nƣớc) trong đó nƣớc mặt chỉ có 36.000 km3 còn lại là nƣớc ngầm. Tuy nhiên, việc khai thác nguồn nƣớc ngầm để sử dụng hiện nay gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều chi phí. Do vậy nguồn nƣớc mặt đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại[2]. Theo ƣớc tính, đến năm 2030 vẫn còn khoảng 5 tỷ ngƣời (chiếm 67% số dân thế giới) chƣa đƣợc tiếp cận với các điều kiện vệ sinh về nƣớc.