MỞ ĐẦU 70% cơ thể con ngƣời là nƣớc (não chứa 85% nƣớc, xƣơng 22%, cơ bắp 75%, máu 92%, dịch bao tử 95%, răng 10%. Nƣớc là nguồn tài nguyên rất quan trọng đối với sự sống và phát triển của con ngƣời. Tuy nhiên, tài nguyên nƣớc mặt trên Thế giới vô cùng hạn chế. Nƣớc đƣợc dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trƣờng.
Hầu hết các hoạt động trên đều cần nƣớc ngọt. 97% nƣớc trên Trái Đất là nƣớc biển, chỉ 3% còn lại là nƣớc ngọt nhƣng gần hơn 2/3 lƣợng nƣớc này tồn tại ở dạng băng hà tại hai cực và băng tuyết trên các đỉnh núi cao[16]. Phần còn lại không đóng băng đƣợc tìm thấy chủ yếu ở dạng nƣớc ngầm (0,6%), và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí (0,03%). Là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tổng lƣợng mƣa lớn, Việt Nam có nguồn tài nguyên nƣớc mặt phong phú.
Tổng lƣợng dòng chảy trong năm đạt 835,5Km3, lƣợng nƣớc bình quân 9210 m3/nguời/năm, cao hơn so với trung bình thế giới. Tuy nhiên, tài nguyên nƣớc mặt của chúng ta hiện đang chịu tác động mạnh mẽ bởi các hoạt động của con ngƣời dẫn đến cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nƣớc. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, vị thế của tài nguyên nƣớc mặt ngày càng đƣợc nâng cao và coi trọng. Theo chỉ tiêu đánh giá của Hội tài nguyên nƣớc Quốc tế (IWRA), Nghệ An đƣợc xếp vào khu vực đủ nƣớc sử dụng.
Chất lƣợng nƣớc mặt ngày càng trở thành vấn đề quan tâm của các cấp các ngành cũng nhƣ cộng đồng dân cƣ hƣởng lợi từ nguồn tài nguyên này. Hiện tại trên địa bàn tỉnh Nghệ An, công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nƣớc cũng nhƣ khả năng tiếp nhận của các nguồn nƣớc bắt đầu đƣợc tiến hành tại một số huyện. Báo cáo tổng quan về hiện trạng chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An phục vụ công tác quản lý nhà nƣớc, cũng nhƣ cung cấp thông tin đến cộng đồng hiện chƣa đƣợc thực hiện. Từ nhu cầu thực tế đó, tác giả luận văn đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và phân tích diễn biến chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn tỉnh Nghệ An” giai đoạn 2010 -2012 , đề xuất một số giải pháp bảo vệ chất lƣợng nƣớc mặt trên địa bàn.
1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1- TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đánh giá và phân tích diễn biến chất lƣợng nƣớc Hiện trạng môi trƣờng của khu vực hoặc quốc gia là trạng thái môi trƣờng đƣợc thể hiện chủ yếu trên 3 phƣơng diện: hiện trạng môi trƣờng tự nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội tác động lên môi trƣờng và các giải pháp bảo vệ môi trƣờng đã thực hiện. Đánh giá hiện trạng môi trƣờng cung cấp một bức tranh tổng thể về tình trạng của môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên, tác động của các hoạt động của con ngƣời đến tình trạng môi trƣờng cũng nhƣ các mối quan hệ của chúng đến sức khỏe và phúc lợi kinh tế của con ngƣời. Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc là bộ phận của đánh giá hiện trạng môi trƣờng, cung cấp bức tranh tổng thể về hiện trạng môi trƣờng nƣớc và tác động của con ngƣời đến hiện trạng đó; cũng nhƣ các mối quan hệ của chúng đến sức khỏe và phúc lợi kinh tế của con ngƣời; đồng thời phân tích diễn biến chất lƣợng nƣớc.
Tổng quan về môi trƣờng nƣớc mặt 1. Định nghĩa nước mặt Nƣớc mặt là một dạng tài nguyên nƣớc. “ Nƣớc mặt là nƣớc tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo” [2]. Nƣớc mặt là nƣớc trong sông, hồ hoặc nƣớc ngọt trong vùng đất ngập nƣớc.
Nƣớc mặt đƣợc bổ sung một cách tự nhiên bởi nƣớc mƣa và chúng mất đi khi chảy vào đại dƣơng, bốc hơi và thấm xuống đất. Các dạng tồn tại của nước mặt Các dạng tồn tại chủ yếu của nƣớc mặt trên thế giới là: - Nƣớc băng tuyết trên các vùng núi cao và địa cực - Nƣớc hồ - Nƣớc đầm lầy - Nƣớc sông, suối 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trữ lượng nước mặt Trữ lƣợng nƣớc hồ hiện nay vẫn chƣa có số liệu thống kê đầy đủ. Ƣớc tính sơ bộ trên toàn thế giới có 2,8 triệu hồ tự nhiên, trong đó145 hồ có có diện tích mặt nƣớc trên 100 Km2, chiếm 95% tổng khối lƣợng nƣớc, trong đó có 56% là các hồ nƣớc ngọt.
Ngoài ra, trên lục địa còn có trên 10.000 hồ nhân tạo có sức chứa 5000 Km3 (1,78%)nhằm chứa nƣớc phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời[16]. Bảng 1: Đặc trƣng một số hồ nhân tạo lớn trên thế giới[16] Vị trí Dung Diện Tên hồ tích tích Sông Châu, Nƣớc (Km ) (Km2) 3 Oden-fols và Vicloria Nil Châu Phi 205 76000 Bratxk Angara CHLB Nga 169,3 5470 Cariba Zambezi Dămbia và Rodedia Nam 160,4 4450 Naxer Nit Xuđăng, Ai Cập 157,0 5120 Volta Volta Gana 148,0 8480 Ở Việt Nam, hầu hết các hồ chứa đều đƣợc xây dựng cho nhiều mục đích khác nhau nhƣ phòng chống lũ lụt, tƣới tiêu, thủy điện, cấp nƣớc và các mục tiêu quản lý lƣu lƣợng dòng chảy khác. Cả nƣớc có khoảng 3.600 hồ chứa, trong đó chƣa đến 15% là các hồ cỡ vừa và lớn (dung lƣợng trên 1 triệu m3 hoặc có độ cao lớn hơn 10m). Bảng 2: Một số hồ chứa ở Việt Nam[16] Hồ chứa Diện tích lƣu vực Dung tích Diện tích tƣới tiêu Thủy điện (km2) (106.000 - Hồ Cửa Đạt - 1.000 97 Hồ Vực Mấu - 26,4 1524 - Núi Cốc - 175 - - Cấm Sơn - 250 - - Sông Rác - 124,5 - - 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nƣớc đầm lầy ƣớc tính 11.470 km3 với tổng diện tích 2.
Trong đó trên phần lãnh thổ châu Âu là 925 km2 , châu Phi 341 km2 , Bắc Mỹ 180 km2 , Nam Mỹ 1332 km2 và châu Úc 4 km2. Đầm lầy ở nƣớc ta phân bố chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là các đầm lầy ngập không thƣờng xuyên, tập trung ở vùng Đồng Tháp Mƣời, Tứ giác Long Xuyên[17]. Nƣớc sông luôn vận động và tuần hoàn.
Tuy thể tích chứa của các sông ƣớc tính khoảng 1.200 km3 nhƣng tổng lƣợng dòng chảy của sông rất phong phú, lên tới 41.500 km3/ năm, nghĩa là dòng sông tái hồi. Tái hồi trung bình 34,6 lần trong năm. Nhờ vậy khả năng khai thác dòng sông cho các mục đích khác nhau tăng lên đáng kể. Điểm nổi bật là dòng chảy của sông phân bố không đều theo không gian và thời gian.
Bảng 3: Dòng chảy sông theo lục địa Tên lục Diện tích Lƣợng dòng chảy bình quân năm địa (103 km2) Tổng số Bình quân diện tích Bình quân đầu ngƣời (km3) ( 103 m3/ ngƣời) ( 103km3 / ngƣời) Châu Á 44.500 279 9,02 Bảng 4: Tài nguyên nƣớc của các sông chính ở Việt Nam Diện tích lƣu vực Tổng dung lƣợng Lƣu vực Tổng diện tích % tạo ra Tổng Tổng lƣu lƣợng % tạo ra sông ở VN (km2) trong VN (Tỷ m3) tạo ra trong VN trong VN Kỳ Cùng – 11.220 94 8,9 7,3 82 Bằng Giang Hồng – Thái 155.000 8 580 55 11 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó khoảng 2.360 sông có chiều dài lớn hơn 10km. Cả nƣớc có 8 con sông có diện tích lƣu vực lớn, trên 10. Tổng dòng chảy trong năm đạt 835 tỉ m3, mùa khô chỉ chiếm 15% -30% tổng lƣợng dòng chảy cả năm. Chất lượng nước mặt Chất lƣợng nƣớc mặt đƣợc đánh giá qua nồng độ hoặc hàm lƣợng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học có trong nƣớc qua các tiêu chuẩn cho từng mục đích sử dụng.
Thông thƣờng con ngƣời sử dụng nƣớc với 5 mục đích: - Nƣớc cấp sinh hoạt - Nƣớc phục vụ cho nông nghiệp - Nƣớc phục vụ nuôi trồng thủy sane và bảo vệ đời sống hoang dã - Nƣớc phục vụ cho nhu cầu giải trí, thể thao dƣới nƣớc - Nƣớc cấp cho công nghiệp Mỗi mục đích sử dụng cần có tiêu chuẩn và phƣơng pháp đánh giá riêng về mức độ phù hợp cho nhu cầu sử dụng. Chất lƣợng nƣớc sông ở Việt Nam Đặc trƣng nổi bật của chất lƣợng nƣớc sông ở Việt Nam là độ đục khá lớn do hiện tƣợng xói mòn rửa trôi. 80 – 90% tổng lƣợng cát bùn trong năm tập trung vào mùa lũ[16]. Độ đục trung bình năm biến đổi từ 100g/m3 đến 500g/m3.
Hệ thống sông Hồng có độ đục lớn nhất, có khi lên đến 1000g/m3[16]. Hàng năm, các sông ngòi Việt Nam chuyển ra biển 400 -500 triệu tấn cát bùn, riêng sông Hồng khoảng 120 triệu tấn. Độ khoáng hóa của sông Việt Nam vào loại trung bình, khoảng 25 – 250 mg/l. Nƣớc thuộc loại mềm và rất mềm.
Nhiều vùng bị nhiễm mặn, đặc biệt là vào mùa kiệt, điển hình là Đồng bằng sông Cửu Long[16]. Về tổng thể, chất lƣợng nƣớc mặt ở nƣớc ta khá tốt, ít bị ô nhiễm, đáp ứng tiêu chuẩn sử dụng nƣớc. Việc rửa trôi, pha loãng nƣớc sông vào mùa lũ giúp các sông nhanh chóng phục hồi trạng thái, chất lƣợng nƣớc đƣợc đảm bảo. Song không vì thế mà xem nhẹ vấn đề chống ô nhiễm.
Sự tăng trƣởng các ngành công nghiệp, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nông nghiêp đi kèm quá trình đô thị hóa đã gây ô nhiễm môt số đoạn sông và nguy cơ ô nhiễm cao một số sông ngòi đi qua thành phố lớn và các khu công nghiệp. Một số sông có hiện tƣợng ô nhiễm cục bộ do sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, chế biến lâm sản và chất thải sinh hoạt chƣa qua xử lý…Ô nhiễm dầu, hiện tƣợng axit hóa rất phổ biến và mức độ ô nhiễm có xu hƣớng tăng dần về phía hạ lƣu trên sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Ô nhiễm trên các sông chảy qua một số đô thị lớn ( Hải Phòng, Huế, Hạ Long), mức độ ô nhiễm đều vƣợt TCCP loại A. Các sông nội thành Hà Nội đã bị ô nhiễm, đặc biệt là các sông thoát nƣớc thải nhƣ Kim Ngƣu, Tô Lịch…Các sông này không còn khả năng tự làm sạch, chất lƣợng nƣớc không đạt tiêu chuẩn cho phép loại B.
Chất lƣợng nƣớc ao hồ Việt Nam Hệ thống các ao, hồ, kênh rạch ở các thành phố lớn đều có hiện tƣợng ô nhiễm ở các mức độ khác nhau. Các hồ trong nội thành ở các thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế) phần lớn ở tình trạng thái phú dƣỡng. Một số hồ chất lƣợng còn khá sạch (đạt tiêu chuẩn loại B) nhƣ hồ Tây, Đầm Vạc (Vĩnh Phúc) có hàm lƣợng chất hữu cơ cao hơn TCCP loại B. Hồ Thành (Bắc Ninh), hồ Bạch Đằng ( Hải Dƣơng) đang bị ô nhiễm nặng.