Chương 1. Tổng quan và cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng Chương 2. Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật KSAP Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng nhân viên bộ phận Bàn trong các khách sạn 3 sao tại Hà Tĩnh Chương 4.
Kết luận và khuyến nghị 1. Cơ sở lý luận về đánh giá chất lƣợng 1. Chất lượng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chất lượng là một phạm trù rất rộng và phức tạp. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau, có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Từ góc độ nhà sản xuất có thể xem chất lượng là mức độ hoàn thiện của sản phẩm so với các tiêu chuẩn thiết kế được duyệt. Trong nền kinh tế thị trường, khi xem xét chất lượng sản phẩm phải gắn với nhu cầu của người tiêu dùng. Quan điểm đó gọi là quan điểm chất lượng sản phẩm hướng theo khách hàng. Chất lượng sản phẩm chính là mức độ thỏa mãn nhu cầu hay là sự phù hợp với những đòi hỏi của khách hàng.
Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu. Một thực thể dù đáp ứng các tiêu chuẩn về sản phẩm nhưng lại không phù hợp với nhu cầu, không được thị trường chấp nhận thì bị coi là không có chất lượng. Chất lượng được đo bởi mức độ thỏa mãn nhu cầu. Mức độ nhu cầu là cơ sở để đánh giá trình độ chất lượng sản phẩm đạt được.
Một quan điểm về chất lượng sản phẩm khác được tổ chức chất lượng tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đưa ra: “Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của nó, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”. Quan điểm này được chấp nhận khá phổ biến hiện nay. Tuy nhiên chất lượng được đo bằng nhu cầu, mà nhu cầu luôn biến động nên quan điểm về chất lượng luôn biến động theo không gian, thời gian, trong điều kiện sử dụng. Do vậy quan niệm về chất lượng sản phẩm tiếp tục được phát triển và bổ sung.
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Theo cục tiêu chuẩn đo lường nhà nước, chất lượng sản phẩm công nghiệp như sau: “Chất lượng sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người sử dụng nhưng cũng đảm bảo các tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nước” (TCVN, 5814 – 1994). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, quan điểm chất lượng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Mỗi quan điểm có mặt ưu điểm và nhược điểm của nó.
Nhưng nhìn chung, những quan điểm đưa ra ngày càng tạo nên tính hoàn thiện để nhìn nhận chất lượng. Khái niệm “chất lượng” trong luận văn này, được sử dụng là sự phối hợp các quan điểm trên phù hợp với đặc thù nghề nghiệp: vừa đạt những quy chuẩn của nghề du lịch vừa đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Đánh giá Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), đánh giá được hiểu là nhận định giá trị. Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của một sự vật, sự việc nào đó, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
“Đánh giá là quá trình so sánh, đối chiếu thực tế với những tiêu chuẩn đã được định sẵn để rút ra mức độ phù hợp của các bộ phận, các mối liên kết bên trong sự vật với những chuẩn mực, quy định của nó” [3, tr. Đánh giá chất lượng Đánh giá chất lượng là quá trình kiểm tra, rà soát lại hệ thống các giá trị, xem xét sự phù hợp của hệ thống giá trị đó của đối tượng với các tiêu chí cụ thể tương ứng. Đánh giá chất lượng diễn ra với nhiều hình thức, trong đó phổ biến dưới 3 dạng: đánh giá nội bộ hay còn gọi là tự đánh giá, đánh giá từ các bên liên quan, như: khách hàng, đại diện khách hàng và đánh giá của bên thứ ba: một tổ chức bên ngoài, riêng biệt, v. Hiện nay, khi tiến hành đánh giá về chất lượng của một sản phẩm hay về một lĩnh vực nào đó, nhà quản trị thường tiến hành phối kết hợp từ nhiều nguồn đánh giá.
Đánh giá chất lượng nhân viên nghề dịch vụ du lịch Với bản chất của mình, ngoài những đặc trưng của một ngành dịch vụ thì nghề dịch vụ du lịch còn có những đặc trưng riêng. Nếu hàng hóa có đặc trưng là hữu hình thì dịch vụ du lịch phần lớn đều không có hình thái vật chất, không cảm nhận được về sản phẩm trước khi mua. Nếu hàng hóa hữu hình được bảo hộ bởi 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhãn hiệu thì bảo hộ pháp lý cho dịch vụ là rất khó vì thiếu các quy cách và thông số để quản lý một cách cụ thể. Nếu hàng hóa được tiêu chuẩn hóa và chất lượng được kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống kiểm soát đầu ra thì dịch vụ lại không đồng nhất và luôn luôn biến đổi do bản chất của hoạt động cung ứng tạo nên.
Các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những thời điểm làm việc khác nhau. Việc cung cấp dịch vụ và sự thõa mãn nhu cầu của khách hàng phụ thuộc vào hành vi của người cung cấp và khách hàng. Với hầu hết các sản phẩm du lịch, dịch vụ, quá trình sản xuất và tiêu thụ thường xảy ra đồng thời. Nhà cung ứng dịch vụ khách sạn không thể mang toàn bộ dịch vụ của mình đến tận nơi cho du khách.
Dịch vụ không thể tồn kho, cất trữ hay vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác mỗi khi không tiêu thụ được. Vì vậy, hiệu quả dịch vụ phụ thuộc hoàn toàn vào sự giao dịch giữa nhân viên với khách hàng. Khi nói đến Dịch vụ du lịch là nói đến tính thời vụ và sự biến đổi của mô hình nhu cầu. “Chất lượng dịch vụ được đánh giá bởi sự ngẫu nhiên của từng tình huống cụ thể nhiều hơn là giá trị tổng thể.
Chỉ một lỗi nhỏ ở một khâu dịch vụ du lịch cũng có thể làm tổn hại toàn bộ hình ảnh sản phẩm và doanh nghiệp. Khả năng người tiêu dùng chủ yếu dựa trên khía cạnh tình cảm thay vì những lý lẽ logic thực tế về tính năng, công dụng của sản phẩm hàng hóa. Điều này cũng tạo ra sự tương phản, phức tạp về cảm nhận dịch vụ” [24, tr. Từ những đặc trưng của ngành dịch vụ du lịch, để thấy rằng, khi đánh giá chất lượng nhân viên ngành dịch vụ, cần phải hiểu tính chất hoạt động riêng biệt của nó để có những cách nhìn nhận, đánh giá chính xác và hiệu quả.
Dưới góc độ chuyên môn du lịch, nhân viên phục vụ được ví như một sản phẩm du lịch. Con người với những phẩm chất, hành vi, thái độ, khả năng phục vụ sẽ kết tinh lại thành một sản phẩm du lịch mang đầy đủ những tinh hoa văn hóa doanh nghiệp sở tại. Vì vậy, việc đánh giá sản phẩm đặc biệt này phải được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau dựa trên cả chất và lượng. Chất lượng sản phẩm đó vừa có các thông số kỹ thuật là các yêu cầu cơ bản tương ứng vị trí công tác, đồng thời cần có những thông số phi kỹ thuật rất dễ biến đổi trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Bản 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất con người vốn như nhau, hoàn cảnh tạo nên giá trị nhưng chính hoàn cảnh bên ngoài cũng là mối tác động không hề nhỏ dẫn đến sự thành bại trong phạm vi hoạt động của họ. Một sản phẩm được hình thành từ nhu cầu của đối tượng phục vụ, lấy sự hài lòng của khách hàng làm thước đo thì sự đánh giá càng cần phải thận trọng và xem xét một cách tổng thể, bao quát và toàn diện, tránh kết luận phiến diện. Bởi nghề phục vụ dịch vụ du lịch, nhiều khi nhìn vào một bối cảnh không thể kết luận cả một quá trình và nhìn vào một quá trình nhiều khi lại chưa đánh giá được hết năng lực tiềm ẩn của họ. Nếu sự hoàn hảo của một lượt phục vụ khách được đánh giá từ lúc khách rời khỏi nhà đến lúc khách trở lại ngôi nhà của họ, thì chất lượng nhân viên lại được đánh thức ở khả năng truyền cảm xúc đến khách hàng từ lúc có những giao tiếp đầu tiên.
Nó tùy thuộc vào năng lực của từng cá nhân nhân viên. Nói đến năng lực là nói đến trình độ chuyên môn, kỹ năng và thái độ, hành vi của con người đáp ứng yêu cầu công việc cụ thể nào đó, “năng lực là khả năng áp dụng các kỹ năng, kiến thức và thái độ/ hành vi cụ thể cần thiết để đáp ứng các yêu cầu công việc một cách thỏa đáng” [29]. Đây cũng chính là những tiêu chí cần đánh giá khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực du lịch nói chung, chất lượng nhân viên phục vụ bàn nói riêng. Đánh giá chất lượng nhân viên có thể được diễn ra chính thức và không chính thức.
Đánh giá chính thức thường được thực hiện định kỳ, có thể một tháng, một quý hay một năm. Đánh giá không chính thức là các cuộc họp giao ban, sinh hoạt tổ chuyên môn. Đánh giá không chính thức giúp nhân viên rà soát lại những việc đã làm được và những việc chưa làm được, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình hoạt động chuyên môn, đồng thời lên kế hoạch cho thời gian sắp tới. Đối với đánh giá chính thức là cuộc đánh giá tổng thể của mỗi cá nhân trong một kỳ hạn nhất định.
Cuộc đánh giá này sẽ tổng hợp những kết quả đạt được và những công việc chưa hoàn thành của mỗi cá nhân nhân viên. Mục đích của cuộc đánh giá chính thức, có văn bản này nhằm báo cáo thành tích cá nhân, đánh giá năng lực công việc của từng cá nhân cụ thể; giúp doanh nghiệp có cơ sở để hoạch định, tuyển chọn, đào tạo và phát triển nhân sự; giúp nhân viên hiểu được năng lực và cơ hội phát triển của bản thân đến mức độ nào. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.