Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TR*ONG ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN BA VÌ. Khái niệm chung về cảnh quan 1.1 Khái niệm cảnh quan Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống, con ngƣời từ cổ xƣa buộc phải phân biệt các bộ phận thiên nhiên của lãnh thổ mà chúng có sự khác nhau cả về nguồn lợi thiên nhiên và điều kiện tiến hành sản xuất. Có thể nói nền tảng cơ sở của khoa học cảnh quan có từ rất sớm và đi sâu vào đời sống của nhân loại. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX V.Docutraev (1846-1903) - ngƣời đƣợc coi là nhà khoa học đặt nền móng cho học thuyết cảnh quan và là ngƣời đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên tại các địa phƣơng cụ thể.
Ông cho rằng thổ nhƣỡng là hàm số của tất cả các yếu tố địa lý khác: kiểu nham, khí hậu, sinh vật… Theo ông: “phải nghiên cứu thiên nhiên thống nhất, toàn vẹn và không tách rời từng phần”. Tƣ tƣởng này là tiếp nối quan điểm của Alecxăng Humbol (1765-1859), khi đề ra nguyên tắc nghiên cứu tổng hợp các hiện tƣợng tự nhiên, theo ông: “Địa lý học cung cấp lối nhìn chung về những hiện tƣợng trên mặt đất vói sự liên kết phụ thuộc của chúng”. Sau chiến tranh thế giới thứ II, cảnh quan học thực sự phát triển và đƣợc xác định nhƣ một “đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hoá địa đới và phi địa đới” (A.Berg: “cảnh quan địa lý là một hợp phần hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, thực vật và động vật cũng như hoạt động của con người hoà trộn với nhau vào một thể thống nhất hoà hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào đó của Trái đất”. Xolsev đó đƣa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý được gọi là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh, trong đó có sự lặp lại một cách điển hình và có quy luật của một và chỉ một tập hợp liên kết tương hỗ gồm: cấu trúc địa chất, dạng địa hình, nước mặt và nước ngầm, vi khí hậu, các biến chứng đất, các quần xã thực - động vật”.
Ixatsenko trong “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên” năm 1965 đá đƣa ra định nghĩa: “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một phần cảnh quan, một đới cảnh quan hay nói chung của một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự đồng nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đới, có một cấu trúc riêng và cấu tạo hình thái riêng”. Ixatsenko đƣa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: “Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp”. Theo nhà địa lý Việt Nam Vũ Tự Lập, khi nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, Ông đã đƣa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thể được phân hóa trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” (1976). Hiện này trong khoa học địa lý tồn tại 3 quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dung ngƣời ta muốn diễn đạt bao gồm: quan niệm chung; khái niệm loại hình; và khái niệm cá thể.
Chúng đƣợc áp dụng để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau: a. Quan niệm chung: Theo quan niệm này, cảnh quan đồng nghĩa với khái niệm các tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ, các địa tổng thể ở bất kỳ cấp nào và có thể sử dụng cho bất kỳ đơn vị phân loại hoặc đơn vị phân vùng địa lý tự nhiên nào. Quan niệm này coi cảnh quan đƣợc hiểu nhƣ một khái niệm chung đồng nghĩa với khái niệm địa tổng thể các cấp. Ngƣời đƣa ra quan điểm này là F.
Milkov và đƣợc D. Prokaev… tích cực ủng hộ. Quan niệm này thƣờng “chỉ thích hợp nghiên cứu một môi trƣờng tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một loại hình sử dụng đất hay cho việc bố trí sản xuất trên qui mô trang trại hoặc kinh tế hộ gia đình”, (Phạm Hoàng Hải và nnk). Bởi nếu hiểu theo cách này sẽ không phản ánh rõ rệt đƣợc giới hạn về lãnh thổ, không thấy đƣợc trật tự phân cấp logic.
Quan niệm kiểu loại: cho rằng, cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lý tự nhiên trên lãnh thổ. Mỗi cấp phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trƣng và có cấu trúc hình thái riêng và đƣợc sắp xếp theo trình tự thừ thấp lên cao nhƣ sau: Tuy nhiên, theo quan niệm này cần xét đến sự phân hoá của các đơn vị cảnh quan đều chịu ảnh hƣởng của quy luật địa đới và phi địa đới. Quan niệm này thể hiện trong các công trình nghiên cứu của Polƣnov, Markov, Pereman, N. Gvozdexki… và có lợi thế trong nghiên cứu thành lập bản đồ cảnh quan phục vụ mục đích thực tiễn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở tỷ lệ lớn và trung bình, đối với các cảnh quan bị biến đổi bởi các hoạt động của con ngƣời, khi nhiều yếu tố chƣa định lƣợng một cách chắc chắn và cần phải công nhận tính đồng nhất tƣơng đối để có thể gộp chúng vào một nhóm.
Tính đồng nhất tƣơng đối và tính lặp lại đƣợc thể hiện rõ trong hệ thống đơn vị phân loại khi thành lập bản đồ cảnh quan. Quan niệm này sử dụng cho cả cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh. Quan niệm cá thể: Các đại diện cho quan niệm này là N. Grioriev… đã xem cảnh quan là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị địa lý tự nhiên cơ sở, là đối tƣợng cơ bản để nghỉên cứu lãnh thổ.
Mỗi đơn vị địa lý tự nhiên riêng biệt phải có nội dung, chỉ tiêu phân chia rõ ràng, có trật tự phân cấp logic. Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này chia thành hai khuynh hƣớng: - Khuynh hƣớng 1: Coi “Cảnh quan là đơn vị dƣới cấp vùng địa lý tự nhiên”. - Khuynh hƣớng 2: Coi “Cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên thực chất là đồng nghĩa”. Theo khuynh hƣớng này Vũ Tự Lập khi nghiên cứu cảnh quan địa lý Miền Bắc Việt Nam đƣa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một tổng hợp thể đƣợc phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhƣỡng, đại tổ hợp thực vật mà bao gồm tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”.
Quan niệm cảnh quan là một đơn vị phân hóa chung nhƣ một địa hệ tự nhiên bất kỳ nào đó đƣợc sử dụng nhiều không phải trong lĩnh vực cảnh quan học thuần túy, mà ở các lĩnh vực khác, các ngành khác khi có động đến sự phân dị lãnh thổ. Vì vậy, nhiều ngƣời cho cảnh quan đồng nghĩa với các quan điểm phân vùng khác. Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, quan niệm về cảnh quan theo quan niệm chung không có một giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo sự phân cấp (phân hóa nào) vì sử dụng nhƣ một danh từ chung. Do vậy, thƣờng đƣợc dùng cho các công trình chung nghiên cứu môi trƣờng tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một dạng sử dụng rất cụ thể nào đó.
Đối với các nhà nghiên cứu chuyên ngành cảnh quan thì sử dụng hai quan niệm: kiểu loại và cá thể. Trong đó, quan niệm kiểu loại đƣợc dùng phổ biến trong các nghiên cứu cảnh quan. Vì theo quan niệm này, cảnh quan là đơn vị cơ sở, là cấp phân vị - đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ixatsenko, 1965), đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng.
Điều này thể hiện một trong những đặc tính của tập hợp, là đặc tính “nổi bật” chỉ có trong hệ thống các cấp, mà mỗi cấp có tính chất riêng cho sự liên kết tƣơng hỗ của các yếu tố hợp thành. Ở Việt Nam, các nhà khoa học tiếp tục đi sâu vào những hƣớng tiếp cận khoa học tổng hợp nghiên cứu cảnh quan vùng, đồng thời ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó cho các mục đích phát triển, bảo vệ môi trƣờng trên quan điểm phát triển bền vững. Hệ thống phân loại cảnh quan. Hệ thống phân loại cảnh quan là một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ cảnh quan.
Hiện trong cảnh quan vẫn chƣa có hệ thống phân loại thống nhất và đƣợc mọi ngƣời công nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp. Vì vậy, khi nghiên cứu thành lập bản đồ Cảnh quan cho mỗi một khu vực, một lãnh thổ các tác giả thƣờng xác lập một hệ thống phân loại mới dựa trên cơ sở của hệ thống phân loại có từ trƣớc. Tuy nhiên, theo Vũ Tự Lập và một số tác giả khác: mỗi hệ thống phân loại Cảnh quan đƣợc đƣa ra phải đảm bảo theo những nguyên tắc nhất định: - Hệ thống phân loại phải phản ánh đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật phân hoá không gian phổ biến của địa lý quyển, đây là nguyên nhân chính của sự hình thành nên các cấp cảnh quan. - Hệ thống phân loại phải đầy đủ các cấp để có thể áp dụng cho việc thành lập bản đồ Cảnh quan ở mọi tỉ lệ, cho mọi lãnh thổ lớn nhỏ, cho cả miền núi lẫn đồng bằng.
Hệ thống phân loại phải bao quát đầy đủ các cá thể, cũng nhƣ một cá thể có thể xếp vào nhiều bậc. - Hệ thống phân loại phải đƣợc thể hiện rõ ràng bằng một mô hình phản ánh những mối quan hệ giữa các cấp. Tuỳ thuộc vào mức độ phân hoá của lãnh thổ mà lựa chọn hệ thống phân loại cũng nhƣ tập hợp chỉ tiêu phân loại thống nhất.