PHẦN MỞ ĐẦU Bối cảnh của vấn đề nghiên cứu: Trong xã hội hiện nay, giáo dục đang là một vấn đề thiết yếu và đƣợc xem trọng. Nền kinh tế thế giới bƣớc vào giai đoạn kinh tế tri thức. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lƣợng giáo dục, đào tạo là nhân tố sống còn, quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Việc học tập phải xuyên suốt, học tập suốt cả quá trình, suốt cả cuộc đời.
E - learning là giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này. Việc triển khai E - learning trong giáo dục đào tạo đang là một hƣớng đi tất yếu nhằm đƣa giáo dục Việt Nam tiếp cận với nền giáo dục thế giới. Trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta nhiều phƣơng thức dạy học theo E - learning đã đƣợc tổ chức. Tùy theo mục tiêu và mức độ đào tạo mà hình thức tổ chức lớp học cũng khác nhau.
Có nhiều giải pháp đƣợc đƣa ra kết hợp giữa công nghệ và tính sƣ phạm, đƣợc áp dụng rộng rãi ở các nƣớc Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản,… không chỉ đối với học sinh phổ thông mà còn cho nhiều đối tƣợng khác nhau. E-learning là một trong những phƣơng thức học tập giúp học sinh chủ động về thời gian học tập, nội dung học tập, khối lƣợng kiến thức, tự kiểm tra đánh giá, dễ dàng trao đổi thông tin…. Tuy nhiên vấn đề khi tham gia các lớp học E - learning ta phải có sự tƣơng tác tốt giữa ngƣời học và hệ thống, đây cũng là một nhƣợc điểm của hình thức học này. Vậy thì làm thế nào giải quyết vấn đề này? Và các nƣớc trên thế giới đã làm đƣợc chƣa? Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng các lớp học theo hệ thống E - learning là không mới mẻ nhƣng đảm bảo sự tƣơng tác tốt giữa ngƣời học và hệ thống là chƣa có.
Nếu đảm bảo đƣợc sự tƣơng tác qua lại giữa ngƣời học và hệ thống thì chất lƣợng học tập sẽ đƣợc nâng lên. Sự tƣơng tác ở đây có nghĩa là ngƣời học khi tham gia hệ thống học tập, thao tác trên nó đòi hỏi phải có sự phản hồi, điều chỉnh một cách phù hợp từ hệ thống, có thể là những phản hồi mang tính tích cực hoặc phản hồi chƣa mang lại kết quả tốt. Và tất nhiên mong muốn cuối cùng đó là sau khi kết thúc việc học tập học sinh sẽ cảm thấy hứng thú khi tham gia hoạt động học và đem lại kết quả học tập tốt. Tính cấp thiết của đề tài E - learning ra đời mang lại nhiều lợi ích cho việc học tập, tuy nhiên chúng ta không phủ nhận vai trò của các lớp học truyền thống.
Các lớp học E - learning cũng có những hạn chế nhất định, nó làm giảm số lƣợng ngƣời học trong các lớp học truyền thống. Đồng thời nó đòi hỏi khả năng tƣ duy, sự chủ động của ngƣời học. Một vấn đề nữa đặt ra là khi tham gia các lớp học E - learning ta không thể z 8 biết học sinh có tập trung và tham gia vào bài học hay không. Ta không đề cập tới việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy trong các lớp học truyền thống, truyền tải bài học qua nhiều kĩ thuật khác nhau nhƣ Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh và việc đào tạo dựa trên máy tính (Coputer Base Training) (Sun Microsystems, Inc).
và vẫn có giáo viên giảng dạy, nếu vậy vẫn dễ dàng thu thập đƣợc những phản hồi trực tiếp từ ngƣời học, từ đó điều chỉnh cách thức cũng nhƣ phƣơng pháp giảng dạy của giáo viên. Còn đối với hệ thống E - learning điều này trở nên khó khăn. Trong luận văn này, tôi chủ yếu nghiên cứu xây dựng mô hình điều chỉnh nội dung dựa trên phân tích cảm xúc của ngƣời học nhằm cải thiện lƣợng kiến thức mà ngƣời học có thể tiếp thu đƣợc, cải thiện thái độ của ngƣời học, nâng cao chất lƣợng bài giảng. Bố cục của luận văn Trong luận văn sẽ đƣợc thực hiện bởi các phần cơ bản: Chƣơng 1: Nghiên cứu các hệ thống E-learning và các hệ thống linh động theo phản hồi của ngƣời dùng.
Chƣơng 2: Mô hình điều chỉnh nội dung học khi tham gia hệ thống E-learning. Chƣơng 3: Thực nghiệm: Xây dựng phần mềm kiểm tra tính hiệu quả của mô hình điều chỉnh qua việc kiểm tra trực tiếp học sinh. z 9 CHƢƠNG 1: NGHIÊN CỨU CÁC HỆ THỐNG E- LEARNING VÀ CÁC HỆ THỐNG LINH ĐỘNG THEO PHẢN HỒI CỦA NGƢỜI HỌC Sự xuất hiện của E - learning hứa hẹn những đổi mới vƣợt bậc trong hệ thống giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực hiện nay. Đối với ngƣời dạy-giáo viên trực tuyến, khả năng sáng tạo của giảng viên/giáo viên trong các bài giảng đƣợc nâng lên rất nhiều.
Khi tham gia một lớp học truyền thống, luôn luôn đi kèm với những cuộc trao đổi trực tiếp, có âm thanh, lời nói, màu sắc, sự giao tiếp vui vẻ giữa giáo viên và học sinh. Tuy nhiên để thu hút, hấp dẫn ngƣời học và giữ họ ở lại lâu hơn với giờ học của mình không dễ dàng chút nào. Điều này đòi hỏi ngƣời dạy phải thật sự vận dụng khả năng ―làm mới‖ những bài học của mình, mang tính thực tiễn hơn…Vậy E - learning là gì? Chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu sâu hơn về hệ thống E - learning, cùng phân tích và so sánh điểm khác biệt của nó với hình thức học truyền thống. Những đặc điểm nổi bật, những ƣu điểm của hệ thống so với việc học trong lớp học truyền thống.
Ngoài ra, trong chƣơng này tôi cũng tìm hiểu một số lý thuyết phản hồi hai chiều từ hệ thống và ngƣời học, cách thức phản hồi của một số hệ thống. Một số kiến thức cơ sở về E - learning 1.1 Khái niệm hệ thống E-learning Có nhiều quan điểm và các cách hiểu khác nhau về E – learning, chúng ta có thể định nghĩa khái niệm E – learning nhƣ sau: E - learning ( viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới dùng để mô tả việc học tập, đào tạo trên công nghệ thông tin và truyền thông. Với những quan điểm khác nhau về E - learning, chúng cũng sẽ có những đặc điểm khác nhau, cách thức dạy học cũng diễn ra khác nhau, những ƣu nhƣợc điểm khác nhau… E - learning bản chất là một phƣơng pháp dạy học. Nó tồn tại song song và bổ sung cho cách học truyền thống.
Nhìn chung, hệ thống E-learning bao gồm: Hệ thống quản lí học tập (LMS – Learning Management System) giúp xây dựng các lớp học trực tuyến hiệu quả. Theo đó, ngƣời dạy, ngƣời học và ngƣời quản trị hệ thống đều truy cập vào hệ thống này với những mục tiêu khác nhau đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định và việc dạy học diễn ra hiệu quả. Hệ thống quản lí nội dung học tập (LCMS – Learning Content Management System) cho phép tạo và quản lí nội dung học tập. z 10 Công cụ làm bài giảng (authoring tools) một cách sinh động, dễ dùng, và đầy đủ multimedia.
Dƣới đây là mô hình hệ thống E-learning: Hình 1.1 Mô hình hệ thống E – learning 1.2 Một số hình thức E-learning Có một số hình thức đào tạo bằng E - learning, cụ thể nhƣ sau: Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT – Technology-Base Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin. Đào tạo dựa trên máy tính (CBT – Computer Base Training): Hiểu theo nghĩa rộng thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính. Nhƣng thông thƣờng thuật ngữ này đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ này đƣợc hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD- ROM Based Training.
Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web. Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về ngƣời học đƣợc lƣu trữ trên máy chủ và ngƣời dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web. Ngƣời học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e- mail. thậm chí có thể nghe đƣợc giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của ngƣời giao tiếp với mình.
Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử z 11 dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa ngƣời học với nhau và với giáo viên. Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó ngƣời dạy và ngƣời học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm. Ví dụ nhƣ việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web.3 Hoạt động của hệ thống E – learning Hệ thống E – learning hoạt động có hiệu quả dựa trên các yếu tố: nhu cầu của học viên, kết quả dự kiến của khóa học,…Dựa vào những yếu tố này ta có thể đƣa ra một mô hình cấu trúc điển hình E – learning nhƣ sau: Hình 1.2 Mô hình cấu trúc điển hình của hệ thống E – learning Giảng viên (A) cung cấp nội dung khóa học cho phòng xây dựng nội dung (C) dựa trên kết quả học tập dự kiến nhận từ phòng quản lý đào tạo (D). Giảng viên cũng tham gia tƣơng tác với học viên B qua hệ thống quản lý học tập LMS.
Học viên (B) sử dụng cổng thông tin ngƣời dùng để học tập, trao đổi với giảng viên qua hệ thống quản lý học tập LMS và sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập. Phòng quản lý đào tạo (D): Quản lý việc đào tạo qua hệ thống LMS, tập hợp các nhu cầu, nguyện vọng, kiên nghị của học viên để cải thiện nội dung, chƣơng trình giảng dạy, tổ chức lớp học tốt hơn, nâng cao chất lƣợng dạy và học. z 12 Cổng thông tin ngƣời dùng: Giao diện chính cho học viên (B), giảng viên (A) cũng nhƣ các bộ phận (C), (D) truy cập vào hệ thống đào tạo, hỗ trợ truy cập qua internet từ máy tính cá nhân hay từ các thiết bị di động thế hệ mới. Hệ thống quản lý nội dung học tập LCMS: cho phép giảng viên (A) và phòng xây dựn chƣơng trình (C) cùng hợp tác để tạo ra nội dung bài giảng điện tử.
LCMS kết nối với các ngân hàng kiến thức và ngân hàng bài giảng điện tử.