CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu tác động của hoạt động xây dựng thủy điện tại Lào và thế giới 1. Tình hình phát triển thủy điện của nước CHDCND Lào CHDCND Lào là nước duy nhất ở bán đảo Đông Dương không có biển, dân số ít và không có nhiều nhà máy xí nghiệp sản xuất công nghiệp mà phần lớn sản phẩm thu được từ làm nông nghiệp. Tuy nhiên sản phẩm nông nghiệp cũng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và nhiều loại hàng hóa vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Vì vậy, Chính phủ nước CHDCND Lào đã tập trung vào sản xuất nông nghiệp, khuyến khích trồng cây mùa khô và cây trồng quanh năm làm hàng hóa xuất khẩu đồng thời giảm nhập khẩu. Ngoài ra còn khuyến khích du lịch nhằm thu hút ngoại tệ cho đất nước. Với thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước, nên Chính phủ nước CHDCND Lào ưu tiên phát triển thế mạnh đó trong phát triển kinh tế-xã hội, khuyến khích phát triển thủy điện để sản xuất điện phục vụ nhu cầu trong nước và bán cho các nước láng giềng. Hiện nay CHDCND Lào đã vận hành 61 nhà máy thủy điện trên toàn quốc, với tổng công suất lắp đặt là 7.207,24 MW để cung cấp, đáp ứng điện cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Báo cáo tại cuộc họp lần thứ 6, Quốc hội khóa VIII, Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Khammany INTHILATH cho biết, Lào là một nước có tiềm năng lớn về thủy điện, có thể xây dựng nhiều nhà máy, với tổng công suất dự kiến trên 30 nghìn MW, chiếm 90% tổng sản lượng điện có thể sản xuất được tại Lào. Đến nay, Lào đã vận hành 61 nhà máy với tổng công suất lắp đặt là 7.207,24 MW, có thể sản xuất lượng điện khoảng 37,3 nghìn KWh; trong đó, có 32 nhà máy tầm trung trên 15 MW, 21 nhà máy cỡ nhỏ dưới 15 MW, 01 nhà máy nhiệt điện, 05 nhà máy điện năng lượng mặt trời, còn lại từ các nhà máy sản xuất điện khác. Điện được sản xuất 3 z từ các nhà máy này được sử dụng cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; đối với tiêu dùng trong nước, hiện đã cung cấp đến được 100% các tỉnh, thành phố, 90% bản, làng và 94% số hộ gia đình; về xuất khẩu, đã xuất sang 05 nước trong khối ASEAN gồm: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Myanmar.[11] Dự kiến đến năm 2020, Lào sẽ hoàn thành, vận hành thêm 36 nhà máy thủy điện, với tổng công suất lắp đặt là 4.184,10 MW, có thể sản xuất được 20.892,99 KWh/năm, trong đó, có 14 dự án cỡ vừa và lớn từ 15 MW trở lên; 22 dự án cỡ nhỏ dưới 15 MW; hoàn thành việc xây dựng hệ thống dây truyền tải thấp áp 0,4 KV, 22 KV; cao áp loại 115 KV, 230 KV, 500 KV và 68 trạm biến áp trên toàn quốc, để có thể truyền dẫn được 61.918,5 KW; đồng thời, để truyền tải điện theo trục dọc quốc gia, Chính phủ Lào đã ký kết với Trung Quốc về hợp tác phát triển hệ thống đường dây 500 KV vào năm 2019.[11] Ngoài việc sản xuất điện cung cấp cho nhu cầu trong nước, Chính phủ nước CHDCND Lào đã ký kết hợp tác trong việc sản xuất điện để xuất khẩu cho một số quốc gia trong khu vực như 5.000MW xuất bán cho Việt Nam và 7.000MW xuất bán cho Thái Lan trong năm 2020. Bên cạnh những lợi ích mà các dự án thủy điện mang lại như cung cấp điện cho các hộ gia đình, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước và xuất khẩu, thì các dự án thủy điện cũng gây ra một số tác động tiêu cực tới môi trường và xã hội như: phá rừng để lấy đất làm hồ chứa và xây dựng nhà máy, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thức ăn và nơi trú ngụ của động vật rừng, tác động đến môi trường và hệ sinh thái, mất đi không gian văn hóa, nơi ở, nơi làm ăn và sinh kế của người dân vốn dĩ sống dựa vào tự nhiên là chủ yếu.
Nhà máy thủy điện Nam Link 1 nằm trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như Nghị quyết của Đại hội lần thứ IX của Đảng Cách mạng Nhân dân Lào. Nhà máy có công suất lắp đặt 64,7 MW, được đặt trong tỉnh Viêng Chăn. Dự án này được kỳ vọng sẽ đem lại những tác động tích cực, khuyến khích và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở miền Trung của CHDCND Lào thông qua việc sản xuất và cung cấp điện, tạo thêm nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế-xã hội, và trên hết là 4 z đem lại lợi ích cho người dân quanh khu vực dự án như: tạo công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho người dân đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng Dự án, cải tạo cơ sở hạ tầng trong khu vực. Các nghiên cứu tác động của hoạt động xây dựng thủy điện trên thế giới Ở Việt Nam, từ 1985 đến nay hầu hết các công trình xây dựng hồ chứa đã được nghiên cứu môi trường ở mức độ khác nhau.
Một số nghiên cứu điển hình có thể kể đến là: Nghiên cứu các vấn đề môi trường phục vụ ngăn dòng Đồng Nai xây dựng hồ Trị An; Tác động môi trường và kinh tế - xã hội của công trình Thủy điện Trị An [3]; Tác động môi trường và kinh tế - xã hội của công trình Thủy điện Hòa Bình; Tác động môi trường của Dự án hồ Buôn Joong ở Tây Nguyên[2]; Tác động môi trường của Dự án hồ thủy lợi Phước Hòa; Tác động môi trường của công trình Thủy điện Sơn La và nhiều nghiên cứu môi trường cho các công trình thủy điện khác; Đánh giá diễn biến môi trường trong giai đoạn xây dựng Dự án Thủy điện Trung Sơn và đề xuất các biện pháp quản lý [4]. Hội nghị chuyên đề của Liên Hiệp Quốc về “Thủy điện và sự phát triển bền vững”, tổ chức ở Bắc Kinh, Trung Quốc năm 2004 đã nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của sự phát triển thủy điện trong xóa đói, giảm nghèo và giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các hội nghị quốc tế khác như “Hội nghị năng lượng phục hồi”, tổ chức năm 2004 tại Born, Cộng hòa Liên ban Đức, hay Hội nghị Bộ trưởng Châu Phi về “Thủy điện và sự phát triển bền vững”, tổ chức năm 2006 tại Johannessburg được cam kết tăng cường phát triển thủy điện như một phương án năng lượng phục hồi chủ yếu, để thúc đẩy sự phát triển bền vững, hội nhập khu vực, an ninh nước và lương thực, thủ tiêu đói nghèo [8]. Theo Hội đồng Năng lượng Quốc tế (WEC), thủy điện đang đóng góp 20% tổng công suất điện năng trên toàn thế giới, tương đương 2.
Na Uy là nước mà 100% điện năng được sản xuất từ thủy điện. Những nước có thủy điện chiếm hơn 50% cũng rất nhiều, như Iceland (83%), Áo (67%). Canada hiện là nước sản xuất thủy điện lớn nhất thế giới với tổng công suất gần 400 nghìn GWh, đáp ứng hơn 70% nhu cầu nước này. Tiềm năng của nguồn điện xanh này còn rất lớn, 5 z bởi WEC đã ước tính, trên toàn cầu, công suất thủy điện có thể đạt đến 14.
Phần lớn các nghiên cứu môi trường đã có lĩnh vực thủy điện đều tập trung vào các vấn đề ảnh hưởng và tác động ở phạm vi rộng, thời gian lâu dài mang tầm chiến lược như: ngập lụt và xói lở bờ sông do thay đổi chế độ thủy văn và vận hành xả nước từ hồ chứa; hạn hán và suy giảm chấ lượng nước hạ lưu; suy giảm dòng chảy bùn cát, phù sa dẫn tới giảm độ màu mỡ cho đất nông nghiệp ở hạ lưu; mất rừng phòng hộ đầu nguồn và suy giảm đa dạng sinh học; các vấn đề liên quan đến đền bù, an sinh xã hội do tái định cư; hạn hán, sa mạc hóa và nhiễm mặn hạ du; các sự cố môi trường và biến đổi khí hậu. Trong khi đó các ảnh hưởng, tác động trực tiếp tới môi trường ở ngay khu vực dự án trong những giai đoạn cụ thể chưa được chú trọng trong nghiên cứu, phân tích. Các vấn đề môi trường được phân tích đánh giá trong báo cáo ĐTM giai đoạn xây dựng các dự án thủy điện cũng chỉ tập trung vào một số yếu tố cơ bản của môi trường như: ồn, bụi, chất lượng môi trường không khí, đất, nước. Đề cập rất ít, thậm chí là không hoặc sơ sài đối với những vấn đề môi trường quan trọng khác như cảnh quan, bồi lắng, xói lở, sự tập trung số lượng lớn công nhân, đặc biệt đối với những vấn đề đặc thù như xây dựng các bãi chứa đất đá thải từ hoạt động các công trình xây dựng.
Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu tác động của các dự án thủy điện, mặt khác trước khi khởi công xây dựng các dự án thủy điện, việc xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường và phê duyệt báo cáo này đã được thực hiện nhưng các đánh giá tác động đến môi trường của dự án mới chỉ dừng lại ở góc độ dự báo, lý thuyết và phần nhiều thiếu tính thực tiễn. Các công trình này nói chung chưa nêu ra được những tác động môi trường điển hình, mang tính đại diện của quá trình xây dựng dự án thủy điện. Vì vậy cần phải tìm hiểu rõ những tác động cụ thể của giai đoạn xây dựng để từ đó có thể đưa ra những biện pháp thích hợp, nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực. Dự án Thủy điện Trung Sơn đã xây dựng Báo cáo đánh giá tác động môi trường theo hướng dẫn của Luật BVMT 2005 và các quy định 6 z dưới luật và được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt năm 2008.
Nhưng cũng nằm trong bối cảnh chung như những nghiên cứu nêu trên. Nhìn chung còn thiếu các thông tin liên quan đến giám sát môi trường sau thẩm định và kế hoạch quản lý môi trường chi tiết, thiếu kiến nghị về môi trường xã hội bổ sung và những vấn đề cần phải được tiến hành trên thiết kế kỹ thuật của dự án. Các ảnh hưởng và tác động môi trường của dự án trong giai đoạn xây dựng công trình chưa được nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ và chi tiết. Các nghiên cứu trên chưa có nghiên cứu nào đánh giá được sự tuân thủ công tác quản lý môi trường trong giai đoạn thi công của dự án thủy điện và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong giai đoạn xây dựng dự án thủy điện.