MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Đề phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành khai thác nguồn tài nguyên sẵn có mà thiên nhiên ban tặng. Nguồn tài nguyên, trong đó có tài nguyên khoáng sản của một quốc gia có thê là nguồn lực to lớn cho tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo của đất nước. Điều đó đòi hỏi phải cấu trúc được mối liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực liên quan của các hoạt động phát triển kinh tế và đánh giá tác động môi trường một cách khách quan nhằm ngăn ngừa, phòng tránh gây nên các thảm họa lên các lĩnh vực khác trong hệ thống kinh tế-xã hội-môi trường.
Tuy nhiên với hệ thống quản lý yếu kém sẽ dẫn đến nguồn tài nguyên này lại là nguyên nhân của nghèo đói, tham nhũng và xung đột trong xã hội rất khó thương lượng và giải quyết. Tác động môi trường của hoạt động khai khoáng và chế biến khoáng sản rất đa dạng, bao gồm xói mòn, sụt đất, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Trong một số trường hợp, rừng ở vùng lân cận còn bị chặt phá để lay chỗ cho việc xây dựng dự án và chứa chất thải. Bên cạnh việc hủy hoại môi trường, ô nhiễm đo hóa chất cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân địa phương, ở những vùng hoang vu, khai khoáng có thê gây hủy hoại hoặc nhiễu loạn hệ sinh thái và sinh cảnh.
Còn ở nơi canh tác thì hủy hoại đất trồng cây và đồng cỏ. Trong các loại tài nguyên khoáng sản có giá trị, vàng là một kim loại quý, có giá trị thấm mỹ và kinh tế cao. Cộng hòa Dân chủ Lào là một quốc gia đang phát triển, việc khai thác các mỏ vàng lớn sẽ tạo ra nguồn cung cấp ngân sách quan trọng để Chính phủ Lào sử dụng cho các mục tiêu về xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đi đôi với lợi ích khai thác vàng đem lại, việc khai thác vàng tại mỏ lại gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân sinh sống xung quanh dự án.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tác giả đã xin định hướng, hướng dẫn từ giáo viên hướng dẫn (TS. Hoàng Anh Lê, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) và lựa chọn chủ đề đề tài luận văn tốt nghiệp “Đánh giá ảnh hưởng môi trường của hoạt động khai thác mỏ vàng Sepon, huyện Vilabouly, tỉnh Savannakhet, Lào”. Mục tiêu của đề tài: - Bước đầu đánh giá được ảnh hưởng của các hoạt động khai thác mỏ tới môi trường và chất lượng sống của cộng đồng khu vực xung quanh mỏ vàng Sepon. - Đề xuất được các giải pháp nhằm giảm thiểu tối đa các ảnh hưởng nêu trên của hoạt đông khai thác mỏ váng Sepon tới chất lượng môi trường khu vực.
TONG QUAN TAI LIEU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu, khai thác vàng trên thế giới và tại Lào 1.Tình hình nghiên cứu, khai thác vàng thế giới Vàng (Au) được xem là kim loại quý hiểm với hàm lượng trung bình của nó khoang 4 x 10° ppm trong vỏ trái đất [12]. Trong tự nhiên vàng tồn tại hầu hết ở dạng nguyên tố và ở dạng hợp kim với một số kim loại như Ag, Cu, Te và Sb. Ở dạng tự sinh, vàng có thé ton tai ở trạng thái hạt có kích thước rất nhỏ, có khi kích thước rất nhỏ (cỡ micromet) mà mắt thường không nhìn thấy được.
Những hạt vàng phân bố khá đều trong quặng hoặc tỉnh quặng như trong mạch thạch anh, quặng antimon, pyrit, asenopyrit [12]. Theo Báo cáo của Công ty dịch vụ khoáng sản mỏ vàng (GEMS) cho thấy sản lượng khai thác vàng toàn cầu năm 2017 là 3,247 tắn; giảm 5 tấn so với năm 2016. Nam Phi đã từng là nơi khai thác vàng lớn nhất thế giới, sản lượng khai thác khoảng 1,000 tấn vàng năm 1970, sau đó giảm dần qua các năm. Năm 2017 sản lượng của nước này chỉ còn 139,9 tấn.
Trong khi đó, Trung Quốc vươn lên chiếm vị trí dẫn đầu trong danh sách các quốc gia khai thác có lớn nhất, với sản lượng năm 2017 đạt (270,7 tấn) chiếm 13% tổng sản lượng khai thác toàn cầu. Úc xếp thứ 2 với sản lượng vàng (295,1 tấn), tăng gấp 5 lần năm 2016, ngành công nghiệp khoáng sản tạo ra 8% GDP cho Úc; chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khâu [27]. Châu Âu có tới 83% được khai thác từ Nga và có dấu hiệu tăng nhanh từ năm 2010 đến nay. Chính phủ Nga có cơ chế thu mua trên 60% lượng vàng khai thác của ngành khai mỏ vàng.
Mỹ có sản lượng vàng xếp thứ 4 với 230 tấn với nguồn cung chủ yếu từ hoạt động khai thác ở các bang Long Canyon, Nevada, Hailie và South Carolina [27]. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về tình hình khai thác vàng gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe người dân như:nghiên cứu của Trần Bá Quốc và cộng sự(2019) tại Thái Lan về "Đánh giá khả năng phơi nhiễm hydro cyanua từ việc quản lÿ mỏ khai thác vàng của Thái Lan" đã chỉ ra các tác động của HCN - một chất độc hại trong bãi thải mỏ vàng [26]. Khí HCN này phát tán trong không khí gây ra tác động cấp tính qua đường hô hấp, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và 3 công nhân làm việc xung quanh mỏ vàng. Giới hạn phát tán cyanua tại nơi lưu trữ chất thải mỏ trên 20mg/1 là không an toàn; tác động lâu dài xảy ra ở pH thấp.
Nghiên cứu này cho thấy rằng để tạo điều kiện triển khai hiệu quả phát triển bền vững (PTBV) trong các mỏ vàng của Ghana và để đảm bảo sự liên kết với mục tiêu PTBV của Liên Hợp Quốc, cần phải có khung pháp lý và điều này cần được phát triển dựa trên đầu vào của các bên liên quan. Theo báo cáo của Chương trình môi trường Liên hợp quốc, từ năm 1985 đến năm 2000, trên thế giới đã xảy ra hơn 10 sự cố vỡ đập, hồ chứa phế thải, trong đó có chưa cyanua, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống của người dân. Ví dụ, năm 2000, do một thảm họa khốc liệt đã xảy ra tại một mỏ vàng ở Baia Mare, Rumani do mot tran mua lớn, đá và tuyét đã làm vỡ đập chứa chất thải cyanua[24].Với sự cố này ước tính khoảng 100,000 mỶ nước nhiễm cyanua có nồng độ cao gấp 400 lần giới hạn cho phép chảy từ con đập ra ngoài hòa vào đòng nước sông Tisza (Hungary), một phụ lưu của sông Danub. Sự có này cũng đã gây thiệt hại nghiêm trọng trên 1,000 km đường thủy, làm chết 10 nghìn tấn cá và làm cho hơn 2,5 triệu người không có nước uống.
Vụ tràn chất thải trên buộc ngành công nghiệp khai thác vàng của Rumani nói riêng và thế giới nói chung phải đưa ra các quy định luật pháp nhằm hạn chế việc sử dụng cyanua [24]. Năm 1783, Carl Wilhelm Scheele-một nhà hóa học người Thụy Điền phát hiện, vàng có khả năng hòa tan trong cyanua kiềm (KCN, NaCN), khi có ôxy và thường được pha loãng theo tỷ lệ 0,035% [24]. Công nghệ cyanua được sử dụng trong khai thác vàng vì giúp tiết kiệm thời gian, giảm chỉ phí cũng như sàng lọc vàng trong quặng hiệu quả. Loại hóa chất độc hại, cùng những loại chất thải khác phát sinh trong các hoạt động khai thác vàng đã đặt ra những áp lực lên môi trường và cộng đồng xã hội ở hàng loạt các mỏ vàng của Tây Mỹ, châu Mỹ, châu Phi và châu Âu.
Tại Mỹ, bài báo "Côn bằng bên vững môi trường và công nghiệp: Một nghiên cứu về ngành khai thác vàng của Hoa Kỳ" của Bruce cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng: ngành công nghiệp khai thác vàng là ngành tạo ra nhiều chất thải nguy hại hơn bất kỳ ngành công nghiệp nào khác [13]. Các công ty khai thác bị yêu cầu nộp tiền cho Chính phủ liên bang về phí bảo hiểm môi trường hoặc chỉ phí giảm thiểu; khoản tiền này sẽ được sử dụng để giảm thiêu tác hại của rủi ro môi trường gây ra. Số tiền phải nộp mỗi lần sẽ được tính toán đựa trên mô hình đánh giá chi phí, bao gồm cả chỉ phí cho công ty khai thác vàng gây ra. Theo khảo sát của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (US EPA), để xử lý ô nhiễm môi trường do khai thác vàng cần phải bỏ ra chi phi ước tính lên đến 54 triệu USD.
Hiện nay, ngành khai khoáng của Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một số biện pháp để ngăn chặn, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra do cyanua tràn ra ngoài, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cộng đồng. Chẳng hạn như, quặng đuôi được xử lý bằng hệ thống ép lọc-rửa liên tục để làm sạch cyanua trong quặng đuôi, thông qua một hệ thống màng lọc để ngăn chặn rò rỉ [13]. Năm 1977, Chính phủ Mỹ đã ban hành Bộ luật khai thác mỏ, trong đó quy định, các điểm khai thác phải được phục hồi lại mỏ như ban đầu; bộ Luật môi trường mới của Mỹ đã được ban hành, trong đó đặt ra những tiêu chuẩn khá nghiêm ngặt đối với việc vận chuyên và lưu trữ cyanua. Luật pháp yêu cầu trước khi được cấp phép, công ty khai thác khoáng sản phải nộp một bản kế hoạch phục hồi môi trường đất và phải có hệ thống thoát nước có chứa axít từ mỏ vàng.
Tại Philippin, nhóm nghiên cứu của Nelia (2006) đã công bố bài báo "Đánh giá ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường của việc phơi nhiễm thủy ngân trong một cộng đông khai thác vàng ở phía Tây Mindanao, Philippin" [22]. Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của các hoạt động khai thác vàng đối với cộng đồng. Các nhóm người dân được chọn ngẫu nhiên và chia thành nhóm chịu tác động trực tiếp và nhóm chịu tác động gián tiếp. Sau làm các xét nghiệm y tế và các thí nghiệm cần thiết, kết quả cho thấy nhóm tiếp xúc trực tiếp có nồng độ thủy ngân và metyl thủy ngân trong máu cao hơn đáng kể so với nhóm bị phơi nhiễm gián tiếp.
Đồng thời, nhóm nghiên cứu đã quan trắc chất lượng không khí xung quanh cho kết quả vượt ngưỡng cho phép. Hiện nay, ngành khai khoáng nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một số biện pháp để ngăn chặn, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra do cyanua tràn ra ngoài, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cộng đồng.