Đánh giá ảnh hưởng đến môi trường của nhà máy thủy điện sông chừng xã yên bình huyện quang bình tỉnh hà giang

Đánh giá ảnh hưởng môi trường của nhà máy thủy điện sông Chừng, xã Yên Bình, Quang Bình, Hà Giang. Phân tích tác động chi tiết tới hệ sinh thái địa phương.

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
69
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan dự án thủy điện Sông Chừng và vai trò của ĐTM

Dự án nhà máy thủy điện Sông Chừng được xây dựng trên Sông Con, thuộc địa phận xã Yên Bình, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang. Với công suất lắp máy 19,5MW, dự án này được kỳ vọng sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực. Tuy nhiên, việc xây dựng và vận hành một công trình thủy điện quy mô lớn luôn đi kèm với những tác động tiềm tàng đến môi trường tự nhiên và xã hội. Do đó, công tác đánh giá tác động môi trường ĐTM (Đánh giá Tác động Môi trường) đóng vai trò then chốt. Đây là công cụ khoa học và pháp lý, giúp nhận diện, dự báo các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của dự án, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu hiệu quả. Việc phân tích kỹ lưỡng báo cáo ĐTM thủy điện sông chừng không chỉ là yêu cầu bắt buộc theo luật định mà còn là cơ sở để đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững Hà Giang.

1.1. Vị trí và quy mô của nhà máy thủy điện Sông Chừng

Nhà máy thủy điện Sông Chừng có vị trí tuyến đập tại 22° 26′ 00″ vĩ độ Bắc và 104° 38′ 00″ kinh độ Đông. Công trình ảnh hưởng trực tiếp đến ba xã: Yên Bình, Tiên Nguyên và Tân Nam của huyện Quang Bình. Theo quy hoạch thủy điện tỉnh Hà Giang, dự án có diện tích lưu vực là 328 km², tạo ra một hồ chứa với dung tích toàn bộ 45,6 triệu m³ và dung tích hữu ích là 20,8 triệu m³. Các hạng mục chính bao gồm đập dâng nước, nhà máy, đập tràn, chiếm dụng một diện tích đất đáng kể, trong đó vùng hồ chứa là 245,6 ha và khu vực mặt bằng công trường là 20 ha. Chủ đầu tư thủy điện Sông Chừng đã triển khai dự án với mục tiêu sản xuất sản lượng điện bình quân năm đạt 63,42 triệu kWh.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu tác động môi trường của dự án

Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng đến môi trường của nhà máy thủy điện Sông Chừng một cách toàn diện. Mục tiêu chính là khảo sát các hoạt động xây dựng và vận hành để xác định nguồn gây tác động. Từ đó, phân tích các ảnh hưởng cụ thể đến môi trường tự nhiên (đất, nước, hệ sinh thái) và kinh tế - xã hội (sinh kế, văn hóa). Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực. Quá trình này tuân thủ các phương pháp khoa học như khảo sát thực địa, phân tích mẫu, điều tra xã hội học và kế thừa số liệu từ các báo cáo ĐTM trước đó, đảm bảo tính khách quan và chính xác.

II. Phân tích các tác động của thủy điện đến môi trường tự nhiên

Việc xây dựng và vận hành nhà máy thủy điện Sông Chừng đã gây ra những tác động của thủy điện đến môi trường một cách rõ rệt. Những thay đổi này diễn ra trên nhiều phương diện, từ tài nguyên đất, thảm thực vật, hệ động vật cho đến môi trường nước. Giai đoạn xây dựng với các hoạt động đào đắp, giải phóng mặt bằng đã làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất. Giai đoạn vận hành với việc tích nước hồ chứa và điều tiết dòng chảy tiếp tục gây ra những hệ lụy lâu dài. Nghiên cứu cho thấy, diện tích đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp trồng lúa đã suy giảm, kéo theo nguy cơ xói mòn và sạt lở đất gia tăng. Thảm thực vật bị nhấn chìm, môi trường sống của động vật bị thu hẹp, dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học huyện Quang Bình. Những tác động này cần được theo dõi và quản lý chặt chẽ để hạn chế thiệt hại.

2.1. Ảnh hưởng đến tài nguyên đất và nguy cơ mất rừng đầu nguồn

Quá trình xây dựng nhà máy thủy điện đã chiếm dụng vĩnh viễn một phần diện tích đất đáng kể. Theo thống kê, tổng diện tích đất bị ảnh hưởng là 560,2 ha, trong đó 245,6 ha bị ngập làm lòng hồ. Bảng 4.3 trong tài liệu gốc chỉ ra rằng diện tích đất lâm nghiệp giảm 265 ha và đất trồng lúa giảm tới 2.330 ha sau khi xây dựng. Việc mất đất sản xuất đã buộc người dân phải phá rừng làm nương rẫy, làm trầm trọng thêm tình trạng mất rừng đầu nguồn. Diện tích rừng tự nhiên đã giảm 590 ha. Sự suy giảm thảm thực vật này không chỉ làm mất đi tài nguyên sinh học mà còn làm tăng nguy cơ xói mòn và sạt lở đất, đặc biệt trong mùa mưa lũ, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hồ đập thủy điện.

2.2. Suy giảm hệ sinh thái Sông Chừng và đa dạng sinh học

Việc nhấn chìm 245,6 ha đất, chủ yếu là rừng non tái sinh và đất nông nghiệp, đã phá hủy môi trường sống của nhiều loài sinh vật. Mặc dù khu vực này không có các loài quý hiếm, nhưng hệ sinh thái sông chừng đã bị ảnh hưởng nặng nề. Theo khảo sát ý kiến người dân, 65% cho rằng hệ động vật đã 'giảm nhiều' sau khi xây dựng nhà máy, so với chỉ 8% trước đó. Các loài như cầy, chồn, rùa đá, gà lôi gần như không còn xuất hiện. Sự suy giảm này là hậu quả trực tiếp của việc mất nơi cư trú và nguồn thức ăn. Đối với môi trường thủy sinh, việc xây đập đã ngăn chặn đường di cư của các loài cá, làm thay đổi cấu trúc quần xã sinh vật dưới nước, tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học huyện Quang Bình.

III. Đánh giá cách thủy điện Sông Chừng thay đổi chất lượng nước

Một trong những tác động trực tiếp nhất của dự án là sự thay đổi đối với môi trường nước. Việc tích nước hồ chứa và vận hành nhà máy đã làm biến đổi cả về số lượng và chất lượng nước. Thay đổi dòng chảy là hệ quả tất yếu, gây ra hiện tượng 'sông chết' ở một số đoạn hạ lưu và làm xáo trộn chế độ thủy văn tự nhiên. Chất lượng nước cũng bị ảnh hưởng do quá trình phân hủy thảm thực vật bị ngập trong lòng hồ, giải phóng các chất hữu cơ và dinh dưỡng. Ngoài ra, nước thải sinh hoạt từ công nhân và dầu mỡ từ quá trình vận hành máy móc cũng là nguồn ô nhiễm tiềm tàng. Việc quan trắc môi trường định kỳ là bắt buộc để theo dõi diễn biến chất lượng nước hạ du và có biện pháp can thiệp kịp thời, đảm bảo tuân thủ các quy định trong giấy phép môi trường dự án.

3.1. Phân tích sự thay đổi dòng chảy và bồi lắng lòng hồ

Nhà máy thủy điện Sông Chừng vận hành theo chế độ điều tiết mùa, gây ra sự thay đổi dòng chảy đột ngột ở hạ du. Vào mùa khô, việc tích nước có thể làm cạn kiệt dòng chảy, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Ngược lại, việc xả lũ vào mùa mưa có thể gây ngập lụt bất thường. Bên cạnh đó, lòng hồ hoạt động như một bẫy trầm tích, giữ lại lượng phù sa đáng kể. Tài liệu nghiên cứu cho thấy giá trị bồi lắng của hồ sau khi xây dựng đã tăng lên. Hiện tượng này làm giảm dung tích hữu ích của hồ chứa theo thời gian, ảnh hưởng đến hiệu quả phát điện và làm giảm lượng phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng hạ du.

3.2. Kết quả phân tích chất lượng nước hạ du trước và sau dự án

Kết quả phân tích mẫu nước cung cấp bằng chứng rõ ràng về tác động của dự án. Theo Bảng 4.4 và 4.5, trước khi xây dựng, chất lượng nước sông và nước ngầm tại khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép theo TCVN. Các chỉ số như pH, COD, BOD5, TSS đều ở mức an toàn. Tuy nhiên, sau khi đi vào hoạt động, các nguồn thải tiềm tàng như nước thải sinh hoạt của công nhân (Bảng 4.1 ước tính lượng BOD5 lên tới 3,5 kg/ngày cho 100 công nhân) và dầu mỡ từ hệ thống máy móc có nguy cơ làm suy giảm chất lượng nước hạ du. Mặc dù tài liệu gốc chưa cung cấp bảng phân tích nước sau xây dựng, nhưng các yếu tố rủi ro này đòi hỏi phải có hệ thống xử lý nước thải và chương trình quan trắc môi trường định kỳ nghiêm ngặt.

IV. Khảo sát ảnh hưởng thủy điện đến sinh kế người dân Yên Bình

Bên cạnh các tác động về môi trường tự nhiên, dự án thủy điện Sông Chừng còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương. Hoạt động di dân tái định cư thủy điện đã làm xáo trộn cuộc sống của 25 hộ dân. Việc mất đất sản xuất nông nghiệp, vốn là nguồn thu nhập chính, đã đẩy nhiều gia đình vào tình thế khó khăn. Tuy nhiên, dự án cũng mang lại một số tác động tích cực như cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông và cung cấp nguồn điện ổn định. Việc đánh giá ảnh hưởng đến môi trường về mặt xã hội cần xem xét đa chiều, từ những thiệt hại về kinh tế, thay đổi văn hóa đến các cơ hội phát triển mới, nhằm đảm bảo quyền lợi và cải thiện sinh kế người dân xã Yên Bình một cách bền vững.

4.1. Những thay đổi về kinh tế và nguồn thu nhập

Nguồn thu nhập của người dân địa phương, vốn phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khảo sát cho thấy diện tích trồng lúa giảm mạnh. Hình 4.3 chỉ ra rằng, sau khi có nhà máy, cơ cấu thu nhập đã thay đổi, người dân phải chuyển sang trồng ngô, lạc và tìm kiếm các nguồn thu nhập phi nông nghiệp khác. Mặc dù dự án tạo ra một số việc làm trong giai đoạn xây dựng, nhưng lợi ích này thường chỉ là ngắn hạn. Về lâu dài, việc mất đi tư liệu sản xuất chính là một thách thức lớn đối với sinh kế người dân xã Yên Bình. Các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và phát triển kinh tế thay thế là vô cùng cần thiết.

4.2. Tác động đến văn hóa y tế và sức khỏe cộng đồng

Hoạt động di dân tái định cư thủy điện và sự xuất hiện của một lượng lớn công nhân từ nơi khác đến đã gây ra những biến đổi về văn hóa và trật tự xã hội. Mặc dù tài liệu không đi sâu vào khía cạnh này, nhưng đây là một tác động thường thấy ở các dự án lớn. Về mặt tích cực, dự án đã góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng. Bảng 4.11 và 4.12 cho thấy tỷ lệ học sinh đến trường và tỷ lệ xóa mù chữ đã tăng lên sau khi xây dựng nhà máy, có thể do điều kiện giao thông và kinh tế địa phương được cải thiện một phần. Tuy nhiên, các vấn đề về y tế, sức khỏe cộng đồng cũng cần được quan tâm, đặc biệt là nguy cơ phát sinh dịch bệnh do sự tập trung đông người và thay đổi môi trường sống.

V. Giải pháp giảm thiểu tác động và hướng phát triển bền vững

Từ kết quả đánh giá ảnh hưởng đến môi trường của nhà máy thủy điện Sông Chừng, việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu là nhiệm vụ cấp thiết. Các giải pháp này cần mang tính tổng thể, bao gồm cả biện pháp kỹ thuật, quản lý và xã hội. Về mặt kỹ thuật, cần đảm bảo quy trình vận hành hồ chứa khoa học để điều tiết dòng chảy hợp lý, giảm thiểu tác động tiêu cực cho hạ du. Về quản lý, chủ đầu tư thủy điện Sông Chừng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường, thực hiện quan trắc môi trường định kỳ và công khai thông tin. Về xã hội, cần tăng cường tham vấn cộng đồng dự án thủy điện và có chính sách hỗ trợ sinh kế hiệu quả cho người dân bị ảnh hưởng. Tất cả nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Hà Giang.

5.1. Các biện pháp quản lý và kỹ thuật cho môi trường tự nhiên

Để giảm thiểu tác động lên môi trường tự nhiên, nhà máy cần áp dụng các giải pháp cụ thể. Thứ nhất, xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa (nếu có) để duy trì dòng chảy môi trường tối thiểu cho hạ du, đặc biệt trong mùa cạn. Thứ hai, thực hiện các biện pháp chống xói mòn và sạt lở đất ở khu vực ven hồ và các bãi thải. Thứ ba, cần có chương trình trồng lại rừng thay thế cho diện tích đã mất, ưu tiên các loài cây bản địa để phục hồi hệ sinh thái sông chừng. Cuối cùng, hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và dầu mỡ phải được vận hành hiệu quả, kết hợp với chương trình giám sát chất lượng nước hạ du thường xuyên để đảm bảo tuân thủ giấy phép môi trường dự án.

5.2. Giải pháp hỗ trợ sinh kế và tham vấn cộng đồng hiệu quả

Đối với các tác động xã hội, giải pháp trọng tâm là đảm bảo sinh kế người dân xã Yên Bình. Cần xây dựng các mô hình kinh tế thay thế phù hợp với điều kiện địa phương như phát triển chăn nuôi, trồng cây công nghiệp có giá trị, hoặc du lịch sinh thái lòng hồ. Các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ vốn cần được triển khai một cách thiết thực. Quan trọng hơn, cơ chế tham vấn cộng đồng dự án thủy điện phải được duy trì và thực chất. Người dân cần được tham gia vào quá trình giám sát các hoạt động của nhà máy và được thông tin đầy đủ, minh bạch về lịch vận hành hồ chứa, đặc biệt là kế hoạch xả lũ, để chủ động phòng tránh thiệt hại. Điều này giúp xây dựng lòng tin và đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thuỷ năng là một nguồn năng lƣợng tái tạo mà thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời. Bằng việc xây dựng các đập ngăn nƣớc, nhiều nhà máy thuỷ điện đã ra đời không chỉ cung cấp nguồn năng lƣợng với giá rẻ, không gây ô nhiễm môi trƣờng nhƣ nhà máy nhiệt điện dùng than hoặc dầu mà còn mang lại nhiều lợi ích khác cho nền kinh tế quốc dân nhƣ: Chống lũ cho hạ du, cấp nƣớc tƣới vào mùa khô, tạo đƣờng giao thông thuận lợi, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch và làm thay đổi điều kiện khí hậu theo chiều hƣớng tốt hơn… Khi sử dụng các tiềm năng của các dòng sông, con ngƣời không dừng lại ở mục tiêu phát triển nguồn năng lƣợng mà còn biến nó thành động lực to lớn, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Vì lợi ích của thuỷ điện quá rõ ràng, hết sức to lớn đã làm cho ngƣời ta quên mất mặt trái của nó, hoặc xem nhẹ còn lớn hơn nhiều, có thể làm mất hoặc chƣa hiểu đầy đủ về những hậu quả của việc phát triển thuỷ điện. Việc tích nƣớc hồ chứa có thể dẫn đến hàng vạn hecta rừng bị chìm ngập, làm mất đi không chỉ thực vật mà cả động vật, chủ yếu là loại lƣỡng cƣ, bò sát và các sinh vật sống trong vùng lòng hồ.

Sự biến động tính đa dạng sinh học do tích nƣớc hồ là đƣơng nhiên, nhƣng sự biến động này sẽ hàng loạt diện tích rừng, gây xói mòn, huỷ hoại môi trƣờng, làm xáo trộn cuộc sống của một bộ phận dân cƣ đang sinh sống trong vùng lòng hồ… Nhƣ vậy những hậu quả mà thuỷ điện gây nên cho phúc lợi xã hội cũng không phải là nhỏ. Để quyết định cho việc đầu tƣ phát triển một dự án phải đƣợc tính toán kỹ lƣỡng trên mặt lợi, mặt hại mà nó mang lại hay nói cách khác là phải ƣớc lƣợng đầy đủ về chi phí và lợi ích của dự án ở góc độ toàn nền kinh tế (dự án có mang lại phúc lợi cho xã hội hay không). Từ trƣớc đến nay đối với các dự án xây dựng nói chung và dự án xây dựng thuỷ điện nói riêng thì việc xác định các chi phí và lợi ích tài chính thƣờng đƣợc các chủ đầu tƣ tính toán kỹ lƣỡng, nhƣng các chi phí và lợi ích môi trƣờng (chi phí ngoại ứng) hầu nhƣ các chủ đầu tƣ không quan tâm trong phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Lý do chủ yếu của những khiếm khuyết này là do một số yếu tố môi trƣờng (hay còn gọi là hàng hoá môi trƣờng) còn thiếu thị trƣờng trao đổi cũng nhƣ việc xác định giá trị cho các loại 1 hàng hoá môi trƣờng này còn gặp khó khăn.

Điều đó dẫn đến hiệu quả kinh tế mà các nhà đầu tƣ báo cáo chƣa thật sự phản ánh đúng với thế giới thực của vấn đề [10]. Xuất phát từ thực tế bất cập cần đánh giá đúng tới môi trƣờng sinh thái ở khu vực nhà máy thuỷ điện thuộc Huyện Quang Bình – Hà Giang. Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá ảnh hƣởng đến môi trƣờng của nhà máy thuỷ điện Sông Chừng xã Yên Bình - huyện Quang Bình - Tỉnh Hà Giang 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghành thuỷ điện 1.

Trên thế giới Thuỷ điện là nguồn điện có đƣợc từ năng lƣợng nƣớc. Đa số năng lƣợng thuỷ điện có đƣợc từ thế năng của nƣớc đƣợc tích tại các đập nƣớc làm quay tuabin nƣớc và máy phát điện. thuỷ điện ít đƣợc biết đến hơn là sử dụng năng lƣợng động lực của nƣớc hay các nguồn nƣớc không bị tích bằng các đập nƣớc nhƣ năng lƣợng thuỷ triều. Thuỷ triều là nguồn năng lƣợng có thể hồi phục.

Tổ hợp La Grande tại Québec, Canada, là hệ thống nhà máy thuỷ điện lớn nhất Thế giới. Bốn tổ máy phát điện của tổ hợp này có tổng công suất 16. Chỉ riêng nhà máy Robert Bourassa có công suất 5. Tổ máy thứ 9 (Eastmain-1) hiện đang đƣợc xây dựng và sẽ cung cấp thêm 480 MW.

Một dự án khác trên Sông Rupert, hiện đang trải qua quá trình đánh giá môi trƣờng, sẽ có thêm hai tổ máy với tổng công suất 888 MW. Các nhà máy trên đƣợc xếp hạng theo công suất tối đa STT Tên thuỷ Quốc gia Năm xây dựng Công suất Công điện suất/giờ 1 Itaipú Brasil/paraguay 1984/1991/2003 14,00 MW 93,4 TW/ hours 2 Guri Venezuela 1986 10,20 MW 46 TW/hours 3 Grand coulee Hoa Kỳ 1942/1980 6,809 MW 22,6 TW/hours 4 Sayano Nga 1983 6,809 MW 23,6 Shushenskaya TW/hours 5 Robert- Canada 1987 5,616 MW Bourassa 6 Churchill Canada 1971 5, 429 MW 35 TW/hours 7 Yaciretá Argentina/Parag 1998 4,050 MW 19,1 uay TW/hours 8 Sơn La Việt Nam 2012 2,400 MW 10,6 TW/hours 9 Iron Gates Romania/serbia 1970 2,80 MW 11,3 TW/hours (Nguồn: Greenhouse Gas Emissions – Fluxes and Processes (2005)) 3 Bảng 1. Các nƣớc có công suất thuỷ điện lớn nhất trên thế giới STT Quốc gia Công suất 1 Canada 341,312 GWh 2 Hoa Kỳ 319,484 GWh 3 Brasil 285,603 GWh 4 Trung Quốc 204,300 GWh 5 Nga 169,700 GWh 6 Na Uy 121,825 GWh 7 Nhật Bản 84,500 GWh 8 Ân Độ 82,237 GWh 9 Pháp 77,500 GWh (Nguồn: Greenhouse Gas Emissions – Fluxes and Processes (2005)) 1. Tại Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có lƣợng mƣa trung bình hàng năm cao, khoảng 1.

Với địa hình miền Bắc và biên giới miền Tây đồi núi cao, phía Đông là bờ biển dài trên 3.400km nên nƣớc ta có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, với hơn 3.450 hệ thống và với điều kiện tự nhiên thuận lợi nhƣ vậy nên tiềm năng thuỷ điện của nƣớc ta tƣơng đối lớn. Theo tính toán lý thuyết, tổng công suất thủy điện của nƣớc ta vào khoảng 35.000MW, trong đó 60% tập trung tại miền Bắc, 27% phân bố ở miền Trung và 13% thuộc khu vực miền Nam. Tiềm năng kỹ thuật (tiềm năng có thể khai thác khả thi) vào khoảng 26.000MW, tƣơng ứng với gần 970 dự án đƣợc quy hoạch, hàng năm có thể sản xuất hơn 100 tỷ kWh, trong đó nói riêng thuỷ điện nhỏ có tới 800 dự án, với tổng điện năng khoảng 15 - 20 tỉ kWh/năm. Có thể nói, cho đến nay các dự án thủy điện lớn có công suất trên 100MW hầu nhƣ đã đƣợc khai thác hết.

Các dự án có vị trí thuận lợi, có chi phí đầu tƣ thấp cũng đã đƣợc triển khai thi công. Còn lại trong tƣơng lai gần, các dự án thủy điện công suất nhỏ sẽ đƣợc đầu tƣ khai thác. 4 Trong những năm qua, ngoài các dự án lớn do EVN đầu tƣ, có nguồn vốn và kế hoạch thực hiện đúng tiến độ, thì các dự án vừa và nhỏ do chủ đầu tƣ ngoài ngành điện thƣờng chậm tiến độ, hoặc bị dừng. Lý do của tình trạng các dự án chậm tiến độ hoặc bị dừng là do: (1) Nền kinh tế nƣớc ta trong thời gian qua gặp khó khăn.

(2) Các dự án không hiệu quả, không đủ công suất nhƣ trong quy hoạch và nghiên cứu khả thi, hoặc chi phí đầu tƣ quá cao, khó khăn trong việc hoàn vốn. (3) Các dự án chủ đầu tƣ không đủ năng lực tài chính, hoặc chủ đầu tƣ không có kinh nghiệm quản lý dự án, tự thi công dẫn đến chất lƣợng công trình kém và thời gian kéo dài. (4) Một số dự án gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng sinh thái, chặt phá rừng trên diện rộng, ảnh hƣởng đến hạ du.bị thu hồi, tạm loại ra khỏi quy hoạch. Ở nƣớc ta, thủy điện chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu sản xuất điện.

Hiện nay, mặc dù ngành điện đã phát triển đa dạng hóa nguồn điện, nhƣng thủy điện vẫn đang chiếm một tỷ trọng đáng kể. Năm 2014, thủy điện chiếm khoảng 32% trong tổng sản xuất điện. Theo dự báo của Quy họach điện VII (QHĐ VII) thì đến các năm 2020 và 2030 tỷ trọng thủy điện vẫn còn khá cao, tƣơng ứng là 23%. Ngoài mục tiêu phát điện, các nhà máy thủy điện còn có nhiệm vụ cắt và chống lũ cho hạ du trong mùa mƣa bão, đồng thời cung cấp nƣớc phục vụ sản xuất và nhu cầu dân sinh trong mùa khô.

[9] Các nhà máy lớn của thuỷ điện lớn nhất tại việt nam đƣợc thể hiện trong bảng 1.3: Danh mục các nhà máy lớn nhất tại Việt Nam STT Tên nhà máy thuỷ điện Công suất Sản lƣợng điện hàng năm 1 Thuỷ điện Sơn La 2.400 MW 10 tỷ kW 2 Thuỷ điện Hoà Bình 1.920 MW 8,16 tỷ KWh 3 Thuỷ điện Lai Châu 1. 4 Thủy điện Yaly 720 MW 3,68 tỉ KWh. 5 Thuỷ điện Trị An 400 KW 1,7 tỷ KWh. 6 Thuỷ điện sông Ba Hạ 220 MW 825 triệu Kwh/năm 7 Thuỷ điện Thác Bà 108 MW 400 triệu KWh.

Nguồn: Danh mục các nhà máy điện lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh -tế xã hội, quốc phòng, an ninh) 5 1. Các tác động của ngành thuỷ điện đến môi trƣờng Khi mỗi một công trình thuỷ điện đƣợc xây dựng thì nó sẽ tác động rất lớn đến môi trƣờng Việc phá rừng để xây dựng đập thuỷ điện làm mất rất nhiều điện tích rừng, mất tính đa dạng sinh học với hàng nghìn ha rừng bị nhấn chìm trong lòng hồ.Trƣớc đây các đối tƣợng khai thác trái phép khó mà xâm nhập đƣợc vào các rừng đầu nguồn vì địa hình hiểm trở, nhƣng sau khi có các con đƣờng công vụ thi công thủy điện tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ trái phép khiến cho tình hình khai thác gỗ trái phép diễn ra phức tạp, nhƣ chúng ta biết khi mất lớp phủ thực vật thì dẫn đến vào mùa mƣa sẽ gây ra hiện tƣợng rửa trôi, xói mòn đất xung quanh gây bồi lắng lòng hồ làm giảm dung tích lòng hồ, ảnh hƣởng đến khả năng cắt lũ. Chế độ vận hành của các nhà máy thủy điện và cơ chế lấy nƣớc của các nhà máy, đặc biệt là các nhà máy loại chuyển dòng sang lƣu vực khác sẽ gây ra hiện tƣợng ngập lụt bất thƣờng ở lƣu vực tiếp nhận, nhiều diện tích đất bị ngập sâu trong nƣớc, nhiều khu vực ven sông bị sạt lở phá hủy các công trình giao thông, công trình thủy lợi gặm dần các bãi bồi màu mỡ ven sông, mất mùa do chƣa kịp thu hoạch, ảnh hƣởng đến an sinh xã hội, làm đảo lộn sinh hoạt của ngƣời dân. Việc xây dựng đập làm thay đổi dòng chảy đến các cửa sông, đây đƣợc coi là nguyên nhân làm giảm nghiêm trọng đến nguồn cá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ