ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua nhờ đƣờng lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Song song với việc phát triển kinh tế thì kéo theo hệ lụy của nó là các vấn đề môi trƣờng diễn ra phức tạp. Nguy cơ ô nhiễm ở tình trạng báo động đòi hỏi sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng. Bất kì hoạt động kinh tế xã hội cũng nhƣ trong đời sống sinh hoạt con ngƣời đều phải sử dụng các nguồn năng lƣợng khác nhau.
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về khoa học kĩ thuật trong việc tìm kiếm năng lƣợng mới, song chúng chƣa thể thay thế cho nhiên liệu hóa thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào nhƣ than đá. Quá trình khai thác và đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch có ảnh hƣởng rất lớn đến môi trƣờng đặc biệt là khai thác và sử dụng than. Nếu nhƣ quá trình đốt cháy than tạo ra các khí nhà kính thì quá trình khai thác và chế biến than lại gây ô nhiễm, suy thoái, và có những sự cố môi trƣờng diễn ra ngày càng phức tạp, đặt con ngƣời trƣớc sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên đã ảnh hƣởng trở lại tới phát triển kinh tế của con ngƣời. Hoạt động khai thác than có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc, xong việc khai thác thiếu quy hoạch tổng thể, không quan tâm đến cảnh quan môi trƣờng đã và đang làm biến động nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣ mất dần đất canh tác, gây ô nhiểm nguồn nƣớc ảnh hƣởng tới tài nguyên sinh vật và sức khoẻ cộng đồng.
Vì vậy việc bảo vệ môi trƣờng là một vấn đề vô cùng phức tạp và khó khăn đòi hỏi mọi ngƣời cùng tham gia thì mới hy vọng giảm thiểu ô nhiễm, đặc biệt việc ô nhiễm nguồn nƣớc gây ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe và nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân. Thanh Hóa là một tỉnh nằm ở cực bắc của Trung Bộ Việt Nam, địa hình nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam với rất nhiều loại tài nguyên khoáng sản trong đó có than đá. Nhận thấy quá trình khai thác than đã gây tác động rất nhiều đến môi trƣờng. Vì vậy khóa luận “Đánh giá tác động môi trường nước từ hoạt động khai thác mỏ than Yên Duyệt Xã Cẩm Yên, Huyện Cẩm Thủy, Tỉnh Thanh Hóa” đƣợc thực hiện.
1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về môi trƣờng nƣớc 1. Giới thiệu chung về tài nguyên nước Trên hành tinh chúng ta, nƣớc tồn tại khắp nơi: trên mặt đất, trong biển và đại dƣơng, dƣới đất và trong không khí dƣới các dạng: lỏng (nƣớc sông, suối, ao hồ, biển, khí (hơi nƣớc) và rắn (băng tuyết). Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), lƣợng nƣớc trong thủy quyển đƣợc phân bố nhƣ sau: Lƣợng nƣớc trong thủy quyển: 1386.106 km3 100% Nƣớc ngọt: 35.106 km3 2,5% Nƣớc mặn: 1351.
Vai trò của tài nguyên nước Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên trái đất. Nếu không có nƣớc thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên trái đất, thiếu nƣớc thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại đƣợc. Nƣớc có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con ngƣời có thể nhịn ăn đƣợc vài ngày, nhƣng không thể nhịn uống nƣớc. Nƣớc chiếm khoảng 70% trọng lƣợng cơ thể, 65-75% trọng lƣợng cơ, 50% trọng lƣợng mỡ, 50% trọng lƣợng xƣơng.
Đối với sinh vật, nƣớc chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lƣợng rất cao, từ 50 - 90% khối lƣợng cơ thể sinh vật là nƣớc, có trƣờng hợp nƣớc chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% nhƣ ở một số cây mọng nƣớc, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức). Nƣớc là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân cực (ƣa nƣớc) nhƣ hydroxyl, amin, các boxyl… Nƣớc là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ. Nƣớc là môi trƣờng hoà tan chất vô cơ và phƣơng tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dƣỡng ở động vật. Nƣớc tham gia vào quá trình trao đổi năng lƣợng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Nƣớc còn là môi trƣờng sống của rất nhiều 2 loài sinh vật. Nƣớc giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật, nƣớc còn là môi trƣờng sống của nhiều loài sinh vật. Đối với sản xuất nông nghiệp tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nƣớc đề phát triển. Đồng thời nƣớc còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dƣỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất, làm tăng sản lƣợng lƣơng thực.
Nƣớc cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Nƣớc dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi ngành công nghiệp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lƣợng nƣớc, loại nƣớc khác nhau. Nƣớc góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nếu không có nƣớc thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại. Hiện trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam Giống nhƣ một số nƣớc trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Thực trạng ô nhiễm nƣớc mặt: Hiện nay chất lƣợng nƣớc ở vùng thƣợng lƣu các con sông chính còn khá tốt. Tuy nhiên ở các vùng hạ lƣu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề.
Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lƣợng nƣớc đổ về các con sông giảm. Chất lƣợng nƣớc suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu nhƣ: BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ví dụ nhƣ sông Thị Vải, là con sông ô nhiễm nặng nhất trong hệ thống sông Đồng Nai, có một đoạn sông chết dài trên 10km. Giá trị DO thƣờng xuyên dƣới 0,5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan (0,04 mg/l).
Với giá trị gần bằng 0 nhƣ vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống. Thực trạng ô nhiễm nƣớc dƣới đất: Hiện nay nguồn nƣớc dƣới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhƣ bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch 3 đã làm cho mực nƣớc dƣới đất bị hạ thấp. Hiện tƣợng này ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long. Khai thác nƣớc quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tƣợng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển.
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước Về nguồn gốc gây ô nhiễm nƣớc có thể là tự nhiên hay nhân tạo. Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mƣa, tuyết tan. Nƣớc mƣa rơi xuống mặt đất, mái nhà, khu công nghiệp… kéo theo các vết bẩn xuống sông, hồ, hoặc các sản phẩm của các hoạt động phát triển của sinh vật, vi sinh vật và các xác chết của chúng. Còn sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nƣớc thải sinh hoạt, công nghiệp, giao thông vận tải, thuốc trừ sâu diệt cỏ, và phân bón trong nông nghiệp.
Các nguồn thải ra nƣớc thải sinh hoạt: Từ nhà ở trong các khu dân cƣ đô thị. Từ các bệnh viện, cơ sở y tế, phòng khám chữa bệnh. Từ các công trình dịch vụ công cộng nhƣ: khách sạn, nhà hàng, công trình thể thao, vui chơi giải trí, bể bơi, chợ, nơi rửa xe, cơ quan, trƣờng học, ký túc xá, bến tàu xe, nhà vệ sinh công cộng, giết mổ gia súc… Nƣớc rò rỉ từ các bãi rác. Nƣớc thải từ sản xuất công nghiệp: Chứa hàm lƣợng chất hữu cơ lớn: nhƣ công nghiệp thực phẩm, công nghiệp thuộc da, dầu khí.
Chứa nhiều hóa chất độc hại nhƣ sản xuất thuốc trừ sâu, phân bón, hóa chất. Chứa nhiều kim loại năng nhƣ luyện kim, cơ khí, khai khoáng. Nƣớc thải chứa nhiều kim dầu mỡ: nghành hóa dầu. Nƣớc thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và làng nghề chứa nhiều chất dinh dƣỡng, chất hữu cơ do bón phân, chứa dƣ lƣợng hóa chất bảo vệ thực vật.
Nƣớc thải y tế: Bao gồm nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải khám chữa bệnh. Chứa các chất hữu cơ, dầu mỡ, chất khoáng, các phế phẩm. Chứa các vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm. Chứa các chất khử trùng, dƣ lƣợng thuốc kháng sinh, đồng vị phóng xạ.
Chứa một số hoá chất độc hại và kim loại nặng. Tổng quan về hoạt động khai thác than tại Việt Nam Ngành than là ngành kinh tế chủ lực quan trọng của Việt Nam, bảo đảm nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp quan trọng nhƣ sản xuất điện, thép, xi 4 măng, phân bón…; thu hút lƣợng lớn lao động và đem lại nguồn lợi nhuận không nhỏ cho đất nƣớc. Ngành than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 175 năm. Trong đó, dấu mốc quan trọng là khi Tổng Công ty than Việt Nam đƣợc thành lập năm 1994, Thủ tƣớng Chính phủ đã chỉ đạo giao vốn, giao tài nguyên, trữ lƣợng than cho Tổng công ty để chủ động thăm dò, khai thác và bảo vệ.
Năm 2005, Tổng Công ty Than Việt Nam và Tổng Công ty Khoáng sảnViệt Nam đƣợc tổ chức lại dƣới hình thức Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), hoạt động với các đơn vị thành viên theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Trữ lƣợng than của nƣớc ta tập trung 67% tại Quảng Ninh. TKV hiện có khoảng 30 mỏ và các điểm khai thác lộ thiên trong đó có 5 mỏ có công suất từ 1 triệu tấn đến trên 3 triệu tấn/năm, gồm: Cao Sơn, Cọc Sáu, Hà Tu, Đèo Nai, Núi Béo. Có khoảng 20 mỏ khai thác hầm lò trong đó có 7 mỏ có công suât từ 1 triệu tấn trở lên là: Mạo Khê, Vàng Danh, Nam Mẫu, Hà lầm, Mông Dƣơng, Khe Chàm, Dƣơng Huy.
Công nghệ khai thác than Công nghệ khai thác mỏ lộ thiên Khai thác mỏ lộ thiên là một hình thức khai thác mỏ mà theo đó cần phải bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản cần khai thác. Khai thác mỏ lộ thiên bắt đầu từ giữa thế kỷ 16. Ở thế kỷ 20, hình thức này trở nên phổ biến, và là hình thức chính để khai thác than ở Hoa Kỳ.