Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tại mỏ than yên duyệt tới chất lượng nước xã cẩm yên huyện cẩm thủy tỉnh thanh hóa

Nghiên cứu chuyên sâu Ảnh hưởng khai thác than Yên Duyệt đến chất lượng nước Cẩm Yên với phương pháp khoa học, ứng dụng thực tiễn hiệu quả

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về môi trường nước

1.1.1. Giới thiệu chung về tài nguyên nước

1.1.2. Vai trò của tài nguyên nước

1.1.3. Hiện trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam

1.1.4. Nguồn gốc gây ô nhiễm nước

1.2. Tổng quan về hoạt động khai thác than tại Việt Nam

1.2.1. Công nghệ khai thác than

1.2.2. Tình hình khai thác than tại Việt Nam

1.3. Một số tác động của hoạt động khai thác than đến chất lượng môi trường và con người

1.3.1. Tác động tới môi trường đất

1.3.2. Tác động tới môi trường không khí

1.3.3. Tác động tới môi trường nước

1.3.4. Giảm diện tích rừng

1.3.5. Gây ô nhiễm bờ biển

1.3.6. Tác động đến đa dạng sinh học

1.3.7. Tác động đến kinh tế xã hội

1.3.8. Tác động đến sức khỏe con người

1.4. Tình hình nghiên cứu tác động đến môi trường của hoạt động khai thác than tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu

2.4.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

2.4.3. Phương pháp phỏng vấn

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm

2.4.5. Phương pháp xử lí nội nghiệp

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Đặc điểm địa hình, khí hậu

3.1.3. Thực trạng môi trường

3.1.4. Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Hiện trạng khai thác than tại mỏ than Yên Duyệt, xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

4.1.1. Giới thiệu chung về công ty và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty than Kim Oanh

4.1.2. Quy trình công nghệ khai thác than tại mỏ than Yên Duyệt, Xã Cẩm Yên, Huyện Cẩm Thủy, Tỉnh Thanh Hóa

4.1.3. Kết quả phân tích chất lượng nước thải mỏ than Yên Duyệt

4.1.4. Một số vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình khai thác mỏ than Yên Duyệt

4.2. Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến chất lượng nước tại xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

4.2.1. Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến chất lượng môi trường tại xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa qua phiếu điều tra

4.2.2. Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến chất lượng nước tại xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa qua kết quả phân tích mẫu nước

4.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động khai thác than và nâng cao chất lượng nước tại xã Cẩm yên, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa

4.3.1. Giải pháp công nghệ - kĩ thuật

4.3.2. Giải pháp về tổ chức quản lí và đào tạo

4.3.3. Giải pháp về quy hoạch

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh khai thác than Cẩm Thủy và chất lượng nước Cẩm Yên

Hoạt động khai thác khoáng sản Thanh Hóa, đặc biệt là than đá, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, các hoạt động này cũng đặt ra những thách thức lớn về môi trường. Tại huyện Cẩm Thủy, mỏ than Yên Duyệt do công ty Kim Oanh vận hành là một điển hình. Nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tại mỏ than Yên Duyệt tới chất lượng nước xã Cẩm Yên” cung cấp một cái nhìn khoa học, chi tiết về những tác động môi trường đang diễn ra. Tài liệu này chỉ rõ, quá trình khai thác than hầm lò, dù mang lại lợi ích kinh tế, đã phát sinh nhiều hệ lụy tiêu cực, trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nước mặtchất lượng nước ngầm trong khu vực. Nguồn nước, vốn là yếu tố sống còn đối với sinh kế người dân xã Cẩm Yên, đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Các hoạt động từ bóc tách lớp đất đá bề mặt, đào lò, đến vận chuyển than đều tạo ra các nguồn thải nguy hại. Bụi, đất đá, và đặc biệt là nước thải mỏ than chưa qua xử lý triệt để đã và đang xâm nhập vào hệ thống sông suối và mạch nước ngầm. Điều này không chỉ phá vỡ hệ sinh thái thủy sinh mà còn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng Cẩm Yên. Việc hiểu rõ hiện trạng và các thông số ô nhiễm là bước đi đầu tiên, bắt buộc để các cơ quan chức năng như Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa có thể đưa ra các biện pháp quản lý và can thiệp kịp thời, hướng tới sự phát triển bền vững cho ngành khai khoáng tại đây.

1.1. Giới thiệu mỏ than Yên Duyệt và công nghệ khai thác

Mỏ than Yên Duyệt, tọa lạc tại xã Cẩm Yên, được Công ty Kim Oanh bắt đầu thăm dò từ năm 2015 và chính thức khai thác từ tháng 8/2017. Với trữ lượng ước tính lên tới 140 triệu tấn, mỏ áp dụng phương pháp khai thác hầm lò. Công nghệ này bao gồm các công đoạn chính: mở vỉa, đào lò khai thông, đào lò chuẩn bị và khấu than bằng khoan nổ mìn. Quá trình này sử dụng nhiều thiết bị cơ giới hạng nặng như máy xúc, máy gạt, máy khoan và xe tải. Mặc dù công nghệ hầm lò giúp giảm tác động lên bề mặt địa hình so với khai thác lộ thiên, nó vẫn tạo ra một lượng lớn chất thải rắn và đặc biệt là nước thải mỏ than có đặc tính ô nhiễm cao, là nguồn gốc chính gây ra các tác động môi trường tiêu cực.

1.2. Vai trò của tài nguyên nước đối với sinh kế người dân Cẩm Yên

Tại xã Cẩm Yên, nguồn nước mặt từ sông Mã và các hệ thống suối, cùng với nguồn nước ngầm dồi dào, là nền tảng cho mọi hoạt động sống và sản xuất. Người dân chủ yếu dựa vào các nguồn này để tưới tiêu nông nghiệp, chăn nuôi và phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Do đó, bất kỳ sự suy giảm nào về chất lượng nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế người dân và an ninh lương thực. Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước từ hoạt động khai thác than không chỉ làm giảm năng suất cây trồng mà còn có thể gây ra các bệnh tật liên quan đến đường tiêu hóa và da liễu, tác động sâu sắc đến sức khỏe cộng đồng Cẩm Yên.

II. Phân tích các tác động môi trường từ mỏ than Yên Duyệt

Hoạt động khai thác than tại mỏ Yên Duyệt gây ra một chuỗi các tác động môi trường phức tạp, trong đó ô nhiễm nguồn nước là vấn đề nhức nhối nhất. Nguồn ô nhiễm chính xuất phát từ nước thải mỏ than, được hình thành do nước mưa chảy tràn qua các bãi chứa than, bãi thải đất đá và nước rò rỉ từ trong hầm lò. Đặc trưng của loại nước thải này là độ pH rất thấp, tạo ra hiện tượng axit mỏ (AMD), hòa tan các kim loại nặng trong nước như sắt (Fe) và mangan (Mn) từ các vỉa than và đất đá. Bên cạnh đó, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) cực kỳ cao làm cho nước bị đục, cản trở ánh sáng và ảnh hưởng đến quang hợp của sinh vật thủy sinh. Theo kết quả phân tích từ khóa luận, nước thải tại mỏ có chỉ số pH chỉ từ 2.1-2.5, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng an toàn của quy chuẩn chất lượng nước QCVN 40:2011/BTNMT (5.5-9). Hàm lượng Fe có nơi lên tới 60.525 mg/l, cao gấp 12 lần tiêu chuẩn cho phép. Những chất ô nhiễm này khi không được xử lý và thải trực tiếp ra môi trường sẽ gây suy thoái chất lượng nước mặt, hủy hoại hệ sinh thái thủy sinh, và có nguy cơ thấm sâu xuống lòng đất, làm ô nhiễm chất lượng nước ngầm, đe dọa nguồn nước sinh hoạt thiết yếu của người dân.

2.1. Nguồn gốc nước thải mỏ than và các chất ô nhiễm đặc thù

Nước thải mỏ than Yên Duyệt phát sinh từ hai nguồn chính: nước thấm trong hầm lò và nước mưa chảy tràn bề mặt. Nước trong hầm lò tiếp xúc trực tiếp với các khoáng chất, đặc biệt là pyrite (FeS₂), gây ra quá trình oxy hóa tạo thành axit sulfuric (H₂SO₄), là nguyên nhân chính của hiện tượng axit mỏ (AMD). Nước mưa chảy qua các khu vực khai thác, bãi thải cuốn theo đất đá, than vụn và dầu mỡ từ thiết bị máy móc. Các chất ô nhiễm đặc thù bao gồm: chất rắn lơ lửng (TSS), độ pH thấp, nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước như Fe, Mn, và các chỉ số ô nhiễm hữu cơ như COD, BOD₅.

2.2. Hiểm họa từ axit mỏ AMD và kim loại nặng trong nước

Axit mỏ (AMD) là một trong những tác động môi trường nguy hiểm nhất từ khai thác than. Nó làm giảm đột ngột độ pH của nguồn nước, khiến hầu hết các loài sinh vật thủy sinh không thể tồn tại. Môi trường axit còn hòa tan các kim loại độc hại từ đất đá, làm tăng nồng độ Fe, Mn trong nước lên mức nguy hiểm. Kim loại nặng trong nước khi tích tụ trong chuỗi thức ăn có thể gây ra các bệnh mãn tính cho con người, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gan và thận. Đây là mối đe dọa tiềm tàng và lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng Cẩm Yên nếu không có giải pháp xử lý ô nhiễm hiệu quả.

III. Phương pháp đánh giá tác động môi trường tại xã Cẩm Yên

Để có được những kết luận khoa học và khách quan, nghiên cứu đã áp dụng một hệ thống phương pháp luận chặt chẽ để đánh giá tác động môi trường (ĐTM) từ mỏ than Yên Duyệt. Cốt lõi của quá trình này là hoạt động quan trắc môi trường thông qua việc lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thu thập và kế thừa tài liệu từ chính quyền địa phương và công ty, kết hợp với điều tra, khảo sát thực địa để xác định các điểm nóng ô nhiễm. Phương pháp phỏng vấn người dân và công nhân mỏ cũng được sử dụng để thu thập thông tin định tính về nhận thức và các ảnh hưởng thực tế lên đời sống. Việc lấy mẫu được thực hiện một cách có hệ thống, bao gồm 10 mẫu nước mặt tại các vị trí khác nhau dọc theo suối và sông Mã, 5 mẫu nước ngầm từ các giếng khoan và giếng đào của người dân ở các khoảng cách khác nhau so với khu mỏ, và 4 mẫu nước thải mỏ than trực tiếp tại nguồn. Tất cả các mẫu sau đó được phân tích dựa trên các chỉ tiêu hóa lý quan trọng như pH, TSS, COD, BOD₅, và hàm lượng các ion kim loại. Cuối cùng, kết quả phân tích được so sánh chi tiết với các quy chuẩn chất lượng nước QCVN hiện hành để đưa ra kết luận chính xác về mức độ ô nhiễm.

3.1. Quy trình lấy mẫu và quan trắc chất lượng nước mặt nước ngầm

Quy trình quan trắc môi trường được thực hiện nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN). Đối với chất lượng nước mặt, các mẫu được lấy ở các khoảng cách từ 100m đến 1800m so với khu vực khai thác, cả ở thượng lưu và hạ lưu để so sánh. Đối với chất lượng nước ngầm, các mẫu được lấy từ giếng của các hộ dân cách mỏ từ 50m đến 1200m. Việc lựa chọn vị trí lấy mẫu khoa học giúp khoanh vùng và xác định mức độ lan tỏa của các chất ô nhiễm từ nguồn thải, cung cấp dữ liệu nền tảng cho việc đánh giá tác động môi trường (ĐTM).

3.2. Phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm và so sánh với QCVN

Các mẫu nước được phân tích tại phòng thí nghiệm để xác định 9 thông số chính: pH, độ cứng, TSS (chất rắn lơ lửng), COD, BOD₅, Fe, Mn, NH₄⁺, NO₂⁻. Kết quả thu được sau đó được đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước, bao gồm QCVN 08-MT:2015/BTNMT (nước mặt), QCVN 09:2015/BTNMT (nước ngầm), và QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp). Phương pháp so sánh này là cơ sở pháp lý và khoa học để khẳng định tình trạng ô nhiễm và xác định các thông số vượt ngưỡng cần được ưu tiên xử lý.

IV. Kết quả nghiên cứu Chất lượng nước Cẩm Yên bị suy giảm

Kết quả phân tích từ nghiên cứu đã vẽ nên một bức tranh đáng báo động về ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến môi trường nước xã Cẩm Yên. Bằng chứng rõ ràng nhất đến từ việc phân tích nước thải mỏ than, cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt xa quy chuẩn chất lượng nước QCVN. Cụ thể, hàm lượng TSS (chất rắn lơ lửng) trong một mẫu nước thải lên tới 1424 mg/l, cao gấp 14 lần giới hạn cho phép. Tương tự, nồng độ sắt (Fe), một loại kim loại nặng, đạt 60,525 mg/l, cao hơn 12 lần tiêu chuẩn. Độ pH cực thấp (chỉ từ 2,1 đến 2,5) khẳng định sự hiện diện của hiện tượng axit mỏ (AMD). Những chất ô nhiễm này sau khi đổ ra môi trường đã gây suy thoái nghiêm trọng chất lượng nước mặt. Các dòng suối gần khu vực khai thác có dấu hiệu bị ô nhiễm nặng, nước đục và có váng sắt màu cam. Điều này không chỉ tiêu diệt hệ sinh thái thủy sinh mà còn khiến nguồn nước không thể sử dụng cho tưới tiêu. Đáng lo ngại hơn, phân tích chất lượng nước ngầm tại các giếng dân sinh gần mỏ cũng cho thấy các dấu hiệu ô nhiễm ban đầu. Mặc dù nhiều chỉ số vẫn trong ngưỡng an toàn, sự xuất hiện của kim loại và sự thay đổi trong một số thông số cho thấy nguy cơ ô nhiễm đang dần lan rộng, đe dọa nguồn nước sạch duy nhất của nhiều hộ gia đình.

4.1. Bằng chứng ô nhiễm nước mặt Nồng độ TSS và Fe vượt ngưỡng

Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại các con suối xuôi dòng từ khu vực khai thác cho thấy sự gia tăng đột biến của hàm lượng TSS và sắt (Fe). Nước trở nên đục ngầu, đáy suối bị phủ một lớp cặn màu đỏ cam do sắt kết tủa. Điều này làm giảm lượng oxy hòa tan, cản trở sự phát triển của thực vật thủy sinh và tiêu diệt các loài cá, tôm. Tình trạng này là bằng chứng trực tiếp cho thấy hoạt động khai thác than đã làm suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái thủy sinh và chất lượng nguồn nước tưới tiêu.

4.2. Đánh giá chất lượng nước ngầm và rủi ro cho sức khỏe cộng đồng

Phân tích các mẫu nước giếng khoan và giếng đào cho thấy, mặc dù chất lượng nước ngầm phần lớn vẫn nằm trong giới hạn của QCVN 09:2015/BTNMT, nhưng đã có sự gia tăng nhẹ về hàm lượng Mangan (Mn) và độ cứng ở các giếng gần khu vực khai thác nhất. Đây là dấu hiệu cảnh báo sớm về khả năng các chất ô nhiễm từ bề mặt đang thấm xuống tầng nước ngầm. Nếu không có biện pháp ngăn chặn, nguồn nước sinh hoạt của người dân sẽ bị đe dọa, tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh tật, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng Cẩm Yên.

V. Top giải pháp xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường hiệu quả

Để giải quyết tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại xã Cẩm Yên, nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, tập trung vào công nghệ, quản lý và quy hoạch. Về mặt kỹ thuật, giải pháp xử lý ô nhiễm quan trọng nhất là xây dựng hệ thống xử lý nước thải mỏ than đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường. Công nghệ được đề xuất bao gồm các bể lắng để loại bỏ TSS (chất rắn lơ lửng), sau đó trung hòa pH để khắc phục tình trạng axit mỏ (AMD) và sử dụng các phương pháp hóa lý để kết tủa, loại bỏ kim loại nặng trong nước. Về quản lý, cần tăng cường vai trò giám sát của Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa và các cơ quan chức năng địa phương. Hoạt động quan trắc môi trường phải được thực hiện định kỳ và công khai kết quả. Doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt. Về dài hạn, giải pháp quy hoạch là chìa khóa cho sự phát triển bền vững. Cần quy hoạch các bãi thải đất đá một cách khoa học, có hệ thống thu gom và xử lý nước rò rỉ. Quan trọng hơn, cần có kế hoạch chi tiết cho việc phục hồi môi trường sau khai thác, bao gồm việc trồng cây xanh trên các bãi thải để chống xói mòn và cải tạo cảnh quan, trả lại môi trường sống an toàn cho cộng đồng.

5.1. Các biện pháp kỹ thuật xử lý nước thải mỏ than tiên tiến

Giải pháp công nghệ - kỹ thuật là ưu tiên hàng đầu. Một hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh cần bao gồm: (1) Bể lắng sơ cấp để loại bỏ các hạt rắn kích thước lớn. (2) Bể trung hòa, sử dụng vôi hoặc các chất kiềm khác để nâng độ pH, khắc phục tình trạng axit mỏ (AMD). (3) Bể phản ứng và keo tụ, tạo bông để loại bỏ các kim loại nặngTSS còn lại. (4) Bể lọc và khử trùng trước khi xả thải. Việc áp dụng công nghệ này sẽ giúp nước thải mỏ than đáp ứng quy chuẩn chất lượng nước QCVN.

5.2. Tăng cường quản lý và vai trò của các cơ quan chức năng

Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật phụ thuộc lớn vào công tác quản lý. Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa cần tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất việc tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Cần thiết lập các trạm quan trắc môi trường tự động tại các điểm xả thải. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức và đào tạo cho đội ngũ công nhân, cán bộ quản lý của mỏ than về trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng là một giải pháp quản lý quan trọng, giúp ngăn ngừa sự cố ngay từ gốc.

5.3. Kế hoạch phục hồi môi trường sau khai thác một cách bền vững

Hoạt động khai thác không thể kéo dài mãi mãi. Do đó, việc lập kế hoạch phục hồi môi trường sau khai thác là bắt buộc. Kế hoạch này cần bao gồm các hạng mục như san gạt, cải tạo lại địa hình các bãi thải; phủ một lớp đất màu và trồng lại thảm thực vật bản địa để chống xói mòn, tái tạo hệ sinh thái. Quá trình này không chỉ giúp cải thiện cảnh quan mà còn giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm tồn dư, đảm bảo môi trường an toàn và bền vững cho sinh kế người dân và các thế hệ tương lai.

04/10/2025
Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tại mỏ than yên duyệt tới chất lượng nước xã cẩm yên huyện cẩm thủy tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua nhờ đƣờng lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Song song với việc phát triển kinh tế thì kéo theo hệ lụy của nó là các vấn đề môi trƣờng diễn ra phức tạp. Nguy cơ ô nhiễm ở tình trạng báo động đòi hỏi sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng. Bất kì hoạt động kinh tế xã hội cũng nhƣ trong đời sống sinh hoạt con ngƣời đều phải sử dụng các nguồn năng lƣợng khác nhau.

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về khoa học kĩ thuật trong việc tìm kiếm năng lƣợng mới, song chúng chƣa thể thay thế cho nhiên liệu hóa thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào nhƣ than đá. Quá trình khai thác và đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch có ảnh hƣởng rất lớn đến môi trƣờng đặc biệt là khai thác và sử dụng than. Nếu nhƣ quá trình đốt cháy than tạo ra các khí nhà kính thì quá trình khai thác và chế biến than lại gây ô nhiễm, suy thoái, và có những sự cố môi trƣờng diễn ra ngày càng phức tạp, đặt con ngƣời trƣớc sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên đã ảnh hƣởng trở lại tới phát triển kinh tế của con ngƣời. Hoạt động khai thác than có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc, xong việc khai thác thiếu quy hoạch tổng thể, không quan tâm đến cảnh quan môi trƣờng đã và đang làm biến động nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣ mất dần đất canh tác, gây ô nhiểm nguồn nƣớc ảnh hƣởng tới tài nguyên sinh vật và sức khoẻ cộng đồng.

Vì vậy việc bảo vệ môi trƣờng là một vấn đề vô cùng phức tạp và khó khăn đòi hỏi mọi ngƣời cùng tham gia thì mới hy vọng giảm thiểu ô nhiễm, đặc biệt việc ô nhiễm nguồn nƣớc gây ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe và nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân. Thanh Hóa là một tỉnh nằm ở cực bắc của Trung Bộ Việt Nam, địa hình nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam với rất nhiều loại tài nguyên khoáng sản trong đó có than đá. Nhận thấy quá trình khai thác than đã gây tác động rất nhiều đến môi trƣờng. Vì vậy khóa luận “Đánh giá tác động môi trường nước từ hoạt động khai thác mỏ than Yên Duyệt Xã Cẩm Yên, Huyện Cẩm Thủy, Tỉnh Thanh Hóa” đƣợc thực hiện.

1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về môi trƣờng nƣớc 1. Giới thiệu chung về tài nguyên nước Trên hành tinh chúng ta, nƣớc tồn tại khắp nơi: trên mặt đất, trong biển và đại dƣơng, dƣới đất và trong không khí dƣới các dạng: lỏng (nƣớc sông, suối, ao hồ, biển, khí (hơi nƣớc) và rắn (băng tuyết). Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), lƣợng nƣớc trong thủy quyển đƣợc phân bố nhƣ sau: Lƣợng nƣớc trong thủy quyển: 1386.106 km3 100% Nƣớc ngọt: 35.106 km3 2,5% Nƣớc mặn: 1351.

Vai trò của tài nguyên nước Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên trái đất. Nếu không có nƣớc thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên trái đất, thiếu nƣớc thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại đƣợc. Nƣớc có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con ngƣời có thể nhịn ăn đƣợc vài ngày, nhƣng không thể nhịn uống nƣớc. Nƣớc chiếm khoảng 70% trọng lƣợng cơ thể, 65-75% trọng lƣợng cơ, 50% trọng lƣợng mỡ, 50% trọng lƣợng xƣơng.

Đối với sinh vật, nƣớc chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lƣợng rất cao, từ 50 - 90% khối lƣợng cơ thể sinh vật là nƣớc, có trƣờng hợp nƣớc chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% nhƣ ở một số cây mọng nƣớc, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức). Nƣớc là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân cực (ƣa nƣớc) nhƣ hydroxyl, amin, các boxyl… Nƣớc là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ. Nƣớc là môi trƣờng hoà tan chất vô cơ và phƣơng tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dƣỡng ở động vật. Nƣớc tham gia vào quá trình trao đổi năng lƣợng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.

Nƣớc còn là môi trƣờng sống của rất nhiều 2 loài sinh vật. Nƣớc giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật, nƣớc còn là môi trƣờng sống của nhiều loài sinh vật. Đối với sản xuất nông nghiệp tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nƣớc đề phát triển. Đồng thời nƣớc còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dƣỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất, làm tăng sản lƣợng lƣơng thực.

Nƣớc cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn. Nƣớc dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học. Mỗi ngành công nghiệp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lƣợng nƣớc, loại nƣớc khác nhau. Nƣớc góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Nếu không có nƣớc thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại. Hiện trạng về tài nguyên nước ở Việt Nam Giống nhƣ một số nƣớc trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Thực trạng ô nhiễm nƣớc mặt: Hiện nay chất lƣợng nƣớc ở vùng thƣợng lƣu các con sông chính còn khá tốt. Tuy nhiên ở các vùng hạ lƣu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề.

Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lƣợng nƣớc đổ về các con sông giảm. Chất lƣợng nƣớc suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu nhƣ: BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ví dụ nhƣ sông Thị Vải, là con sông ô nhiễm nặng nhất trong hệ thống sông Đồng Nai, có một đoạn sông chết dài trên 10km. Giá trị DO thƣờng xuyên dƣới 0,5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan (0,04 mg/l).

Với giá trị gần bằng 0 nhƣ vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống. Thực trạng ô nhiễm nƣớc dƣới đất: Hiện nay nguồn nƣớc dƣới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhƣ bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch 3 đã làm cho mực nƣớc dƣới đất bị hạ thấp. Hiện tƣợng này ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long. Khai thác nƣớc quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tƣợng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển.

Nguồn gốc gây ô nhiễm nước Về nguồn gốc gây ô nhiễm nƣớc có thể là tự nhiên hay nhân tạo. Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mƣa, tuyết tan. Nƣớc mƣa rơi xuống mặt đất, mái nhà, khu công nghiệp… kéo theo các vết bẩn xuống sông, hồ, hoặc các sản phẩm của các hoạt động phát triển của sinh vật, vi sinh vật và các xác chết của chúng. Còn sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nƣớc thải sinh hoạt, công nghiệp, giao thông vận tải, thuốc trừ sâu diệt cỏ, và phân bón trong nông nghiệp.

Các nguồn thải ra nƣớc thải sinh hoạt: Từ nhà ở trong các khu dân cƣ đô thị. Từ các bệnh viện, cơ sở y tế, phòng khám chữa bệnh. Từ các công trình dịch vụ công cộng nhƣ: khách sạn, nhà hàng, công trình thể thao, vui chơi giải trí, bể bơi, chợ, nơi rửa xe, cơ quan, trƣờng học, ký túc xá, bến tàu xe, nhà vệ sinh công cộng, giết mổ gia súc… Nƣớc rò rỉ từ các bãi rác. Nƣớc thải từ sản xuất công nghiệp: Chứa hàm lƣợng chất hữu cơ lớn: nhƣ công nghiệp thực phẩm, công nghiệp thuộc da, dầu khí.

Chứa nhiều hóa chất độc hại nhƣ sản xuất thuốc trừ sâu, phân bón, hóa chất. Chứa nhiều kim loại năng nhƣ luyện kim, cơ khí, khai khoáng. Nƣớc thải chứa nhiều kim dầu mỡ: nghành hóa dầu. Nƣớc thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và làng nghề chứa nhiều chất dinh dƣỡng, chất hữu cơ do bón phân, chứa dƣ lƣợng hóa chất bảo vệ thực vật.

Nƣớc thải y tế: Bao gồm nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải khám chữa bệnh. Chứa các chất hữu cơ, dầu mỡ, chất khoáng, các phế phẩm. Chứa các vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm. Chứa các chất khử trùng, dƣ lƣợng thuốc kháng sinh, đồng vị phóng xạ.

Chứa một số hoá chất độc hại và kim loại nặng. Tổng quan về hoạt động khai thác than tại Việt Nam Ngành than là ngành kinh tế chủ lực quan trọng của Việt Nam, bảo đảm nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp quan trọng nhƣ sản xuất điện, thép, xi 4 măng, phân bón…; thu hút lƣợng lớn lao động và đem lại nguồn lợi nhuận không nhỏ cho đất nƣớc. Ngành than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 175 năm. Trong đó, dấu mốc quan trọng là khi Tổng Công ty than Việt Nam đƣợc thành lập năm 1994, Thủ tƣớng Chính phủ đã chỉ đạo giao vốn, giao tài nguyên, trữ lƣợng than cho Tổng công ty để chủ động thăm dò, khai thác và bảo vệ.

Năm 2005, Tổng Công ty Than Việt Nam và Tổng Công ty Khoáng sảnViệt Nam đƣợc tổ chức lại dƣới hình thức Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), hoạt động với các đơn vị thành viên theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Trữ lƣợng than của nƣớc ta tập trung 67% tại Quảng Ninh. TKV hiện có khoảng 30 mỏ và các điểm khai thác lộ thiên trong đó có 5 mỏ có công suất từ 1 triệu tấn đến trên 3 triệu tấn/năm, gồm: Cao Sơn, Cọc Sáu, Hà Tu, Đèo Nai, Núi Béo. Có khoảng 20 mỏ khai thác hầm lò trong đó có 7 mỏ có công suât từ 1 triệu tấn trở lên là: Mạo Khê, Vàng Danh, Nam Mẫu, Hà lầm, Mông Dƣơng, Khe Chàm, Dƣơng Huy.

Công nghệ khai thác than  Công nghệ khai thác mỏ lộ thiên Khai thác mỏ lộ thiên là một hình thức khai thác mỏ mà theo đó cần phải bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản cần khai thác. Khai thác mỏ lộ thiên bắt đầu từ giữa thế kỷ 16. Ở thế kỷ 20, hình thức này trở nên phổ biến, và là hình thức chính để khai thác than ở Hoa Kỳ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ