ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xƣa trong ịch sử nhân loại, du lịch đã đƣợc ghi nhận nhƣ một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống văn ho - xã hội và đang phát triển mạnh mẽ thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam c đầy đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Tuy nhiên du lịch ở nƣớc ta mới chỉ dừng lại ở du lịch đại chúng Do đ , vấn đề bảo vệ môi trƣờng vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Tỉnh Sơn La nằm ở phía Tây Bắc, cách Hà Nội hơn 300 m theo quốc lộ 6 với đƣờng đi đã đƣợc nâng cấp rất thuận tiện. Đến với Sơn La, bạn sẽ đƣợc ngắm nhìn một vùng núi non hùng vĩ và h m ph về giá trị văn h a đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc, cũng nhƣ cuốn hút trong vòng xòe, ngây ngất say trong men rƣợu cần, cùng thả hồn theo ánh lửa bập bùng và giọng hát ngọt ngào, vang xa trong đ m hội nhạc rừng. Một trong những khu du lịch nổi tiếng của Sơn La hông thể không kể đến khu du lịch Thác Dải Yếm. Khu du lịch Thác Dải Yếm, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn Lalà tọa lạc tại xã Mƣờng Sang, cách thị trấn Mộc Châu 8km.
Với không gian yên bình, gần gũi với thiên nhiên, nằm dƣới chân đồi, bao quanh là những đồi chè, vƣờn mận… Thác Dải Yếmsẽ à địa điểm ý tƣởng dành cho du h ch đến thăm quan, nghỉ dƣỡng và rất thuận tiện đến c c điểm du lịch nổi tiếng của Mộc Châu.Tuy nhiên sự có mặt của du khách cùng với những hoạt động du lịch đã c những ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng nơi đây. Những t c động xấu của hoạt động du lịch n tài nguy n môi trƣờng ngày càng là nỗi lo không chỉ riêng của ngƣời dân địa phƣơng Việc phát triển du lịch đặt ra những thách thức lớn cho khu vực Thác Dải Yếm, huyện Mộc Châu nhƣ ô nhiễm nƣớc, hông hí, đất ngày càng gia tăng, vấn đề rác thải, khai thác tài nguyên bừa bãi… phần nào gây ra tác động xấu đếnmôi trƣờng nơi đây Xuất phát từ thực tế và tính cấp thiết của vấn đề, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đ nh gi ảnh hƣởng của hoạt động du lịch đến môi trƣờng tại khu du lịch sinh thái Thác Dải Yếm, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” 1 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Các khái niệm liên quan 1. Các khái niệm Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, h m ph và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích h c nữa, trong thời gian liên tục nhƣng hông qu một năm, ở b n ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng oại trừ các du hành mà có mục đích chính à iếm tiền.
Du lịch cũng à một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trƣờng, giúp khách du lịch vừa đƣợc nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chƣa biết. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nƣớc, tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời ao động (hƣớng dẫn viên, các dịch vụ liên quan. Hiện nay ngành du lịch đang ph t triển mạnh ở c c nƣớc thuộc thế giới thứ ba. Nhu cầu về du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trƣờng cần phải đƣợc coi trọng.
Có một dạng du lịch nữa, đ à du ịch xúc tiến thƣơng mại, vừa đi du ịch vừa kết hợp àm ăn, cũng rất phổ biến tại Việt Nam. Theo Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế: “Du ịch sinh thái là du lịch đến những khu thiên nhiên với trách nhiệm góp phần vào công tác bảo tồn môi trƣờng và cải thiện đời sống của ngƣời dân địa phƣơng” Ở Việt Nam, theo các chuyên gia ở Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch thì: “Du ịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh th i và môi trƣờng, c t c động tích cực đến việc bảo vệ môi trƣờng và văn ho , đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phƣơng và c đ ng g p cho c c nỗ lực bảo tồn” Nhƣ vậy, xét về bản chất, du lịch sinh thái là loại hình du lịch c c c đặc trƣng sau: - Hấp dẫn về tự nhiên 2 - Bền vững về sinh thái - Cải thiện môi trƣờng, bảo tồn thiên nhiên thông qua giáo dục và giải thích nhằm phát triển bền vững tài nguyên du lịch. - Cung cấp những lợi ích cho khu vực và địa phƣơng 1. Các đặc trưng của ngành du lịch Mọi dự án phát triển du lịch đƣợc thực hiện tr n cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhi n, văn ho , ịch sử cùng với c c cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo.
Kết quả của qu trình hai th c đ à việc hình thành các sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguy n, đem ại nhiều lợi ích cho xã hội Trƣớc ti n đ à c c ợi ích về kinh tế xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc àm, nâng cao đời sống kinh tế cộng đồng địa phƣơng thông qua c c dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn ho , ịch sử và sự đa dạng của thi n nhi n nơi c c c hoạt động phát triển du lịch. Sau nữa là những lợi ích đem ại cho du khách trong việc hƣởng thụ các cảnh quan thiên nhiên lạ, các truyền thống văn ho ịch sử. Những đặc trƣng cơ bản của ngành du lịch bao gồm: - Tính đa ngành Tính đa ngành đƣợc thể hiện ở đối tƣợng khai thác phục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn ho , cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo. Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang ại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nƣớc, nông sản, hàng hoá.
- Tính đa thành phần Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần du khách, những ngƣời phục vụ du lịch, các cộng đồng nhân dân trong khu du lịch, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ tham gia vào các hoạt động du lịch. - Tính đa mục tiêu Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn ho , nâng cao chất ƣợng cuộc sống của du h ch và ngƣời tham gia hoạt 3 động dịch vụ, mở rộng sự giao ƣu văn ho , inh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp của mọi thành viên trong xã hội. - Tính liên vùng Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể c c điểm du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốc gia khác nhau. - Tính mùa vụ Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cƣờng độ cao trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc của những ngƣời hƣởng thụ sản phẩm du lịch).
- Tính chi phí Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du ịch của các khách du lịch à hƣởng thụ sản phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền 1. Mối quan hệ giữa du lịch và môi trƣờng 1.Trên thế giới Sự phát triển của du lịch đã c t c động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội và nâng cao chất ƣợng sống của ngƣời dân ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, du lịch còn đƣợc xem là cầu nối giữa các quốc gia, mang đến cho xã hội tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, và hoà bình giữa các dân tộc. Tuy nhiên với con số khoảng 600 triệu ngƣời đi du ịch mỗi năm đã tạo ra những thách thức đ ng ể cả về mặt sinh thái, kinh tế và xã hội.
Về sinh thái, du lịch thi n nhi n sau đ đã để lại những quang cảnh hoang tàn. Các loài thú hoang bị quấy nhiễu buộc phải rời bỏ nơi ở hoặc bị tiêu diệt dần, các cánh rừng bị tàn ph để lấy không gian cắm trại, lấy củi đốt hoặc cung cấp hàng ƣu niệm. Ngày nay có nhiều du khách và chính quyền địa phƣơng nhận thấy tác hại của du lịch thi n nhi n đến giá trị của thiên nhiên và mối quan tâm của nhân dân địa phƣơng Du ịch thiên nhiên càng phát triển thì những rủi ro nó mang lại cho thi n nhi n và đời sống xã hội càng lớn.Việc x c định sức 4 chứa của một khu du lịch vẫn đang à một thách thức lớn đối với những nhà quản lý và lập kế hoạch. X c định giới hạn có thể cảm nhận sự thay đổi môi trƣờng sống gây ra bởi hoạt động du lịch, đảm bảo tính bền vững của khu vực…Du ịch tự nhiên phát triển đã nhƣ một loại hình du lịch đến rồi lại chạy xa vô trách nhiệm.
Một sự tràn vào của dòng ngƣời yêu mến thiên nhiên ở những điểm mới nhất, sau đ ại bỏ rơi sau hi đã hàm ph và àm suy tho i Về kinh tế, các nhà quản lý du lịch, quản lý các khu bảo tồn và chính quyền địa phƣơng đều có chung một điểm là họ thƣờng xuyên tìm kiếm lợi nhuận kinh tế từ du lịch sinh thái. Tuy nhiên, trong trong những vấn đề này họ phải đối diện với hai khái niệm: giá trị kinh tế và lợi ích kinh tế.