Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Do vị trí, tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, giới khoa học trong nước và ngoài nước đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể phân chia thành các nhóm sau. Nhóm nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp - Các nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp gắn với cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Cuốn “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” của Trần Đình Thắng [151] là công trình nghiên cứu công phu, toàn diện dưới góc độ luật học về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền.
Bắt đầu từ trình bày khái niệm, định dạng đặc điểm, phân loại, nhiệm vụ, quyền hạn, khái lược những vấn đề lịch sử, phân tích thực trạng,. Công trình đã xác định những yêu cầu và đề xuất giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Tác giả Đào Trí Úc trong cuốn “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [183] đã đề cập đến khái niệm tư pháp, nhiệm vụ, nguyên tắc cải cách tư pháp; đổi mới chế độ thẩm phán và đội ngũ thẩm phán; thực trạng đội ngũ thẩm phán toà án nhân dân địa phương. Cuốn “Góp phần tìm nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền” của Bùi Ngọc Sơn [121] trong trình bày những vấn đề chung về Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền, đã dành một phần bài về toà án trong nhà nước pháp quyền với tính độc lập trong xét xử trong hoạt động; vai trò độc lập toà án trong việc bảo đảm thực hiện các yêu cầu nhà nước pháp quyền; yêu cầu tăng trách nhiệm và nâng cao chất lượng, quan tâm đúng mức đời sống vật chất cho các thẩm phán. 7 Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí trong cuốn:“Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” [27] đã đề cập một số khía cạnh đáng quan tâm.
Đây là công trình nghiên cứu về cải cách tư pháp từ sau khi có Nghị quyết 08 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp. Công trình đã phân tích, khái quát một số vấn đề chung trong cải cách tư pháp như mục tiêu, đối tượng, phương hướng và các giải pháp cơ bản thực hiện của cải cách tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền; đặc biệt đề cập đến lương tâm của người thẩm phán trong xét xử đảm bảo quyền con người trong cải cách tư pháp. Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong cuốn “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” [30] đã đi sâu làm rõ vị trí, vai trò của thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền; thể chế tư pháp ở một số quốc gia và đặc biệt làm rõ một số vấn đề thể chế tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến các vấn đề như: quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Toà án ở Việt Nam gắn liền với hoạt động của đội ngũ thẩm phán, nghiên cứu nhiệm kỳ của thẩm phán, vấn đề thay thế chế định bầu cử thẩm phán bằng bổ nhiệm theo Hiến pháp 1992, vấn đề tuyển chọn thẩm phán, vấn đề trách nhiệm, nâng cao chất lượng, biện pháp ổn định công tác cho đội ngũ thẩm phán. Tác giả Phạm Quý Tỵ với bài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân” [147] đã khái quát mô hình toà án được tổ chức theo thẩm quyền xét xử; đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử; phân định rõ ràng thẩm quyền quản lý và thẩm quyền tố tụng trong các cơ quan toà án; đặc biệt đề cập đến đổi mới trình tự thủ tục bổ nhiệm thẩm phán theo hướng thẩm phán được bổ nhiệm dài hạn, không theo nhiệm kỳ; Nhà nước cần phải đảm bảo về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ cho thẩm phán, tạo điều kiện để thẩm phán độc lập khi xét xử.
Tác giả Trương Hoà Bình với bài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [6] đã khái quát thực trạng, những bất cập, hạn chế của đội ngũ cán bộ tư pháp 8 trong cơ quan Toà án nhân dân như số lượng, chất lượng, cơ cấu, biên chế. Đặc biệt công trình đã đưa ra những định hướng lớn trong đổi mới hệ thống toà án theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc đơn vị hành chính; làm rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động và biên chế đội ngũ cán bộ của toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, Toà án tối cao, qua đó cũng kiến nghị về xây dựng đội ngũ cán bộ cho phù hợp với từng loại toà án. Nhóm công trình tiếp cận từ góc độ chính trị học hoặc luật học, bàn sâu sắc các khía cạnh kỹ thuật tư pháp với những yêu cầu đặt ra cho đội ngũ cán bộ tư pháp cả về phẩm chất và năng lực. Xây dựng cán bộ tư pháp trong các nghiên cứu này gắn chặt với yêu cầu cải cách tư pháp theo đường lối, chủ trương của Đảng.
Tất nhiên, hạn chế của những nghiên cứu này là chưa cho thấy rõ tiến trình lịch sử, vai trò lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư pháp, cơ sở lý thuyết của các đề xuất này, thậm chí nhiều nghiên cứu chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi lý thuyết cấu trúc quyền lực tư pháp trong các mô hình dân chủ phương Tây. Có nghiên cứu lại bị ảnh hưởng nhiều cách tiếp cận của các lý thuyết về nhà nước Xô-viết trước đây, sâu xa là nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, nên lĩnh vực tư pháp nói chung và công chức tư pháp đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng một cách xơ cứng. - Các nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp. Tác giả Đào Xuân Tiến với bài viết “Đào tạo thẩm phán” [145] đã khái quát năng lực, trình độ chuyên môn của các thẩm phán.
Tác giả nêu lên thực trạng công tác đào tạo thẩm phán trước năm 2002 còn chồng chéo, nhiều cơ sở đào tạo do nhiều cơ quan quản lý khác nhau; đưa ra hướng đổi mới như xây dựng chương trình, đào tạo lại đội ngũ thẩm phán về chuyên môn nghiệp vụ và bổ sung những kiến thức ngoại ngữ, tin học; kiến thức về sở hữu trí tuệ; tập trung các cơ sở đào tạo thành một mối. Bài viết “Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Phạm Mạnh Hùng [92] đã phân tích tính đặc thù của đào 9 tạo nguồn để bổ nhiệm đối với các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên; có so sánh với công tác đào tạo của một số nước; đặt ra yêu cầu chuyên môn hoá của các ngành như đào tạo thẩm phán cần giao cho ngành toà án đảm nhiệm và kiểm sát viên do ngành kiểm sát thực hiện. Tác giả Nguyễn Hữu Hậu với bài viết “Một số suy nghĩ về định hướng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế” [75] đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ kiểm sát viên như sự chồng chéo giữa Học viện tư pháp với Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (nay là Đại học Kiểm sát); tình hình nhận thức chưa đúng mức về công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát là “đào tạo nghề”-một loại hình đào tạo đặc thù ngành kiểm sát; chưa có Hội đồng thẩm định chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát chính thống theo chuẩn quốc gia. Từ đó, tác giả đề xuất một số định hướng về công tác đào tạo, bồi dưỡng; về xây dựng chương trình, hoàn chỉnh giáo trình cho từng loại hình; về đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng; về củng cố phát triển đội ngũ giảng dạy; về cải tạo, nâng cấp cơ sở, vật chất phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tác giả Phan Chí Hiếu “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020” [17] đã nêu lên cơ sở lý luận xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020. Trên cơ sở đó, đề tài khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có chức danh tư pháp, đặc biệt nhấn mạnh đến đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên như đội ngũ thẩm phán còn thiếu về số lượng; cơ cấu đội ngũ thẩm phán chưa đảm bảo; chất lượng đội ngũ thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, trình độ ngoại ngữ tin học; đạo đức thẩm phán. Đề tài khái quát thực trạng chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp; công tác đào tạo kiểm sát viên cũng có những bất cập như thay đổi về tên gọi, chức năng nhiệm vụ của cơ sở đào tạo; còn chồng chéo trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng, trình 10 phê duyệt và tổ chức thực thi Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020, trong đó đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên là một bộ phận.
Ngoài ra còn có một số đề tài khoa học cấp cơ sở nghiên cứu về đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp do Học viện Tư pháp tiến hành, với nhiều chủ đề khác nhau như: “Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn thẩm phán”[80]; “Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [81]; “Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc cải cách tư pháp” [83]. Ngoài ra, ngành Toà án, Kiểm sát, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của ngành, cũng đã triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học về đội ngũ cán bộ của ngành như: “Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao” do Toà án nhân dân tối cao thực hiện [127].