Tổng quan luận án
Công tác tư pháp là một bộ phận cấu thành của quyền lực công, thể hiện quyền uy của Nhà nước đối với xã hội và năng lực bảo vệ công lý. Luận án viện dẫn quan điểm của V.I. Lênin rằng một nền tư pháp tồi sẽ khiến xã hội phải trả giá đắt, cùng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần thứ IV (tháng 2/1948) khẳng định tư pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền, giữ vai trò thực hiện chế độ pháp trị và bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, yêu cầu xây dựng thể chế chính trị trong sạch, bảo vệ quyền con người ngày càng đặt ra gay gắt. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp thực tế còn bộc lộ bất cập; tình trạng bỏ lọt tội phạm, án oan, án sai và vi phạm quyền công dân vẫn diễn ra, làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nhận định đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, thậm chí một bộ phận sa sút phẩm chất đạo đức.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: đến thời điểm nghiên cứu, giới học thuật vẫn thiếu các công trình nghiên cứu có hệ thống, toàn diện từ góc độ lịch sử về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nhằm làm cơ sở khoa học cho các giải pháp cải cách đồng bộ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011, từ đó đúc kết một số kinh nghiệm vận dụng vào công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
Bốn nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Làm rõ yêu cầu khách quan và những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011.
- Phân tích, luận giải, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp qua hai giai đoạn: 2001 - 2005 và 2005 - 2011.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân từ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giai đoạn 2001 - 2011.
- Đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu là tiến trình, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2011.
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên các phương diện:
- Về nội dung: Nghiên cứu quan điểm, chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng đối với các khâu đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm; chế độ chính sách cán bộ và kết quả tác động. Nội hàm cán bộ tư pháp được luận án giới hạn cụ thể vào hai chức danh: Thẩm phán trong cơ quan Tòa án và Kiểm sát viên trong cơ quan Viện kiểm sát.
- Về thời gian: Tập trung trong giai đoạn 2001 - 2011; có sử dụng tư liệu trước năm 2001 và sau năm 2011 để so sánh, đối chiếu.
- Về không gian: Khảo sát trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung vào một số cơ quan tư pháp ở Trung ương và một số địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan thành các nhóm cụ thể:
Nhóm nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp gắn với cải cách tư pháp và Nhà nước pháp quyền: Trần Đình Thắng (2005) nghiên cứu toàn diện dưới góc độ luật học về đặc điểm, nhiệm vụ và thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp; Đào Trí Úc (2005) đề cập chế độ và thực trạng thẩm phán địa phương; Bùi Ngọc Sơn (2004) nghiên cứu tính độc lập xét xử của tòa án trong Nhà nước pháp quyền; Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (2004) tiếp cận từ góc độ cải cách tư pháp sau Nghị quyết số 08-NQ/TW; Nguyễn Đăng Dung (2004) làm rõ thể chế tư pháp, chế định bổ nhiệm thay cho bầu cử thẩm phán; Phạm Quý Tỵ (2004) kiến nghị bổ nhiệm thẩm phán dài hạn; Trương Hòa Bình (2009) phân tích bất cập về biên chế và định hướng đổi mới tòa án theo thẩm quyền xét xử.
Nhóm nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng: Đào Xuân Tiến (2002) chỉ ra sự chồng chéo trong các cơ sở đào tạo thẩm phán trước năm 2002; Phạm Mạnh Hùng (2008) phân tích tính đặc thù của đào tạo nguồn chức danh tư pháp; Nguyễn Hữu Hậu (2008) nêu khó khăn trong đào tạo nghề kiểm sát viên; đề tài cấp bộ của Phan Chí Hiếu (2008) về chiến lược đào tạo, bồi dưỡng chức danh tư pháp đến năm 2020; các đề tài nghiên cứu cấp cơ sở tại Học viện Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao.
Nhóm nghiên cứu về tuyển chọn, bổ nhiệm và quản lý: Đề tài khoa học cấp bộ của Trường Đại học Luật Hà Nội (2003) khảo sát việc sử dụng cử nhân luật sau tốt nghiệp; đề tài cấp bộ của Nguyễn Văn Huyên (2006) nghiên cứu mô hình thi tuyển tư pháp quốc gia.
Nhóm nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp: Trương Thị Hòa (2004) đề xuất cải tiến chương trình đào tạo gắn với kiểm tra, giám sát đạo đức; Hoàng Văn Linh (2005) phân tích phẩm chất liêm chính của thẩm phán; giáo trình "Đạo đức Nghề luật" (2010) của Học viện Tư pháp hợp tác với Dự án JUDGE và CIDA do Giáo sư Farrow tư vấn.
Nhóm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tư pháp: Hồi ký của cựu Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe (2010) về tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa; Bùi Ngọc Sơn (2004), Phạm Quốc Anh (2005), Khuất Văn Nga (2005) làm rõ các phẩm chất "phụng công, thủ pháp, chí công vô tư".
Nhóm nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với tư pháp và đội ngũ cán bộ: Nguyễn Văn Thảo (2000), Trần Đại Hưng (2005), Nguyễn Văn Quyền (2009, 2010), Đặng Đình Tân (2009), công trình lưu hành nội bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), Nguyễn Văn Hiện (2005), đề tài cấp bộ của Trịnh Xuân Toản (2006), nghiên cứu của Thaveeporn Vassavakul (1996) về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng giai đoạn 1991 - 1996; Pip Nicholson (2007) khảo sát ảnh hưởng của tư pháp Liên Xô và tác động của Nghị quyết 08-NQ/TW; Trần Đức Lương (2004), Trần Huy Liệu (2004), Khuất Văn Nga (2005), Nguyễn Đình Lục (2008), Hoàng Thế Liên (2008), Hà Hùng Cường (2009), Đỗ Thị Thúy Hà (2008).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận dưới góc độ luật học, khoa học quản lý hoặc bài viết nghiệp vụ riêng lẻ; chưa có công trình nào tái hiện có hệ thống tiến trình lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011. Các nghiên cứu trước chưa làm rõ bối cảnh lịch sử đóng vai trò "đầu vào" của việc ban hành chủ trương, chưa phản ánh đầy đủ những khó khăn, lực cản và xung đột nội bộ trong khâu tổ chức thực hiện, đồng thời ít khai thác nguồn tư liệu thư tịch gốc để kiểm chứng. Luận án tập trung giải quyết các khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cán bộ và công tác cán bộ. Tác giả vận dụng các tiêu chuẩn đạo đức tư pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh: "Công minh, chính trực, khiêm tốn, thận trọng, khách quan" và "Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư".
Về mặt khái niệm, luận án tiếp cận "quyền tư pháp" theo nghĩa rộng (bao gồm hoạt động xét xử của Tòa án và các hoạt động bảo vệ pháp luật của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, thi hành án); xác định "cán bộ tư pháp" tập trung vào đội ngũ Thẩm phán và Kiểm sát viên.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp nhằm vừa tái hiện tuần tự tiến trình lịch sử, vừa làm rõ bản chất và quy luật vận động của sự lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp bổ trợ gồm phân tích, tổng hợp, thống kê dữ liệu thực tế và so sánh lịch sử.
Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh;
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng; các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương; các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (tiêu biểu như Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005, Chỉ thị số 29-CT/TW năm 1993, Chỉ thị số 34-CT/TW năm 1994, Chỉ thị số 52-CT/TW năm 2000, Chỉ thị số 53-CT/TW năm 2000);
- Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và quyết định của Chính phủ (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 1993, Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg);
- Các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê, đề án công tác cán bộ của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương;
- Hệ thống sách tham khảo, luận án, kỷ yếu hội thảo và các bài báo khoa học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo 8 nhóm nội dung: nghiên cứu chung; đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm; giáo dục đạo đức nghề nghiệp; tư tưởng Hồ Chí Minh; sự lãnh đạo của Đảng đối với tư pháp; chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ; kết quả thực tiễn và kinh nghiệm. Tác giả đánh giá kết quả đạt được của các học giả đi trước, chỉ ra những khoảng trống về tính lịch sử - hệ thống, sự thiếu vắng việc phân tích quá trình hoạch định chính sách và những khó khăn trong tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đó, tác giả xác định 4 câu hỏi nghiên cứu làm định hướng triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2: Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2005
Nội dung chương phân tích bối cảnh đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế (tham gia ASEAN, APEC, ASEM và chuẩn bị gia nhập WTO), làm gia tăng các tranh chấp kinh tế, dân sự có yếu tố nước ngoài và tội phạm xuyên quốc gia, đặt ra yêu cầu mới về năng lực cán bộ tư pháp. Tác giả khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ trước năm 2001: đội ngũ còn thiếu, cơ cấu phân bổ bất hợp lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, tình trạng án oan sai và suy thoái đạo đức nghề nghiệp còn tồn tại.
Để minh chứng cho thực trạng, luận án tổng hợp số liệu về biên chế và trình độ ngành kiểm sát:
| Tiêu chí thống kê trong luận án |
Dữ liệu văn bản ghi nhận |
| Tổng biên chế ngành Kiểm sát nhân dân (năm 1998) |
6.727 người |
| Phân bổ: Viện kiểm sát nhân dân tối cao |
324 người |
| Phân bổ: Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố |
2.279 người |
| Phân bổ: Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện |
3.912 người |
| Phân bổ: Hai trường đào tạo cán bộ kiểm sát |
121 người |
| Tỷ lệ kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật tại VKSND tối cao (trước tháng 10/2002) |
59% |
| Tỷ lệ kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật tại VKSND cấp tỉnh |
54,4% |
| Tỷ lệ kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật tại VKSND cấp huyện |
38,3% |
| Tỷ lệ kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật tại VKS quân sự các cấp |
86,7% |
| Tỷ lệ cán bộ chỉ có trình độ cao đẳng kiểm sát hoặc trung cấp pháp lý |
Khoảng 50% |
Về chủ trương và chỉ đạo, Đại hội IX (4/2001) đề cao trách nhiệm chống oan sai, bảo vệ quyền con người. Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về tư pháp trong thời kỳ đổi mới. Chủ trương tập trung vào các nội dung:
- Sắp xếp đào tạo cử nhân luật tập trung tại Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Chuẩn hóa cán bộ chức danh tư pháp phải có bằng đại học luật và được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo chức danh; chuẩn bị đề án thành lập cơ quan thống nhất đầu mối đào tạo nghề tư pháp;
- Thực hiện thi sát hạch trước khi bổ nhiệm, cải tiến thủ tục bổ nhiệm theo hướng công khai, dân chủ; quy định thời hạn bổ nhiệm;
- Ban hành chính sách tiền lương, phụ cấp trách nhiệm, khen thưởng và đẩy mạnh luân chuyển cán bộ lãnh đạo. Thủ tướng Chính phủ sau đó đã ban hành Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19/03/2002 để triển khai nghị quyết.
Chương 3: Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2005 đến năm 2011
Chương 3 luận giải các nhân tố tác động mới: Việt Nam chính thức gia nhập WTO, đẩy mạnh cải cách Nhà nước theo tinh thần Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011). Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về "Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020", định hình khung chiến lược dài hạn.
Quá trình chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn này tập trung vào các mặt:
- Hoàn thiện thể chế đào tạo: Phê duyệt đề án phát triển Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp; đề án đưa Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành trường trọng điểm; củng cố cơ sở đào tạo của Tòa án và Viện kiểm sát (Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát);
- Quy chuẩn hóa tuyển chọn: Triển khai thi tuyển chức danh tư pháp, thi nâng ngạch thẩm phán và kiểm sát viên; thực hiện quy trình bổ nhiệm chặt chẽ gắn với thẩm định chính trị;
- Chính sách đãi ngộ và quản lý: Thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp thâm niên nghề tư pháp; quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo giữa các cấp và địa phương; tăng cường xử lý kỷ luật đối với cán bộ sai phạm;
- Áp dụng các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 nhằm giải quyết hậu quả án oan, sai và nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ tiến hành tố tụng.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Tác giả phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân:
- Ưu điểm: Đảng đã ban hành được hệ thống chủ trương mang tính chuyên đề, đồng bộ; đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên tăng về số lượng, từng bước chuẩn hóa về trình độ cử nhân luật và nghiệp vụ tố tụng; phương thức lãnh đạo từng bước chuyển từ can thiệp sự vụ sang lãnh đạo bằng đường lối, thể chế và công tác cán bộ.
- Hạn chế: Cơ cấu cán bộ phân bổ không đồng đều giữa các vùng miền; cán bộ cấp huyện còn thiếu; trình độ giải quyết tranh chấp quốc tế, sở hữu trí tuệ còn yếu; phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ còn sa sút; án oan, sai vẫn còn xảy ra; cơ chế bảo vệ cán bộ tư pháp chưa hoàn thiện.
- Nguyên nhân: Nhận thức của một số cấp ủy về vai trò tư pháp chưa đầy đủ; mô hình tổ chức tòa án và viện kiểm sát còn phụ thuộc địa giới hành chính; cơ chế quản lý cán bộ theo ngành dọc còn thiếu đồng bộ; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với rủi ro nghề nghiệp.
Từ thực tiễn, luận án đúc kết 4 kinh nghiệm:
- Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp, kết hợp chặt chẽ nguyên tắc Đảng lãnh đạo với việc tôn trọng nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án và thẩm quyền công tố của Viện Kiểm sát theo quy định pháp luật.
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, kết hợp đào tạo kiến thức pháp luật cơ bản với kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu và bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đổi mới quy trình tuyển chọn, thi tuyển, bổ nhiệm, luân chuyển và đánh giá cán bộ tư pháp bảo đảm tính công khai, minh bạch, có thời hạn và gắn liền với chế độ trách nhiệm cá nhân đối với các sai phạm trong tố tụng.
- Xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ, tiền lương, phụ cấp và điều kiện cơ sở vật chất tương xứng với tính chất đặc thù của hoạt động tư pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các đóng góp mới cụ thể:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011; khẳng định vị trí lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy tư pháp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Về mặt nhận thức lịch sử: Định dạng các đặc trưng trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực tư pháp, phân tích phương thức giải quyết mối quan hệ giữa đảm bảo tính lãnh đạo tập trung của Đảng và tôn trọng nguyên tắc độc lập trong hoạt động nghiệp vụ của thẩm phán và kiểm sát viên.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của công tác cán bộ tư pháp giai đoạn 2001 - 2011; đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn nhằm vận dụng vào quá trình tiếp tục cải cách tư pháp và kiện toàn chức danh tư pháp trong giai đoạn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do nguồn tư liệu và phạm vi xác định của đề tài Lịch sử Đảng, luận án chỉ tập trung khảo sát hai chức danh thẩm phán (ngành Tòa án) và kiểm sát viên (ngành Kiểm sát), chưa bao quát toàn bộ các chức danh bổ trợ tư pháp (như luật sư, công chứng viên, giám định viên, chấp hành viên) hay cơ quan điều tra;
- Địa bàn khảo sát thực tế tập trung chủ yếu ở cấp Trung ương và một số địa phương trọng điểm, chưa bao quát chi tiết đặc thù của các địa bàn vùng sâu, vùng xa, hải đảo;
- Một số tư liệu phản ánh các cuộc thảo luận nội bộ về việc sửa đổi chính sách hoặc tài liệu giải quyết các vụ án oan sai cụ thể còn bị giới hạn tiếp cận bởi tính chất tài liệu lưu trữ nghiệp vụ.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan điều tra và các chức danh bổ trợ tư pháp trong tổng thể hệ thống tư pháp;
- Tiếp tục khảo sát tiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ sau Đại hội XI đến nay, đặc biệt là giai đoạn thi hành Hiến pháp năm 2013 và các luật tổ chức tư pháp sửa đổi năm 2014;
- Nghiên cứu sâu hơn tác động của nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa đối với yêu cầu tiêu chuẩn hóa chức danh thẩm phán và kiểm sát viên trong giai đoạn hiện nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Luật học, Lý luận Nhà nước và Pháp luật tại các học viện chính trị, trường đại học luật;
- Cán bộ làm công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách tại Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương;
- Đội ngũ lãnh đạo và cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Học viện Tư pháp.
Nội dung Chương 2 và Chương 3 có giá trị tư liệu trong việc tra cứu các mốc văn kiện, chủ trương của Đảng giai đoạn 2001 - 2011; Chương 4 cung cấp hệ thống luận cứ và kinh nghiệm lịch sử phục vụ việc xây dựng chính sách cán bộ tư pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "cán bộ tư pháp" được luận án xác định theo phạm vi nào?
Luận án tiếp cận khái niệm cán bộ tư pháp theo nghĩa rộng về mặt lý luận, nhưng trong phạm vi nghiên cứu cụ thể, tác giả tập trung vào hai đối tượng cốt lõi: Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử chuyên nghiệp trong cơ quan Tòa án và Kiểm sát viên làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong cơ quan Viện kiểm sát.
2. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị có ý nghĩa gì đối với công tác tư pháp?
Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Bộ Chính trị về công tác tư pháp trong thời kỳ đổi mới. Nghị quyết đã đặt ra các nhiệm vụ trọng tâm: nâng cao trách nhiệm ngăn ngừa oan sai, bảo vệ quyền con người; quy định đào tạo nguồn tập trung tại hai trường Đại học Luật lớn; chuẩn hóa cán bộ có chức danh tư pháp phải có bằng cử nhân luật và được đào tạo kỹ năng nghề; thực hiện thi sát hạch trước khi bổ nhiệm.
3. Trình độ chuyên môn của đội ngũ kiểm sát viên trước năm 2002 được luận án phản ánh như thế nào?
Theo số liệu do luận án ghi nhận trước tháng 10/2002, tỷ lệ kiểm sát viên đạt trình độ cử nhân luật còn thấp: Viện kiểm sát nhân dân tối cao đạt 59%; Viện kiểm sát cấp tỉnh đạt 54,4%; Viện kiểm sát cấp huyện đạt 38,3%; Viện kiểm sát quân sự các cấp đạt 86,7%. Số còn lại khoảng 50% chỉ có trình độ cao đẳng kiểm sát hoặc trung cấp pháp lý.
4. Những chuẩn mực đạo đức cốt lõi của cán bộ tư pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh được luận án vận dụng là gì?
Tác giả nhấn mạnh phương châm: "Công minh, chính trực, khiêm tốn, thận trọng, khách quan" và "Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư", xác định đây là các giá trị đạo đức nghề nghiệp đặc thù, đóng vai trò nền tảng bảo đảm tính độc lập và công bằng của các phán quyết tư pháp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Khoa là công trình nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tái hiện có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên từ năm 2001 đến năm 2011. Dựa trên nguồn tư liệu văn kiện, báo cáo ngành và số liệu thực tế, tác giả đã phân tích các bước phát triển về chủ trương, chỉ đạo tổ chức thực hiện, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại. Các kết luận và 4 bài học kinh nghiệm được đúc kết từ luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ yêu cầu tiếp tục kiện toàn đội ngũ cán bộ tư pháp trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.