Chương 1 TỎNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CO LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN Bức tranh toàn cảnh nền kinh tế, chính trị, xã hội thế giới ngày nay là một bức tranh đa màu sắc. Bên cạnh sự suy thoái kinh tế ngày càng lan rộng, xuất hiện một số nền kinh tế mới đa tiềm năng. Nền chính trị nhiều xung đột và bất ôn khiến cho thế giới đang nóng lên từng ngày. Xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến tất cá các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Truyền hình cũng không phải là một ngoại lệ. Được sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, truyền hình ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong đời sống xã hội, đặc biệt là sự ra đời của THTT. Truyền hình nói chung, THTT nói riêng ngày càng lớn mạnh là do nhu cầu thông tin của công chúng ngày càng cao, khoa học kỹ thuật phát triển và xuất hiện nhu cầu được giao lưu, hội nhập quốc tế. Chính bản thân các vấn đề sự kiện chính trị, xã hội cũng góp phần thúc đây THTT phải tự phát triển lớn mạnh.
Ở Việt nam, ngành THTT cũng phát triển với rất nhiều cung bậc. Dịch vụ THTT bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1993 với sự ra đời của dịch vụ truyền hình cáp vô tuyến MMDS. Sau hơn 20 năm thành lập và phát triển ngành THTT đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Theo đó, vấn đề cung cấp và QLNN về hoạt động THTT đã được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn.
Tại Việt Nam, ngay từ khi thị trường dịch vụ THTT hình thành và phát triển, đã có rất nhiều tác giả, các nhà khoa học nghiên cứu về truyền hình và THTT. Tuy nhiên theo những tài liệu mà nghiên cứu sinh đã đọc và tìm hiểu thì chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu sâu về dịch vụ THTT, các giải pháp marketing phát triển thị trường nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ THTT, vai trò về hội nhập quốc tế về thị trường truyền hình. Trên cơ sở tìm hiểu và công tác tại một trong những đơn vị cung ứng dịch vụ THTT có quy mô lớn nhất trong nước (VTVCab), nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn đề tài liên quan tới QLNN đối với dịch vụ THTT tại Việt Nam với mong muốn đưa ra những giải pháp, đề xuất mới có tinh kha thi cho thị trường THTT tại Việt Nam. Với dé tai ma nghiên cứu sinh lựa chọn sẽ đặt nhiều vấn đề liên quan tới quan hệ cung cầu về dịch vụ truyền hình, giá cả dịch vụ truyền hình, QLNN về tổ chức, nội dung, giá dịch vụ THTT.
Từ đó đề xuất những hướng giải pháp, đóng góp ý kiến cho các cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách về kế hoạch và mục tiêu phát triển thị trường THTT có sự quản lý vĩ mô của nhà nước đề thị trường ngày càng phát triển theo đúng quy hoạch và phù hợp với nền kinh tế đang trên đà hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Thực trạng về THTT trên thế giới và khu vực trong những năm gần đây cũng có nhiều chuyền biến rõ rệt, đối với các nước châu Âu và châu Mĩ ở đó THTT đã có từ rất lâu thì hệ thống THTT được xây dựng và triển khai đồng bộ theo quy chuẩn. Đối với các thị trường THTT phát triển thì khán giả có thê tiếp cận với THTT bằng nhiều hình thức như truyền dẫn cáp đồng trục, truyền hình vệ tinh, truyền hình số và truyền hình Internet. Khán giả có thể xem truyền hình theo yêu cầu VOD bằng các thiết bị hiện đại và nội dung chất lượng hình ảnh phong phú, đa dạng.
Còn đối với một số thị trường truyền hình mới phát triển ở Châu Phi và Châu Á trong vài năm trở lại đây cũng có nhiều chuyển biến rõ rệt cả về hạ tầng truyền dẫn, nội dung và chất lượng hình ảnh. Qua tìm hiểu và đọc một số tài liệu luận án, công trình khoa học, bài báo nước ngoài tác giả khái quát một số nghiên cứu về THTT: 1. Nhóm nghiên cứu về thị trường truyền hình trả tiền (1) Casbaa - Hiệp hội THTT châu Á - Thái Bình Dương với nghiên cứu: Vietnam’s Pay-TV Situation “Vastly Improved”, tạm dịch là: Thực trạng THTT của Việt Nam: “Cải thiện rõ rệt” (nghiên cứu năm 2013). Nghiên cứu nêu ý kiến của John Medeiros - Giám đốc chính sách của Casbaa về thực trạng THTT của Việt Nam giai đoạn năm 2010-2015.
Theo đó, John Medeiros cho rằng: tính sẵn có của các kênh truyền hình quốc tế tại Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt. Medeiros quan sát thấy rằng, sau giai đoạn quá độ, Chính phủ Việt Nam đã xác định rõ ràng rằng không muốn các kênh truyền hình nước ngoài bị loại khỏi hệ thống THTT của Việt 10 Nam. Medeiros cho rằng, chính sách mở cửa thu hút giao thương và đầu tư của Việt Nam là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của thị trường THTT. Tuy nhiên trong báo của Casbaa cũng đã chưa nêu được những cô gắng của các cơ quan có thấm quyền ở Việt Nam về những công cụ điều tiết vĩ mô đối với thị trường THTT mặc dù Casbaa cũng kiến nghị Nhà nước ma cy thé ở đây là Bộ Thông tin truyền thông nên có những can thiệp rõ ràng và cụ thê hơn đối với thị trường THTT ở Việt Nam cụ thể là ban hành mức giá trần và sàn đối với các thuê bao THTT.
Các giải pháp chống cạnh tranh, bản quyền và việc sử dụng hạ tầng kỹ thuật theo đúng quy định luật pháp của Việt Nam. Theo đánh giá của tác giả, để thu hút người xem, các nhà cung cấp dịch vụ THTT đã chi hàng tỷ USD vào việc phát triển các kịch bản chương trình bản quyền về thê thao. Các nhà sản xuất THTT chỉ nhiều cho việc nâng cấp hệ thống dẫn tới giá cả dịch vụ tăng cao, đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự rời bỏ dịch vụ THTT và hướng tới các dịch vụ trực tuyến của khách hàng. Vấn đề về đơn giá của THTT trong nghiên cứu chưa được đề cập thông qua vai trò điều tiết của nhà nước.
Theo đánh giá của NCS, đối với một thị trường như ở Việt Nam việc quản lý giá không chỉ đối với dịch vụ THTT mà tất cả các dịch vụ cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước về giá. Nhóm nghiên cứu về xu hướng phát triển của thị trường truyền hình trả tiền (1) Bengt Jonsson với nghiên cứu: “7ackling the future 2014 trends in the pay television industry in Asia Pacific” tam dich là “Giải quyết xu hướng tương lai trong ngành công nghiép THTT khu vực Châu Á Thái Bình Dương nam 2014”. Nghiên cứu nêu ra 05 dự đoán của tác giả về ngành công nghiệp THTT của khu vực Chau A Thai Binh Dương trong năm 2014: (¡) Sẽ có thêm các nhà khai thác và người tiêu dùng tham gia vào thị trường OTT (OTTT - Over The Top là giải pháp cung cấp nội dung cho người sử dụng dựa trên nền tảng Internet. Lĩnh vực được ll ứng dụng nhiều nhất là cung cấp các nội dung truyền hình qua giao thức internet (IPTV) và các Video theo yêu cầu (VOD) tới người dùng cuối); (ii) Dịch vụ Pay- Per-Click (là một mô hình quảng cáo Internet được sử dụng trên các trang web, trong đó các nhà quảng cáo trả tiền host của họ chỉ khi quảng cáo của họ được nhấp) sẽ nóng lên, hướng đến người tiêu dùng; (ii) Năm 2014 là năm phát triển của các thiết bị đa màn hình; (iv) Các nhà khai thác mới sẽ tiếp tục cạnh tranh với những đài truyền hình truyền thống và cố gắng thay đổi thói quen xem truyền hình của người tiêu dùng; (v) Năm 2014 là năm sẽ bùng nỗ tình trạng vi phạm bản quyền THTT.
Vấn đề bản quyền luôn là một trong những nội dung quan trọng mà các nhà QLNN, hoạch định chính sách vĩ mô cần quan tâm hơn nữa trong vấn đề điều tiết thị trường THTT chưa được đề cập trong nghiên cứu này. Trong đó, Streaming Video là một kỹ thuật được sử dụng khá phổ biến trong các ứng dụng mạng. Trong nghiên cứu của mình, Paul Ausick dẫn nghiên cứu của ScreenMedia liệt kê 04 điểm dữ liệu nổi bật năm 2015 và đưa ra dự báo cho năm 2016 về thị trường Streaming Video. Vấn dé mà Paul Ausick nghiên cứu chưa đưa ra được các công cụ mà cơ quan quản lý sẽ thúc đây thị trường THTT thông qua các chế tài, các công cụ QLNN nào mà chỉ là kiến nghị và đánh giá thị trường ở một góc độ là một nhà nghiên cứu về truyền hình và THTT.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ ra rằng, giá của dịch vụ THTT ở những vùng, đất nước khác nhau sẽ khác nhau. Chẳng hạn như ở những nơi mà nhà cung cấp dịch vụ THTT có lợi thế cạnh tranh thì họ thường đẩy giá cao hơn với mục đích là tăng chi phí sản xuất cho các chương trình truyền hình. Công trình này nêu rõ vai trò QLNN trong vấn đề quản lý truyền hình, ở thị trường Mỹ nhờ có các công cụ chính sách điều tiết vĩ mô mà các đơn vị truyền hình trực tuyến VOD, IVOD phát triển nhanh và mạnh mẽ không chỉ ở riêng 12 thị trường Mỹ mà còn lan rộng trên toàn thế giới. Điển hình là dịch vụ truyền hình trực tuyến với nhà cung cấp Netflix đã cung cấp dịch vụ VOD trên 130 quốc gia và gần đây trên trang chu cua Netflix đã có thị trường Việt Nam, đây là một đối thủ lớn có tiềm năng đối với các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trực tuyến trong nước trong thời điểm cạnh tranh, hội nhập.
Tác giả khẳng định rằng hiện nay, khách hàng đang từ bỏ dịch vụ THTT vì giá quá cao hoặc họ thích xem video trực tuyến thông qua các thiết bị di động hơn. Hơn thế nữa, dịch vụ THTT hiện nay chưa chú trọng vào vấn đề chất lượng cũng như cho cung cấp dịch vụ khách hàng tốt. Tác giả đưa ra dự đoán về một sự giảm sút của số lượng thuê bao THTT trong năm 2016, ngành công nghiệp này sẽ có một số những thăng trằm trong năm 2016. Việc phân tích dự báo của tác giả chưa đưa ra được gói giải pháp toàn diện của cơ quan quản lý đối với thị trường rằng một khi thị trường phát triển thì việc tập trung để kiểm soát và hỗ trợ thị trường phát triển có vai trò quan trọng của nhà nước.