phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm 3 chương với 7 tiết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 DÂN CƢ - YẾU TỐ CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI 1. Những quan điểm tiêu biểu về dân cƣ trong lịch sử tƣ tƣởng tôn giáo và triết học. Một số quan điểm tôn giáo và triết học trước Mác về dân cư.
Quan điểm của một số tôn giáo quốc tế. Ngoại trừ Phật giáo, các tôn giáo lớn đều cho rằng Thượng đế (hoặc trời) sinh ra vạn vật, trong đó có con người. Tuy nhiên, do mỗi tôn giáo thường gắn với những cộng đồng dân cư nhất định, hoặc những bộ phận của cộng đồng đó, cho nên các tôn giáo có sự quan tâm đáng kể đến yếu tố dân cư và vấn đề dân cư. Nếu tước bỏ đi yếu tố duy tâm, tôn giáo, thì có thể nói các tôn giáo có sự quan tâm sớm và khá chi tiết trong việc tổ chức các cộng đồng dân cư, thường được gọi là các cộng đồng giáo dân.
Điều này là phổ biến ở tất cả các tôn giáo quốc tế như Phật giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo. Các cộng đồng giáo dân thường được tổ chức như là những đơn vị xã hội khép kín có đầy đủ tính chất và cơ cấu của một đơn vị xã hội của dân cư. Điểm khác biệt cơ bản của các đơn vị xã hội này là ở chỗ, trung tâm liên kết của họ là nơi thờ tự (nhà thờ, chùa, thánh đường.) với "chất" liên kết cơ bản là niềm tin tôn giáo. Đặc điểm này phổ biến và có ý nghĩa lớn ở những nơi mà một tôn giáo nào đó chiếm địa vị độc tôn; khi đó cộng đồng tôn giáo còn thể hiện như là một đơn vị hành chính.
Còn ở những nơi có sự đan xen giữa các tôn giáo trong một cộng đồng dân cư thì đặc trưng trên vẫn là cơ bản, góp phần duy trì sức sống của các tôn giáo. Vì vậy, trong kinh sách của các tôn giáo, yếu tố dân cư được chú ý bàn đến khá chi tiết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Điển hình là phần "sách dân số" trong kinh Cựu ước của Ki-tô giáo. Sách này đã đề cập đến nhiều nội dung của yếu tố dân cư, dưới tên gọi là "cộng đồng dân chúa".
" Sách dân số" đã mô tả quá trình hình thành các cộng đồng dân cư; các quy ước như là những luật lệ về phân chia đất đai, về quyền thừa kế đất đai, tài sản; các phong tục tập quán, về điều tra dân số và quá trình di dân lập nơi ở mới v. Đây chính là cơ sở lý thuyết mà nhà thờ Ki-tô giáo dựa vào để xây dựng các giáo khu ở hầu hết các nước Châu Âu. Và đó cũng là lý thuyết cho mô hình được gọi là các Pha-lăng-dơ (nước chúa ngàn năm) mà các nhà XHCN không tưởng ở thế kỷ XVIII mong muốn xây dựng. Quan điểm triết học của Nho giáo.
Như đã biết, Nho giáo là một học thuyết triết học - chính trị do Khổng Tử (551-480 T.N), người Trung quốc sáng lập và sau đó trở thành nền tảng tư tưởng cho các chế độ Phong kiến ở một số nước châu Á. Vì vậy, có thể nói quan niệm về dân cư của Nho giáo cũng là quan niệm chung cho toàn bộ thời đại phong kiến về dân cư. Dân cư ở thời phong kiến, theo quan niệm của Nho giáo, tuy có nhiều tên gọi khác nhau song tựu trung đều được gọi là "thần dân". "Khái niệm "thần dân" chỉ hết thảy những người thuộc các giai cấp, các tầng lớp trong một nước, bất kể đó là làm quan hay không làm quan, lao lực hay lao tâm, giàu sang hay nghèo hèn.
đều có số phận là tôi con của triều đình, chịu sự thống trị của vua, phục vụ nhà vua và trung thành với quyền lợi của vua. Nói cách khác, đó là dân cư của triều đại phong kiến". Để có thể cai trị được tốt, Nho giáo cũng đã đưa ra một quan điểm rõ ràng về vai trò của dân cư và những biện pháp nhằm phát huy vai trò đó. Điều đáng lưu ý là, đôi khi, Khổng Tử đã từng quan niệm dân ngang với trời, ý dân là ý trời, vua tuy được quyền thay trời, nhưng đối với dân lại phải chịu trách nhiệm toàn diện.
Dân tuy phải chịu quyền cai trị của vua, nhưng vẫn có quyền bắt vua phải theo điều lành, điều thiện mà làm: "Cái sáng suốt của trời ở cái sáng suốt của dân, sự làm cho rõ điều lành sợ điều ác của trời ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 sự làm cho rõ điều lành sợ điều ác của dân, trên trời dưới dân thông đạt với nhau. Vậy nên người làm vua, làm chúa, phải kính vậy thay! (Thư: Cao - Dao mô) [45, tr 131]. Mặc dầu vậy, Nho giáo luôn coi vua là "tâm" - cái tinh tuý; coi dân là "thân thể" - cái tầm thường, hai cái đó luôn liên hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời được: tâm nhờ thân thể mà toàn, và cũng vì thân thể mà nguy; vua nhờ dân mà còn, và cũng vì dân mà mất (Lễ Kí: Trung Y. Tuân Tử cho rằng con người khác động vật ở chỗ sống tập thể theo xã hội mà có tổ chức, có lễ nghĩa trên dưới.
Ông đã chỉ ra nguyên nhân của "loạn" trong đời sống dân cư là: thứ nhất, tuy con người sống hợp quần nhưng mỗi cá nhân chỉ có một khả năng nhất định, nếu không có sự phân công hợp lý thì sinh loạn; thứ hai, sản vật tự nhiên và của cải làm ra thì ít mà nhu cầu của con người thì vô cùng, nên dẫn tới tranh chấp. Từ đó, ông chủ trương: phải tăng cường sản xuất và tiết kiệm, trong đó lấy nông nghiệp làm cơ bản, phân rõ ngành nghề trong xã hội (sĩ, nông, công, thương); phải hạn chế nhu cầu, dục vọng, lấy lễ làm cơ sở, làm nguyên tắc đạo đức để phân chia thứ bậc và cung cách giao tiếp xã hội. Tuân Tử từng nói "Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân". Sách Thượng thư cũng viết "Dân có thể gần, không thể coi thường.
Dân là gốc nước. Gốc có vững thì nước mới yên" Muốn giữ được quyền bính thì phải được dân tin. Khi Tử Cống hỏi Khổng Tử, để làm chính trị cần có những điều gì, Khổng Tử đã trả lời có 3 điều, trong đó dân tin là quan trọng nhất: "đủ ăn, đủ binh, dân tin mình vậy. Nhược bằng trong 3 điều ấy, bất đắc dĩ phải bỏ một điều, thì nên bỏ điều nào trước? Bỏ việc binh.
Còn hai điều mà bất đắc dĩ phải bỏ đi một điều nữa thì nên bỏ điều nào trước? Bỏ ăn. Vì bỏ ăn thì chết, nhưng xưa nay người ta vẫn chết, chứ dân mà không tin, thì không sao đứng vững được (Luận ngữ: Nhan Uyên, XII) [45, tr 137]. Muốn dân tin mình, theo Khổng Tử, người cầm quyền phải lấy việc nhân nghĩa mà trị dân. Bên cạnh đó, để phục vụ việc trị dân, Nho giáo rất quan tâm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 tới việc phát triển dân số và nâng cao chất lượng dân cư.
Với quan niệm về thứ, phú, giáo, Khổng Tử cho rằng có 3 điều quan trọng mà nhà cầm quyền phải làm được, đó là: làm cho dân nhiều, làm cho dân giàu và dạy dân biết lễ nghĩa. Nhiễm Hữu hỏi về phương cách trị dân, Khổng Tử đã trả lời: Trị dân mà không dạy dân, thì dân biết thế nào được cương, thường đạo lý, để giữ trật tự trong xã hội, nhưng trước khi dạy dân, cần phải làm cho dân giàu, vì có đủ ăn, đủ mặc thì mới học được lễ nghĩa (xem luận ngữ: Tử Lộ, XIII). Mạnh Tử đã phát triển tư tưởng này khi cho rằng người trị dân, trị nước là phải chăm lo việc dân, khiến cho dân được sung túc rồi phải dạy dỗ dân để cho dân đừng làm điều sai trái (Đằng Văn Công, thượng). Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích ích kỷ của giai cấp mình, với cái nhìn hạn hẹp, Mạnh Tử đã nhìn dân như những lực lượng thấp hèn, phải chịu địa vị nô lệ là do trời sinh ra.
Mạnh Tử từng nói: "Hoặc là lao tâm, hoặc là lao lực; người lao tâm thì trị người, người lao lực thì bị người trị; bị người trị thì nuôi người, trị người thì được người nuôi. Đó là nghĩa thông thường trong thiên hạ "(Mạnh Tử Đằng Văn Công, thượng) [45, tr. Tư tưởng trên đây đã trở thành chỗ dựa cho giai cấp phong kiến thống trị củng cố địa vị mình, nô dịch, bóc lột nhân dân. Ở Việt Nam, tuy ảnh hưởng của Nho giáo khá nặng nề, song do hoàn cảnh lịch sử, do yêu cầu của việc dựng nước và giữ nước, nên quan niệm về dân và vai trò của dân trong giai cấp thống trị có khác so với quan niệm Nho giáo ở Trung Quốc.
Lý Thường Kiệt đã nêu lên tư tưởng "người làm vua của dân, cốt phải nuôi dân" Trần Quốc Tuấn thì nêu ra bài học cần phải làm cho "lòng dân không ly tán", "khoan sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách của sự giữ nước". Nguyễn Trãi cho rằng: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "đem quân đi đánh giặc cốt để yên dân". Các triều đại phong kiến Việt Nam đã tạo ra một nền tảng chính sách gần dân, thân dân và phát huy tốt sức mạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 của dân trong công cuộc chống ngoại xâm, giữ vững nền độc lập dân tộc, cũng như trong việc xây dựng đất nước. Quan niệm về dân cư trong triết học phương Tây: Ngay từ thời cổ đại, với văn minh đồ sắt phát triển, ở phương Tây đã hình thành được các nhà nước mạnh, thống trị các bộ tộc bị hợp nhất lại, thường được gọi là nhà nước thành bang, với một chế độ nô lệ điển hình và với những quan niệm khá định hình về vai trò của cá nhân và xu hướng giải phóng cá nhân (tất nhiên là cá nhân chủ nô) trong quan hệ với các cộng đồng dân cư.
Đó là một trong những nguyên do làm cho trong triết học phương Tây, con người thường được nghiên cứu nhiều hơn ở góc độ cá nhân, trước khi nghiên cứu trong quan hệ cộng đồng. Sau đây chúng ta xem xét vấn đề trên thông qua một số triết gia tiêu biểu.N) đã đưa ra một quan niệm duy tâm về con người; ông đối lập giữa linh hồn và thể xác con người. Ông cho rằng linh hồn con người có 3 phần: Lý tính, xúc cảm và cảm tính, trong đó chỉ có linh hồn lý tính là bất diệt còn hai phần kia thì chết cùng thể xác.