Chương 1 cũng đề cập nguồn gốc và các nội dung chính của hiệp định TPP; giới thiệu quan điểm, mục tiêu và thời điểm của các bên tham gia đàm phán, cũng như quan điểm và triển vọng tham gia của một số bên khác. Chƣơng 2: Tiến trình đàm phán TPP Luận văn trình bày tiến trình đàm phán, với nội dung chính cũng như các vấn đề lần lượt được giải quyết qua 19 vòng đàm phán chính thức, cũng như hàng loạt hội nghị, cuộc gặp cấp bộ trưởng, trưởng đoàn đàm phánvà cấp chuyên viên. Chương 2 nêu rõ các vấn đề được giải quyết hoặc tồn đọng sau từng vòng đàm phán. Đặc biệt, chương này chỉ ra các khúc mắc, kể cả các vấn đề kỹ thuật, cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của đàm phán song phương giữa Mỹ và Nhật Bản, nếu kết thúc sẽ giúp khai thông bế tắc đàm phán TPP.
Chƣơng 3: Dự báo tác động của TPP và những vấn đề đặt ra. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở nội dung và tiến trình đàm phán nêu trên, Chương 3 tập trung phân tích các dự báo về tác động và triển vọng của TPP, đối với kinh tế, thương mại từng thành viên và cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, bước đầu dự báo tác động tới quan hệ chính trị tại khu vực và thế giới. Đặc biệt, Chương 3 phân tích các cơ hội, thách thức với Việt Nam khi tham gia TPP, cũng như đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm tác động tiêu cực và tận dụng các yếu tố tích cực, nhất là đón đầu các có hội khi TPP được ký kết và đi vào cuộc sống.
Chƣơng 1 SỰ HÌNH THÀNH TPP 1. Bối cảnh khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng và thế giới 1.1 Bối cảnh kinh tế- chính trị khu vực và thế giới Châu Á - Thái Bình Dương gồm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nằm phần lớn ở châu Á, các nước nằm trong vành đai Thái Bình Dương kéo dài từ châu Đại Dương đến Nga, vòng xuống phía tây châu Mỹ. Khu vực này có ba quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới, bốn trong số những quốc gia đông dân nhất thế giới, ba cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới… Về chính trị, khu vực tập trung ba trong số năm ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, bảy trong 10 cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Về quy mô kinh tế, tính riêng GDP của 21 nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) chiếm 54 tổng GDP thế giới, tổng lượng hàng hóa và dịch vụ thương mại chiếm tới 44 thế giới.
Bước vào thế kỷ 21 đến nay, châu Á - Thái Bình Dương luôn là khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Theo thống kê, giai đoạn 2007 – 2012, mặc dù tăng trưởng kinh tế toàn cầu đi xuống, tổng lượng kinh tế của các quốc gia mới nổi ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vẫn tăng thêm gần 50 , tỷ trọng trong nền kinh tế thế giới không ngừng gia tăng.[13] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và tiềm năng phát triển to lớn, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục trở thành trọng tâm địa chính trị toàn cầu trong thế kỷ 21. Trong không gian rộng lớn châu Á – Thái Bình Dương, Đông- Nam Á nổi lên là một “trục chiến lược” và là địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa nhiều cường quốc. Nói đến khu vực Đông - Nam Á và rộng hơn là khu vực Đông Á, Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á (ASEAN) với 10 nước thành viên, tổng dân số 600 triệu người và tổng thu nhập nội khối 2.310 tỷ USD, luôn là điểm thu hút sự quan tâm hàng đầu của các cường quốc cũng như những trung tâm chính trị - kinh tế lớn trên thế giới.
ASEAN đang đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng chung vào 2015, là một hạt nhân của các tiến trình hợp tác và đóng góp xây dựng môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác chung ở khu vực. Vai trò trung tâm của ASEAN đã được ghi nhận qua một số thành tựu quan trọng trong lĩnh vực kinh tế và an ninh, là một nhân tố bảo đảm cho hòa bình và đã trở thành một động lực tăng trưởng cho nền kinh tế thế giới. Một Cộng đồng chung ASEAN được hình thành sẽ tạo “sân chơi” cho các quốc gia có cam kết chung hướng tới sự phát triển bền vững cũng như hoà bình, ổn định và thịnh vượng cho khu vực này. Các đối tác lớn của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ, Nga, Liên hiệp châu Âu (EU)… đều đang thực hiện các chính sách “xoay trục” hướng về châu Á - Thái Bình Dương với quy mô và cường độ mới, phù hợp những biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế và khu vực, trong đó dành ưu tiên cao củng cố và thúc đẩy quan hệ với ASEAN, ủng hộ xây dựng Cộng đồng ASEAN cũng như vai trò trung tâm của Hiệp hội trong cấu trúc khu vực đang định hình, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác nhằm ứng phó các thách thức đang đặt ra.
Trung Quốc nhấn mạnh coi trọng phát triển quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN, mong muốn có sự gắn kết mạnh mẽ và chặt chẽ hơn với ASEAN, ưu tiên đẩy mạnh quan hệ kinh tế. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN trong khi ASEAN tiếp tục duy trì trong nhóm đối tác thương mại hàng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu của Trung Quốc. Trao đổi thương mại ASEAN - Trung Quốc đạt 318 tỷ USD vào năm 2012, hai bên phấn đấu nâng con số này lên 500 tỷ USD năm 2015.[11] Mỹ đã xác định khu vực châu Á – Thái Bình Dương như một công cụ phục vụ nền kinh tế Mỹ trong tương lai, do đó chiến lược xoay trục của Mỹ liên quan việc nước này sẽ trao quyền cho ASEAN góp phần xây dựng một cấu trúc kinh tế khu vực, duy trì sự thịnh vượng chung. Tổng kim ngạch thương mại giữa ASEAN và Mỹ đạt 198,8 tỷ USD năm 2011, đưa Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của ASEAN, và trong cùng kỳ Mỹ cũng là nhà đầu tư lớn thứ ba của ASEAN với tổng vốn đầu tư hơn 5,8 tỷ USD.Abe không chỉ là lãnh đạo Nhật Bản đầu tiên mà còn là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên thăm toàn bộ mười nước ASEAN ngay sau khi nhậm chức với ưu tiên làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược giữa Nhật Bản với ASEAN.
Năm 2011, Nhật Bản đã vươn lên trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của ASEAN, với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 273,35 tỷ USD. Năm 2013, kết quả một cuộc thăm dò gần 500 công ty Nhật Bản hoạt động ở nước ngoài cho thấy, ASEAN là một trong những khu vực hấp dẫn nhất với các nhà đầu tư Nhật Bản. Với Ấn Độ, New Delhi khẳng định quan hệ với ASEAN nói chung và các nước thành viên ASEAN nói riêng là “hòn đá tảng” trong chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ, vốn đã phát triển thành quan hệ đối tác mạnh mẽ, toàn diện và nhiều mặt trong những năm gần đây. Mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN lúc đầu với trọng tâm là kinh tế, tập trung lĩnh vực thương mại và kết nối, nhưng nay mở rộng ra nhiều nội dung chiến lược.
Hai bên phấn đấu đạt kim ngạch thương mại hai chiều 100 tỷ USD vào năm 2015. Các đối tác khác như Nga, Hàn Quốc và EU tiếp tục dành ưu tiên cao nhằm tăng cường và mở rộng ảnh hưởng đối với ASEAN, qua đó mở rộng quan hệ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương bằng sự chủ động tăng cường hợp tác, nhất là 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về kinh tế, cũng như tham gia sâu rộng hơn các hoạt động của những cấu trúc khu vực đang định hình. Tuy nhiên, trong khu vực vẫn tồn tại những tranh chấp chủ quyền biển, đảo và ngày càng diễn biến phức tạp, nổi bật là tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam, Phillipines. tại Biển Đông; giữa Trung Quốc với Nhật Bản và giữa Nhật Bản với Hàn Quốc ở biển Hoa Đông.
Có thể thấy hai xu thế lớn đang vận hành trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương [13, 24] : Thứ nhất, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn ảm đạm, xu hướng “gác lại” tranh chấp và bất đồng, cùng bắt tay hợp tác về kinh tế đang trở thành dòng chủ lưu trong mối quan hệ giữa các nước muốn gia tăng ảnh hưởng và lợi ích ở khu vực. Tiêu biểu cho xu thế này là các cặp quan hệ Mỹ - Trung Quốc, Ấn Độ - Trung Quốc, và quan hệ ba bên Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc. Về cặp quan hệ Mỹ - Trung Quốc, hai đầu tàu kinh tế cùng ổn định và có bước tăng trưởng sẽ có lợi cho sự phát triển của mỗi nước và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu đang ỳ ạch hiện nay. Trong bối cảnh đó, hợp tác Trung Quốc - Mỹ hướng tới xây dựng "quan hệ nước lớn kiểu mới" ngày càng trở nên quan trọng.
Quan hệ Mỹ - Trung Quốc đang và sẽ là sự đan xen giữa cạnh tranh và hợp tác. Thứ hai, một số cặp quan hệ được củng cố chặt chẽ hơn vì ngày càng có chung lợi ích chiến lược. Tiêu biểu là cặp quan hệ Nga - Trung Quốc, Mỹ - Nhật Bản, Ấn Độ - Nhật Bản và “bộ ba” Trung Quốc - Nga - Ấn Độ. Quan hệ giữa Nga và Trung Quốc phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh Mỹ thực hiện chiến lược xoay trục sang châu Á.
Theo các chuyên gia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga V.Putin nhận thấy rõ nước họ có những lợi ích chiến lược chung nhiều hơn sau khi Washington thúc đẩy Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 11 nước châu Á – Thái Bình Dương và Thoả thuận Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) với EU. Cặp quan hệ tiêu biểu thứ hai là quan hệ đồng minh truyền thống Mỹ - Nhật Bản. Tại Hội nghị tham vấn chiến lược “2+2” giữa Bộ trưởng Ngoại giao - Quốc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.