Luận văn thạc sĩ: Đảm bảo an sinh xã hội nông dân Phú Thọ, thực trạng & giải pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
120
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đảm bảo an sinh xã hội nông dân tại Phú Thọ

Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía Bắc, được tái lập năm 1997 với 13 đơn vị hành chính cấp huyện. Tỉnh có 277 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó phần lớn là khu vực nông thôn. Nông dân chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Đảm bảo an sinh xã hội cho nhóm đối tượng này là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. Hệ thống an sinh xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và ưu đãi người có công. Thực tế triển khai các chính sách tại Phú Thọ cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn tồn tại không ít hạn chế. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của nông dân tăng qua các năm. Tuy nhiên, mức sống tối thiểu và thu nhập của nông hộ vẫn ở mức thấp, đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ hơn.

1.1. Khái niệm an sinh xã hội đối với nông dân

An sinh xã hội đối với nông dân là hệ thống các chính sách, chương trình nhằm bảo vệ người nông dân trước các rủi ro về kinh tế, sức khỏe và thiên tai. Hệ thống này bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội. Mục tiêu là đảm bảo mức sống tối thiểu cho nông dân khi gặp hoàn cảnh khó khăn. Chỉ số tác động của trợ giúp xã hội được tính dựa trên tỷ lệ giữa trợ cấp nhận được và mức sống trung bình cộng đồng.

1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ có vùng kinh tế trọng điểm Phủ Thọ - Việt Trì - Lâm Thao - Phù Ninh đang phát triển nhanh. Vùng cây lương thực tập trung ven sông Hồng, sông Đà, sông Lô. Vùng cây nguyên liệu giấy, chè ở Hạ Hòa, Đoan Hùng, Thanh Sơn, Tân Sơn ngày càng hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân đạt 4,2%, tỷ lệ hộ nghèo giảm hơn 4% mỗi năm. Tổng vốn đầu tư xã hội đạt 29.100 tỷ đồng giai đoạn 2006-2010.

II. Phân tích thực trạng an sinh xã hội nông dân Phú Thọ

Thực trạng đảm bảo an sinh xã hội nông dân Phú Thọ thể hiện qua nhiều chỉ tiêu cụ thể. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc cho người nghèo đạt kết quả tích cực. Bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân tăng dần qua các năm. Thu nhập nông hộ cải thiện nhưng chưa bền vững, mức sống còn thấp hơn bình quân cả nước. Đánh giá của nông dân về hoạt động trợ giúp xã hội cho thấy mức độ hài lòng trung bình. Nhận thức của đối tượng thụ hưởng về chính sách còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ thực hiện an sinh xã hội ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn. Các chính sách hiện hành liên quan đến bảo đảm an sinh xã hội cho nông dân cần được đánh giá và điều chỉnh. Tình hình nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội còn nhiều khó khăn về nguồn lực.

2.1. Tình hình tham gia bảo hiểm của nông dân

Tỷ lệ nông dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện tại Phú Thọ tăng qua các năm nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra. Bảo hiểm xã hội tự nguyện còn hạn chế do nông dân chưa nhận thức đầy đủ quyền lợi. Kết quả thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc cho người nghèo đạt tỷ lệ cao. Tuy nhiên, nhiều nông dân đánh giá việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế gặp khó khăn tại các cơ sở khám chữa bệnh. Mong muốn của người dân về mức đóng góp và hỗ trợ Nhà nước là rất lớn.

2.2. Đánh giá chất lượng trợ giúp xã hội

Đánh giá của nông dân về hoạt động trợ giúp xã hội cho thấy kết quả chưa đồng đều giữa các huyện. Mức chuẩn trợ cấp xã hội chỉ đảm bảo khoảng 50% mức sống tối thiểu. Số đối tượng được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội năm 2013 còn hạn chế. Trợ giúp xã hội đột xuất và thường xuyên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế. Trình độ năng lực cán bộ thực hiện an sinh xã hội ở cơ sở cần được nâng cao.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng an sinh xã hội nông dân

Giải pháp nâng cao chất lượng an sinh xã hội nông dân Phú Thọ cần triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Thứ nhất, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế cho nông dân. Thứ hai, tăng mức trợ cấp xã hội phù hợp với mức sống tối thiểu thực tế. Thứ ba, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở thực hiện chính sách an sinh. Thứ tư, phát triển hệ thống dịch vụ xã hội khu vực nông thôn. Thứ năm, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức nông dân về quyền lợi và nghĩa vụ. Thứ sáu, tăng cường ngân sách nhà nước cho các chương trình xóa đói giảm nghèo. Các giải pháp cần gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020.

3.1. Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm

Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế là giải pháp then chốt. Cần giảm mức đóng góp phù hợp với thu nhập nông dân. Tăng cường hỗ trợ Nhà nước để nông dân dễ dàng tham gia hệ thống bảo hiểm tự nguyện. Đơn giản hóa thủ tục đăng ký và nhận trợ cấp. Xây dựng mạng lưới đại lý bảo hiểm tại các xã nông thôn để tiếp cận nông dân hiệu quả hơn.

3.2. Nâng cao năng lực thực hiện chính sách

Đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thực hiện an sinh xã hội ở cơ sở. Tuyển dụng cán bộ có trình độ chuyên ngành công tác xã hội. Đầu tư cơ sở vật chất cho các trung tâm bảo trợ xã hội. Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đối tượng thụ hưởng hiện đại. Phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong triển khai chính sách an sinh xã hội nông thôn.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại Phú Thọ

Đảm bảo an sinh xã hội nông dân tại Phú Thọ là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Kết quả đạt được là nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục hoàn thiện chính sách. Quan điểm xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội cần hướng đến bao phủ toàn diện. Định hướng phát triển đến năm 2020 tập trung vào nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản. Ứng dụng thực tiễn cho thấy cần tăng cường nguồn lực đầu tư cho vùng miền núi khó khăn. Số người thoát nghèo và tăng thu nhập nông dân là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chính sách. Công thức tính chỉ số tác động giúp đo lường mức độ thụ hưởng của nông dân. Bài học kinh nghiệm từ quốc tế và các địa phương khác cần được nghiên cứu áp dụng. Phú Thọ có tiềm năng đạt được mục tiêu an sinh xã hội toàn diện nếu triển khai đồng bộ các giải pháp.

4.1. Định hướng phát triển an sinh xã hội đến 2020

Định hướng đến năm 2020, Phú Thọ tập trung nâng cao chất lượng an sinh xã hội nông dân. Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo nông thôn xuống dưới 5%. Đảm bảo 95% nông dân tham gia bảo hiểm y tế. Phát triển hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản tại tất cả xã nông thôn. Tăng mức trợ cấp xã hội đạt tối thiểu 50% mức sống trung bình cộng đồng. Hoàn thiện hệ thống chính sách phù hợp với đặc thù vùng trung du miền núi.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai

Bài học từ thực tiễn triển khai tại Phú Thọ cho thấy vai trò quan trọng của tuyên truyền. Nông dân cần được hướng dẫn cụ thể về quyền lợi khi tham gia bảo hiểm tự nguyện. Sự phối hợp liên ngành quyết định hiệu quả thực hiện chính sách. Đầu tư nguồn lực cho vùng miền núi cần được ưu tiên. Kinh nghiệm quốc tế về an sinh xã hội nông thôn giúp hoàn thiện mô hình tại địa phương. Cần xây dựng cơ chế giám sát đánh giá thường xuyên.

30/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 1. An sinh xã hội đối với nông dân: 1. Khái niệm, đặc điểm của an sinh xã hội đối với nông dân: Ở Việt Nam hiện nay, các nhà khoa học cũng như những người hoạch định chính sách cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất về ASXH nói chung và ASXH đối với nông dân nói riêng. Có người ủng hộ quan điểm ASXH mà ILO công bố, có người lại đưa thêm quan điểm thực hiện ASXH nhất thiết phải thực hiện hình thức ƯĐXH; cũng có người lại cho rằng ASXH ở Việt Nam phải đặc biệt chú trọng đến công tác cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế.

và có quan điểm cho rằng XĐGN cũng là phạm vi của chương trình ASXH. Những quan điểm này có thể nhận được sự đồng tình của các chuyên gia quốc tế, nhưng đôi khi quan điểm của các chuyên gia quốc tế cũng trái ngược với quan điểm của các chuyên gia trong nước. Theo họ hệ thống ASXH thực chất có vai trò rất quan trọng trong việc giảm nghèo và cũng có thể trở thành một phần của chiến lược lớn về giảm nghèo kết hợp với các cơ chế tạo việc làm, đầu tư công cho phát triển công trình kết cấu hạ tầng, các chính sách giáo dục quốc gia. Nhưng vai trò cốt lõi của việc thực hiện ASXH không nhất thiết phải là giúp cho các cá nhân và hộ gia đình thoát khỏi ngưỡng nghèo mà vai trò của nó là bảo vệ họ trước sự phát triển tự nhiên của con người, vượt qua những rủi ro về kinh tế, sự biến đổi theo chu kỳ của kinh tế thị trường và tác động của CNH, HĐH.

Đồng thời, thoát nghèo cũng có thể là một kết quả do được tiếp cận tốt hơn với phúc lợi bảo trợ xã hội, nhưng nó không phải là vai trò chính của chính sách bảo trợ xã hội. Trên thực tế, nhiều chế độ trong các chương trình ASXH của các nước đang phát triển không nhất thiết phải hướng đến đối tượng là người rất nghèo. 8 Đối với tác giả Luận án, mặc dù có ý kiến khác với các quan điểm khác nhau của những chuyên gia trong nước, nhưng tác giả lại ủng hộ tư tưởng của những chuyên gia này. Tác giả đưa ra quan điểm về hệ thống ASXH cho nông dân như sau: An sinh xã hội đối với nông dân là một hệ thống các chính sách, các biện pháp mà nhà nước, gia đình và xã hội thực hiện nhằm trợ giúp người nông dân đối phó với những rủi ro gây ra bởi các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho người nông dân bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, bị rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá.

ASXH đối với nông dân Việt Nam có những đặc điểm cơ bản, trong đó có những điểm chung với ASXH nói chung và những đặc trưng riêng của nó: Thứ nhất, ASXH đối với nông dân là sự gắn bó chặt chẽ cả hình thức đóng - hưởng và hình thức không dựa trên nguyên tắc đóng góp. Cũng như mô hình tổ chức ASXH nói chung cho mọi đối tượng người dân, mô hình tổ chức ASXH đối với nông dân cũng được cấu thành từ hai hợp phần cơ bản là ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng và ASXH không dựa vào sự đóng góp của người dân mà dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước và của cộng đồng. Tùy điều kiện cụ thể mà Nhà nước ở mỗi nước xây dựng các hợp phần này có nội dung, đối tượng và phạm vi tham gia cũng khác nhau. Chẳng hạn ở Việt Nam hai bộ phận hợp thành của mô hình tổ chức ASXH đối với nông dân có những đặc điểm như sau: - Theo nguyên tắc đóng - hưởng, ASXH đối với nông dân bao gồm BHYTTN và BHXHTN.

* - Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH (Luật bảo hiểm xã hội). Nếu như ở nhiều nước phát triển, BHXHTN là hình thức bảo hiểm bổ sung mà người lao 9 động tự nguyện tham gia để có được mức hưởng an sinh cao hơn, thì ở Việt Nam và nhiều nước đang phát triển khác BHXHTN là hình thức BHXH cho người lao động làm việc ở khu vực phi chính thức, trong đó có nông dân. Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội người tham gia vào loại hình BHXHTN phải hoàn toàn chịu về phí đóng góp tham gia mà không có sự hỗ trợ tài chính từ bất kỳ cá nhân và tổ chức nào khác. Thêm vào đó, quyền lợi của người tham gia hệ thống BHXHTN lại thấp hơn so với quyền lợi của những đối tượng của bảo hiểm xã hội bắt buộc (BHXHBB) thuộc khu vực chính thức.

Hiện nay ở nước ta quy định người tham gia BHXHTN sẽ được hưởng hai chế độ là hưu trí và tử tuất. *- Bảo hiểm y tế tự nguyện là một trong những cơ chế đảm bảo xã hội ra đời sớm nhất ở các nước có nền kinh tế công nghiệp hóa. Cũng như BHXHTN, nếu như ở các nước phát triển BHYTTN là bảo hiểm bổ sung để được hưởng mức an sinh cao hơn, thì ở nước ta, ngay từ năm 1992, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng và được bổ sung bằng Nghị định số 47-CP ngày 6/6/1994, các cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ hưu trí, mất sức lao động ở các khu vực hành chính sự nghiệp, người lao động khu vực sản xuất kinh doanh của Nhà nước và tư nhân có từ 10 lao động trở lên tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc (BHYTBB); các đối tượng khác tham gia BHYT theo khả năng và nhu cầu, trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, nông dân tham gia BHYTTN.

Hình thức này được cụ thể hóa trong Luật BHYT. Ở nước ta, người nghèo nói chung, nông dân nghèo nói riêng được Nhà nước mua BHYT. Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình thu nhập của khu vực phi chính thức còn thấp, gần đây, Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ kinh phí để đối tượng cận nghèo mua BHYT. - Theo nguyên tắc không dựa vào đóng góp, ASXH đối với nông dân bao gồm các hình thức trợ giúp.

Ở mỗi nước khác nhau có các hình thức trợ giúp 10 cũng khác nhau, nhưng đều có điểm chung là nguồn tài chính cho TGXH đều được thực hiện từ NSNN. Ở nước ta các hình thức trợ giúp chủ yếu là TGXHTX và TGXHĐX từ Nhà nước và từ cộng đồng xã hội. Hình thức này được tổ chức theo thể chế chính sách chung của các chương trình trợ giúp. Như vậy, ASXH đối với nông dân ở nước ta được thực hiện thông qua việc tự nguyện tham gia đóng góp của người nông dân, sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng.

An sinh xã hội là biện pháp đảm bảo để phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế rủi ro. Đó là trách nhiệm của mỗi người dân, của xã hội và cộng đồng trong việc xây dựng hệ thống ASXH. Trước hết, mọi nông dân phải tự nguyện và chủ động tham gia vào hệ thống ASXH. Họ phải có tự nguyện tích lũy, đóng góp vào quỹ an sinh để được thụ hưởng khi cần thiết.

Tuy nhiên, tích lũy của nông dân là một yêu cầu. Với tư cách là biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế những rủi ro do biến động kinh tế - xã hội xảy ra nên Nhà nước và cộng đồng phải có sự trợ giúp cần thiết. Thêm nữa, đối với Việt Nam hiện nay, nông dân có thu nhập thấp, nên khả năng chủ động tham gia ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng là không cao. Vì thế sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng lại càng có ý nghĩa quan trọng.

Nhà nước không những đảm bảo tài chính cho các chương trình an sinh không đóng góp, mà còn cần có sự trợ giúp nhất định để nông dân tham gia ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng. Đồng thời sự giúp đỡ cộng đồng cũng rất cần thiết, nhất là trong các trường hợp nông dân gặp thiên tai, lụt bão, mất mùa, hoặc những người do bệnh tật, đau yếu mất sức lao động, cô đơn không nơi nương tựa,… Điều này thể hiện tính nhân đạo xã hội. Nói cách khác, tài chính cho ASXH đối với nông dân được đảm bảo từ sự đóng góp của người tham gia, hỗ trợ của Nhà nước và trợ giúp của cộng đồng. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, tỷ phần này có sự thay đổi.

Thường là trong giai đoạn đầu, sự hỗ trợ của Nhà nước và trợ giúp cộng đồng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. 11 Thứ hai, ASXH đối với nông dân thuộc lĩnh vực ASXH cho khu vực phi chính thức (phi kết cấu). Hệ thống luật pháp cho việc thực thi ASXH đối với nông dân cần có những quy định có tính đặc thù cho khu vực này. Hiện nay, trong phân tổ thống kê còn có sự khác nhau về tên gọi các khu vực kinh tế.

Nhìn chung, khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp được gọi chung tên là khu vực chính thức; những người tự làm, nông dân,… được gọi với các tên là khu vực phi kết cấu, hoặc khu vực phi chính thức. Khu vực phi kết cấu hay phi chính thức chủ yếu ở những hoạt động thủ công nghiệp truyền thống, quy mô nhỏ, hoạt động mang tính chất kinh tế gia đình như trồng trọt, chăn nuôi, làm gia công cho các hợp tác xã hoặc xí nghiệp quốc doanh, kinh doanh cá thể… Như vậy ASXH đối với nông dân thuộc lĩnh vực ASXH cho khu vực phi chính thức. Hoạt động của khu vực này rất đa dạng, phong phú, nhưng quy mô nhỏ, rất khó đo đếm và kiểm soát như khu vực chính thức. Vì thế việc xây dựng hệ thống luật pháp về ASXH đối với khu vực này phải tính đến những đặc thù về quy mô, phạm vi, khả năng kiểm soát để thực hiện chính sách ASXH.

Thứ ba, người nông dân là những người có thu nhập thấp và không ổn định, vì vậy tính bền vững và ổn định về tài chính cho việc thực hiện ASXH là không cao. Đặc điểm này cũng dẫn đến trong quản lý nhà nước phải tính đến những quy định về mức đóng, mức hưởng như thế nào để phù hợp với khả năng thu nhập của nông dân. Có như thế mới đảm bảo tính khả thi của chính sách ASXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ