CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG THỨC TUYỂN SINH ĐẠI HỌC VÀ SAU ĐẠI HỌC Ở HOA KỲ 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học 1. Khái niệm phương thức tuyển sinh Phương thức tuyển sinh được hiểu như là cách thức để các cơ sở giáo dục và đào tạo chiêu mộ được những học sinh sinh viên phù hợp với mục tiêu giáo dục và đào tạo của mình.
Nói đến phương thức tuyển sinh là nói đến rất nhiều các khía cạnh khác nhau liên quan đến công tác tuyển sinh. Trước hết, chúng ta phải nói đến các tiêu chuẩn được áp dụng trong công tác tuyển sinh. Tiêu chuẩn tuyển sinh có sự khác biệt giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo, đồng thời có sự khác biệt giữa các nền giáo dục khác nhau. Ở các nước có nền giáo dục phát triển, các cơ sở giáo dục và đào tạo có quyền rất lớn trong việc định ra các tiêu chuẩn tuyển sinh riêng phù hợp với mục tiêu giáo dục và đào tạo của mình.
Theo Hiệp hội Quốc gia về tư vấn tuyển sinh của Hoa Kỳ (NACAC), các trường đại học và cao đẳng của Hoa kỳ áp dụng đến 12 tiêu chuẩn khác nhau trong công tác tuyển sinh [35]. Nói đến phương thức tuyển sinh, chúng ta không thể không đề cập đến quy trình hay cách thức mà các ứng viên nộp đơn xin theo học tại các trường cao đẳng và đại học. Các trường khác nhau có thể áp dụng các quy trình nộp đơn. Trong nền giáo dục của Hoa Kỳ, học sinh năm cuối cùng của bậc trung học phổ thông thường thực hiện quá trình nộp đơn xin theo học tại các trường đại học và cao đẳng bắt đầu từ mùa thu năm trước và kết thúc mùa xuân năm cuối cùng của bậc trung học phổ thông.
Các trường đại học và cao đẳng của Hoa Kỳ có thể áp dụng một trong ba chương trình nộp đơn của ứng viên: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương trình quyết định sớm, Chương trình hành động sớm và Chương trình tuyển sinh cuốn chiếu [45]. Trong phương thức tuyển sinh, các kỳ thi tuyển sinh và các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá áp dụng trong tuyển sinh là một phần không thể thiếu được trong phương thức tuyển sinh, đồng thời còn là một tiêu chuẩn quan trọng để các trường đại học và cao đẳng tuyển chọn sinh viên. Các bài kiểm tra SAT và ACT được áp dụng rất phổ biến trong tuyển sinh đại học, trong khi đó các bài kiểm tra GMAT và GRE lại được áp dụng chủ yếu trong tuyển sinh sau đại học tại các trường đại học và cao đẳng của Hoa Kỳ [35]. Ngoài tiêu chuẩn tuyển sinh, quy trình tuyển sinh và các kỳ thi, các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá được áp dụng trong tuyển sinh, chúng ta cũng cần đề cập đến những chính sách tuyển sinh được áp dụng trong tuyển sinh đại học và sau đại học.
Trong nghiên cứu này, luận văn tập trung chủ yếu vào các khía cạnh cơ bản trong phương thức tuyển sinh để làm nổi bật lên đặc trưng của phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học của ở Hoa Kỳ trong sự so sánh với phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học ở Việt Nam. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi), năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa kiến thức và kỹ năng cụ thể. Năng lực được đánh giá thông qua kết quả có thể quan sát được.
Nhiều thập kỷ gần đây, năng lực được nhìn nhận dưới tiếp cận tích hợp. Theo Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn thì năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của mọt hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy [8]. Còn nhà tâm lý học người Pháp Denyse Tremblay thì quan niệm rằng năng lực là khả năng hành động, đạt được 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống [21]. Trong nghiên cứu này, năng lực được quan niệm là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công việc học tập của mình.
Nói cách khác năng lực là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có hiệu quả. Khi mô tả năng lực cá nhân người ta hay dùng các động từ chỉ hành động như: hiểu, biết, phân tích, khám phá, sử dụng, xây dựng, vận hành,. Muốn đánh giá năng lực cá nhân phải xem xét chúng trong hoạt động. Năng lực của người học đáp ứng với yêu cầu của việc học tập là sự tổng hợp toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm được tích luỹ trong quá trình học tập tại trường tiểu học, trung học và trong thời gian tham gia hoạt động xã hội thực tế được biểu hiện qua mức độ hoàn thành việc học tập của họ.
Năng lực được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả. Năng lực dưới dạng tổng thể giúp cá nhân nắm bắt và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cấu trúc các thành tố của năng lực linh hoạt, dễ chuyển hoá khi môi trường và yêu cầu hoạt động thay đổi. Năng lực được đánh giá thông qua việc theo dõi toàn bộ tiến trình hoạt động của cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau.
Đây chính là cách mà các nhà tuyển sinh dùng để đánh giá năng lực của ứng viên trong công tác tuyển sinh. Đánh giá năng lực Giả sử có hai người tương đương nhau về trí tuệ có những cơ hội như nhau để học một công việc hoặc phát triển một kỹ năng. Họ tham gia cùng một khoá đào tạo tại chỗ hoặc các lớp học, nghiên cứu các tài liệu như nhau và thực hành cùng thời gian như nhau. Một người trong số họ đạt được kiến thức hoặc kỹ năng một cách dễ dàng; người kia có sự khó khăn 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và cần nhiều thời gian hơn, nếu họ cùng làm chủ được kỹ năng tương đương nhau.
Hai người này có sự khác nhau về khả năng, năng lực cho sự đạt được công việc hoặc kỹ năng. Khả năng, năng lực được xác định rất đa dạng như là khả năng học tập, khả năng cụ thể cần thiết để làm cho việc học một công việc trở nên dễ ràng, sự thích ứng, năng khiếu, sự phù hợp, sự sẵn sàng, khuynh hướng, tâm tính tự nhiên hay đạt được hoặc năng lực cho một hoạt động cụ thể, hoặc một thành tố tự nhiên của năng lực. Các đánh giá năng lực được sử dụng để dự đoán trước sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện nhiệm vụ. Đối với việc hướng dẫn và lập kế hoạch về nghề nghiệp, các đánh giá năng lực được sử dụng để đo lường các năng lực khác nhau như khả năng học tập chung, khả năng về số, khả năng về ngôn ngữ, sự nhận thức về không gian, và sự nhận thức về công việc văn phòng.
Các bài kiểm tra năng lực khách quan được dựa trên các bài tiểu kiểm tra có quy định về thời gian. Các kết quả được so sánh với các tiêu chuẩn theo nhóm tuổi hoặc các tiêu chuẩn khác như đã được đề xuất đối với các điều tra tự báo cáo về các khả năng thường được thấy trong các hệ thống khám phá nghề nghiệp được tin học hoá. Để giúp một người tìm và theo đuổi một nghề nghiệp, một khoá học, hoặc một chương trình trải nghiệm công việc; đánh giá năng lực cần thực hiện trước việc kiểm tra thành tích hoặc đánh giá các kỹ năng. Đánh giá năng lực học tập và kiến thức tổng hợp là phương thức thi rất phổ biến ở các trường đại học trên thế giới.
Xuất phát từ triết lý người học đại học và sau đại học cần có năng lực tư duy sáng tạo hơn là những khối kiến thức cụ thể, phương thức thi đánh giá năng lực chú trọng việc đánh giá năng lực tư duy logic, khả năng lập luận, phân tích, kiến thức tổng hợp của thí sinh. Do được chuẩn hóa theo hướng này từ tất cả các khâu (ra 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề, chấm bài thi,…) nên thí sinh không phải vất vả học theo lối thuộc lòng kiến thức, tránh được tình trạng quay cóp khi làm bài và kết quả thi của thí sinh sẽ phản ánh tốt hơn năng lực thực sự của người học trong việc theo đuổi thành công các khoá học mà họ đã chọn. Lý thuyết khảo thí cổ điển Lý thuyết khảo thí cổ điển giả sử rằng mỗi người có một điểm số thực (true score, t) mà có thể đạt được nếu như không có các sai số trong đo lường. Điểm số thực của một người được xác định như là điểm số đúng mong đợi qua một số lần thực hiện các bài test độc lập.
Thật không may là những người sử dụng bài test không bao giờ quan sát được điểm số thực của một người, mà chỉ có thể thấy được một điểm số quan sát được (observed score, x). Giả sử rằng điểm số quan sát được bằng điểm số thực cộng với một số sai số. Như vậy, phương trình cơ bản trong lý thuyết khảo thí cổ điển xi = ti + ei Trong đó: xi là điểm làm bài test của thí sinh i ti là điểm thực của thí sinh i ei là sai số Trong lý thuyết khảo thí cổ điển, sai số được giả thiết là đại lượng ngẫu nhiên. Sai số đôi khi có thể lớn, nhỏ và có thể mang giá trị âm hoặc giá trị dương,.
Sai số hệ thống trong lý thuyết khảo thí cổ điển được bỏ qua. Vì sai số là một đại lượng ngẫu nhiên nên với một số lượng lớn thí sinh thì trung bình cộng của sai số ngẫu nhiên bằng 0. N e i e i 1 0 N Khi đó, trung bình cộng điểm bài thi của các thí sinh bằng trung bình cộng điểm thực của họ, tức là t x. Sai số ngẫu nhiên phải không có mối tương quan với điểm thực hay nói cách khác mối tương quan giữa t và e = 0.
Đồng thời mối tương quan của sai số giữa hai bài test phải = 0. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.