Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của nghiên cứu sinh Bùi Thị Ngọc Anh với đề tài "Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt" (chuyên ngành Lý luận Ngôn ngữ, mã số 62 22 01 01) được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Thị Thanh Bình và Bùi Thị Minh Yến.
Trong tiếng Việt, từ ngữ kiêng kị (TNKK) là một lớp từ vựng đặc thù thường diễn tả hoặc gợi liên tưởng đến những sự vật, hiện tượng, hành vi bị cấm đoán trong văn hóa cộng đồng (như tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo, tình dục, bài tiết). Người sử dụng lớp từ này thường phải chịu những định kiến xã hội, bị đánh giá tiêu cực về tư cách văn hóa và đạo đức, trong khi trẻ em thường bị ngăn cấm hoặc chịu trách phạt khi sử dụng. Tuy vậy, trong thực tế giao tiếp đời thường và không gian mạng xã hội, TNKK vẫn liên tục tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng các công trình Việt ngữ học trước đây chủ yếu tiếp cận TNKK theo khuynh hướng miêu tả từ vựng truyền thống hoặc tập trung vào hiện tượng kị húy, coi TNKK đơn thuần là hiện tượng thô tục cần cấm đoán hoặc thay thế bằng uyển ngữ. Cách tiếp cận này không giải thích được bản chất chức năng xã hội cũng như nguyên nhân tồn tại của TNKK trong đời sống giao tiếp. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK gắn liền với các biến số xã hội cụ thể.
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm hai phương diện:
- Làm rõ sự ảnh hưởng của các biến xã hội (tuổi, giới tính, tình huống giao tiếp) đến việc sử dụng TNKK, góp phần làm sáng tỏ lý thuyết ngôn ngữ học xã hội về mối quan hệ giữa các nhân tố xã hội và hiện tượng ngôn ngữ tại Việt Nam.
- Tìm hiểu quá trình phát triển và xã hội hóa ngôn ngữ của trẻ em thông qua việc khảo sát sự sử dụng TNKK cũng như thái độ, phản ứng của người lớn nuôi dạy xung quanh nhóm trẻ ở một cộng đồng nông thôn.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản cụ thể hóa thành ba nội dung chính:
- (i) Hệ thống hóa các nghiên cứu về TNKK từ hai quan điểm: nghiên cứu từ vựng truyền thống và ngôn ngữ học xã hội.
- (ii) Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học xã hội về biến ngôn ngữ, biến xã hội và mối tương quan giữa chúng.
- (iii) Thực hiện nghiên cứu trường hợp về sự sử dụng TNKK của trẻ em tại một cộng đồng nông thôn miền Bắc Việt Nam: miêu tả tình hình sử dụng TNKK chung của người dân Hoài Thị giai đoạn 2001 - 2002; miêu tả và lý giải ảnh hưởng của các biến tuổi, giới và tình huống giao tiếp đến việc sử dụng TNKK ở trẻ em; so sánh việc sử dụng TNKK giữa trẻ em và người lớn; khảo sát phản ứng, thái độ của người lớn trước hành vi sử dụng TNKK của trẻ nhằm nhận diện phương thức ứng xử và giáo dục ngôn ngữ của cộng đồng.
Đối tượng nghiên cứu là đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt trên cứ liệu giao tiếp tự nhiên của trẻ em và người lớn xung quanh tại làng Hoài Thị, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tư liệu được kế thừa từ Dự án "Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm 2001 - 2002" do Trường Đại học Toronto (Canada) hợp tác với Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện (chủ nhiệm dự án: Giáo sư Lương Văn Hy).
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các phát ngôn chứa TNKK xuất hiện trong giao tiếp tự nhiên của 26 trẻ em và các thành viên gia đình thuộc 13 hộ điều tra tại Hoài Thị, được thu thập từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 6 năm 2002. Tổng thời lượng ghi âm là 39 giờ (2.340 phút), tương ứng với 3.600 trang văn bản A4 gỡ băng.
| Nhóm tuổi |
Bé trai |
Bé gái |
Tổng số |
| Mẫu giáo (sinh năm 1995 - 1998) |
10 |
4 |
14 |
| Tiểu học (sinh năm 1991 - 1994) |
4 |
8 |
12 |
| Tổng cộng |
14 |
12 |
26 |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu TNKK theo hai hướng tiếp cận chính:
Hướng nghiên cứu từ vựng truyền thống
Nghiên cứu truyền thống xem TNKK là các đơn vị ngôn ngữ thô thiển, tục tĩu hoặc mang tính kiêng kị tâm linh cần phải né tránh bằng các phương tiện thay thế (uyển ngữ).
- Khía cạnh tôn giáo, tín ngưỡng: Freud (1950) và Steiner (1975) xem TNKK khởi nguồn từ đời sống tín ngưỡng tôn giáo, kiêng gọi tên thế lực siêu nhiên, ma quỷ, cái chết, bệnh tật và lời nguyền rủa. Tại Việt Nam, Nguyễn Quý Thành (1993) khảo sát TNKK trong nghề đi biển vùng Nam Trung Bộ (kiêng từ về, mất, úp do sợ tai nạn, chìm thuyền). Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2010) mô tả các TNKK trong nghề làm gốm tại làng Phước Tích (kiêng các từ rịn, nứt, tréo chân méo miệng, nát do liên quan đến sản phẩm hỏng).
- Khía cạnh văn hóa và tính dục: Nguyễn Kim Phước (2006) chỉ ra điều cấm kị khi đề cập trực tiếp đến hành vi tính dục, người Việt tránh nói các từ chim, bướm mà dùng các từ Hán Việt như hạ bộ, âm hộ, hoặc thay từ chết bằng ra đi, từ trần, mất, về nơi chín suối, quy tiên.
- Khía cạnh ngữ nghĩa - biểu trưng tục: Đỗ Anh Vũ (2003) phân tích 16 nghĩa biểu trưng của từ cứt trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt. Tạ Văn Thông (2003) phân tích các từ ngữ chỉ bộ phận sinh dục được sử dụng khi tức giận, cãi vã (con củ cặc).
- Khía cạnh kị húy: Ngô Đức Thịnh (1993) và các tài liệu văn hóa lịch sử ghi nhận tục kiêng húy tên vua thời phong kiến (như kiêng tên vua Gia Long: Ánh đổi thành yến sáng, Cảnh đổi thành cây kiểng), kiêng húy thành hoàng làng (làng Phước Tích kiêng từ nồi, làng Vịa kiêng từ bí đổi thành bầu) và kiêng tên ông bà tổ tiên trong phạm vi gia đình (Hà Đông đổi thành Hà Đương, hồng thành hường, hoa thành huê, xuân thành xoan, bưởi thành bòng).
Hướng nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội
Ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu TNKK trong trạng thái hành chức thực tế, đặt trong tương quan với các biến số xã hội (tuổi, giới, giai tầng, hoàn cảnh giao tiếp):
- Hongxu và cộng sự (1990) nghiên cứu một cộng đồng tại Trung Quốc, phân chia TNKK thành ngữ cảnh vĩ mô (yếu tố xã hội) và ngữ cảnh vi mô (yếu tố tình huống).
- Jay (1992, 2000, 2009) khảo sát lời chửi rủa trong tiếng Anh Mỹ ở nhiều môi trường giao tiếp thực địa, phân tích mối liên hệ giữa nói tục với sự thụ đắc ngôn ngữ, độ tuổi và giới tính.
- Stenström (1995) nghiên cứu khối liệu ngôn ngữ của thanh thiếu niên Anh, ghi nhận tần số sử dụng TNKK cao ở lứa tuổi này và chỉ ra từ fuck xuất hiện phổ biến ở cả nữ thiếu niên.
- Veronica (1997) xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa giới tính, độ tuổi với việc chửi thề, đồng thời nhận định không có tương quan giữa trình độ học vấn với việc dùng TNKK.
- Tsang (2005) so sánh thái độ đối với TNKK giữa người nói tiếng Anh và tiếng Quảng Đông tại Hồng Kông, chỉ ra sự khác biệt do chi phối của văn hóa phương Tây (tôn giáo) và phương Đông (mê tín về cái chết, quan tài).
- Gao (2008) phân tích tư liệu hội thoại phim Sex and the City, chỉ ra cả nam và nữ đều dùng TNKK nhiều hơn trong tình huống cùng giới; nam dùng nhiều TNKK hơn nữ trong nhóm lẫn giới.
- Teguh (2008) phân tích phim Ali G Film, phân chia TNKK thành 3 loại (thô tục, khiêu dâm, thông tục) và uyển ngữ thành 4 loại (chết chóc, xúc phạm, tôn giáo, tình dục).
- Murphy (2009, 2010) phân tích kho ngữ liệu tiếng Anh Ireland, chỉ ra tần số xuất hiện cao của từ fuck và biến thể cảm xúc fucking ở nhóm nam giới độ tuổi 20, 40 cũng như nhóm nữ giới độ tuổi 20.
- Ningjue (2010) khảo sát phòng chat trực tuyến Palace, chỉ ra sự khác biệt về vốn từ và chủng loại TNKK giữa hai giới (nam thiên về từ ngữ khiêu dâm, nữ thiên về từ ngữ thô tục).
- Bakhtiar (2011) điều tra 30 sinh viên Iran, khẳng định tính thô lỗ của TNKK được đánh giá cao hơn trong tình huống trang trọng so với tình huống phi trang trọng.
- Qanbar (2011) dựa trên lý thuyết lịch sự của Brown và Levinson (1978, 1987) khảo sát xã hội Yemen, phân loại thành TNKK phổ thông và TNKK dựa vào ngữ cảnh.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy phần lớn các công trình tập trung vào đối tượng người lớn hoặc thanh thiếu niên tại các quốc gia phương Tây. Rất ít công trình khảo cứu chi tiết về sự sử dụng TNKK ở trẻ em trong môi trường giao tiếp đời thường tại các nước đang phát triển. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc cung cấp một nghiên cứu trường hợp cụ thể về trẻ em tại một vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ học xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Quan niệm về TNKK: Luận án tổng hợp hai luồng quan niệm tại Việt Nam (nhóm tác giả Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp xem TNKK là từ không được nói ra; nhóm Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Văn Khang xem TNKK là từ dùng thay thế). Luận án chấp nhận định nghĩa của Nguyễn Đức Dân (2005): TNKK là những từ mà khi dùng sẽ bị coi là xúc phạm, sỉ nhục hoặc vô lễ vì đề cập đến những vấn đề cấm kị. Từ đó, luận án xác định TNKK bao gồm:
- Những từ ngữ kị húy.
- Những từ ngữ bị cho là cần phải kiêng tránh (bao gồm từ tục, từ bậy, chửi thề).
- Những từ ngữ không thích hợp nếu sử dụng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định vì có khả năng gây phản cảm.
- Lý thuyết ngôn ngữ học xã hội: Kế thừa mô hình của Labov (1963, 1972) và Chambers (2013) về mối liên hệ giữa biến ngôn ngữ (biến phụ thuộc) với các biến xã hội (biến độc lập: tuổi, giới, tình huống giao tiếp, giai tầng, phong cách). Ngôn ngữ học xã hội xem lời nói đời thường là "sự hỗn tạp có trật tự" (Weinreich, Labov, Herzog 1968).
- Lý thuyết phát triển ngôn ngữ trẻ em: Tiếp cận theo mô hình xã hội hóa ngôn ngữ (Ochs & Schieffelin, Halliday 1975, Bloom & Lahey 1978). Quá trình thụ đắc ngôn ngữ không chỉ là học quy tắc ngữ pháp mà là tiếp nhận năng lực giao tiếp xã hội (Hymes 1972). Vai trò của dữ liệu ngôn ngữ đầu vào (Snow & Ferguson 1977) và phản hồi của người chăm sóc (Nelson 1991, Lewis & Freedle 1973) có ý nghĩa quyết định trong việc điều chỉnh hành vi ngôn ngữ của trẻ.
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu điền dã dân tộc học: Các điều tra viên thâm nhập thực địa tại Hoài Thị trong 2 năm (2001 - 2002). Sử dụng phối hợp ba kỹ thuật:
- Ghi âm tự nhiên: Đặt máy ghi âm trong các sinh hoạt thường ngày mà người tham gia không cảm thấy bị quan sát (vào lớp học, đi chơi, ăn cơm, ngủ cùng đối tượng nghiên cứu). Cứ 4 tháng ghi âm 1 lần, mỗi hộ ghi âm trung bình 4 lần (mỗi lần 45 phút, tương đương 3 giờ/hộ).
- Quan sát: Theo dõi ứng xử ngôn từ và quan hệ giao tiếp của các thành viên trong gia đình và cộng đồng.
- Quan sát tham dự: Tham dự vào các lễ hội làng, đám cưới, đám tang và hoạt động sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
- Xử lý và phân tích dữ liệu:
- Gỡ băng và chọn lọc các phát ngôn chứa TNKK theo tiêu chí lý luận đã xác lập.
- Mã hóa dữ liệu theo hệ thống mã của Nguyễn Thị Thanh Bình (2002).
- Nhập và xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 11.5. Thiết lập các bảng chéo tương quan giữa biến ngôn ngữ và các biến xã hội, kiểm định ý nghĩa thống kê bằng chỉ số Chi-square ($p > 0.5$ theo quy ước thống kê nêu trong văn bản).
- Kết hợp phân tích định tính, phân tích hội thoại, phương pháp so sánh và miêu tả để diễn giải số liệu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng phục vụ cho đề tài:
- Trình bày nguồn gốc từ nguyên của thuật ngữ kiêng kị (taboo từ tiếng Tongan tabu/tapu).
- Phân tích các quan niệm về TNKK của các tác giả ngoài nước (quan niệm rộng của Leach, Andersson & Trudgill, Jay, Apte, Trudgill, Crystal, Battistella; quan niệm hẹp của Freud, Steiner, Swan, Mbaya, Troike, Allan & Burridge, Qanbar) và các tác giả trong nước (Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Văn Khang). Xác lập quan niệm làm việc của luận án.
- Trình bày lịch sử hình thành chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội từ nghiên cứu của Labov (1962, 1963) về âm vị /r/ tại New York; làm rõ ba đóng góp phương pháp luận của Labov (tương quan biến ngôn ngữ - xã hội, biến phong cách độc lập, nghiên cứu biến đổi qua thời gian trung bình).
- Khái quát các phương pháp thu thập dữ liệu định tính và định lượng trong ngôn ngữ học xã hội, giải quyết nghịch lý của người quan sát (observer's paradox).
- Hệ thống hóa các biến xã hội chính: tuổi (Fagersten, Stenström, Hughes, Lương Văn Hy & Diệp Đình Hoa, Nguyễn Thị Thanh Bình), giới tính (Lakoff, Schilling, Bayard & Krishnayya, Berger), tình huống giao tiếp (Andersson & Trudgill, Jay & Janschewitz).
- Trình bày lý thuyết phát triển ngôn ngữ ở trẻ em: mục tiêu phát triển khả năng diễn đạt hiệu quả (Hymes, Halliday, Bloom & Lahey), sự thụ đắc TNKK ở trẻ em (Jay), vai trò của ngôn ngữ nói với trẻ em (motherese/caretaker talk - Snow & Ferguson) và vai trò phản hồi, sửa lỗi của người chăm sóc (Nelson).
Chương 2: Khái quát tình hình sử dụng từ ngữ kiêng kị ở Hoài Thị
Chương này cung cấp bức tranh tổng thể về việc sử dụng TNKK tại địa bàn nghiên cứu:
- Thống kê số lượng, tần số xuất hiện của TNKK được sử dụng bởi trẻ em và người lớn tại Hoài Thị.
- Phân loại hệ thống TNKK thu thập được thành các nhóm chủ đề cụ thể.
- Đánh giá mức độ phổ biến của TNKK: sự hiện diện của TNKK trong ngôn từ của người nói thuộc các thế hệ, lứa tuổi, giới tính khác nhau và mức độ xuất hiện trong các hộ gia đình khảo sát.
- Phân tích 5 nhóm mục đích sử dụng TNKK chính của người dân Hoài Thị:
- Biểu thị sự tức giận.
- Phủ nhận, bác bỏ.
- Xúc phạm đối phương.
- Gây sự chú ý.
- Thể hiện sức mạnh.
Chương 3: Ảnh hưởng của tuổi và giới đến sự sử dụng từ ngữ kiêng kị
Chương 3 đi sâu phân tích mối quan hệ giữa hai biến nhân khẩu học cơ bản với việc sử dụng TNKK:
- Tuổi và sự sử dụng TNKK:
- Tương quan giữa độ tuổi với số lượng và tần số xuất hiện TNKK (so sánh giữa nhóm trẻ mẫu giáo và nhóm trẻ tiểu học; so sánh giữa trẻ em và người lớn).
- Tỉ lệ TNKK của trẻ em Hoài Thị nói với người lớn so với nói với bạn bè cùng trang lứa.
- Phân tích đặc điểm ngôn ngữ khi người lớn nói với bé lớn so với khi nói với bé nhỏ.
- Khảo sát các dạng phản ứng của người lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKK.
- Giới và sự sử dụng TNKK:
- Tương quan giữa giới tính của người nói với số lượng, tần số xuất hiện và danh mục TNKK được lựa chọn (so sánh giữa bé trai và bé gái; giữa nam giới và nữ giới trưởng thành).
- Sự khác biệt về mục đích sử dụng TNKK giữa bé trai và bé gái.
- Khảo sát tần số và tỉ lệ TNKK khi người lớn giao tiếp với bé trai so với bé gái.
- Phân tích phản ứng và thái độ giáo dục của người lớn khi bé trai sử dụng TNKK so với khi bé gái sử dụng TNKK.
Chương 4: Ảnh hưởng của tình huống giao tiếp đến sự sử dụng từ ngữ kiêng kị
Chương 4 khảo sát biến động của TNKK theo các tham số ngữ cảnh cụ thể:
- Miêu tả tổng thể sự xuất hiện của các nhóm TNKK trong các bối cảnh sinh hoạt và trò chơi thường ngày.
- Tình huống giao tiếp cùng giới và lẫn giới: Khảo sát tần số xuất hiện và mức độ tăng cấp của các TNKK khi trẻ em chơi trong nhóm thuần giới (toàn nam hoặc toàn nữ) so với khi chơi trong nhóm lẫn giới.
- Tình huống giao tiếp trang trọng và phi trang trọng:
- Khảo sát sự xuất hiện của TNKK trong lời nói của trẻ em và người lớn ở hoàn cảnh trang trọng (nghi lễ, lớp học, tiếp khách) so với hoàn cảnh phi trang trọng (ở nhà, vui chơi ngoài đường làng).
- Phân tích xu hướng lựa chọn từ ngữ theo độ tuổi và mức độ tăng cấp phản cảm của TNKK trong hai loại tình huống này.
- Tình huống giao tiếp có sự thay đổi quan hệ vị thế:
- Khảo sát hành vi sử dụng TNKK của trẻ em và người lớn khi hướng tới các đối tượng giao tiếp khác nhau: người trên (bề trên, người lớn tuổi), người ngang hàng (bạn bè), người dưới (em nhỏ, con cháu).
- Đo lường mức độ tăng cấp của TNKK dựa trên sự biến đổi vị thế quyền lực và khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án góp phần minh định khái niệm từ ngữ kiêng kị trong Việt ngữ học, phân biệt rõ giữa TNKK (từ bị kiêng tránh/cấm đoán) với uyển ngữ (từ ngữ thay thế), khắc phục sự đồng nhất hai khái niệm này trong một số từ điển tiếng Việt trước đây.
- Cung cấp cho chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội một cứ liệu điển hình từ một cộng đồng nông thôn miền Bắc Việt Nam, chứng minh tính quy luật của sự tương quan giữa các biến xã hội (tuổi, giới, vị thế, hoàn cảnh giao tiếp) với hành vi lựa chọn và tiếp nhận các biến thể từ vựng kiêng kị trong tiếng Việt.
- Bổ sung tư liệu thực nghiệm cho lý thuyết phát triển và xã hội hóa ngôn ngữ của trẻ em ngoài phạm vi các cộng đồng ngôn ngữ phương Tây.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng bức tranh chi tiết và có căn cứ định lượng về tình hình sử dụng TNKK của trẻ em và người lớn tại nông thôn Việt Nam giai đoạn 2001 - 2002, thể hiện qua hệ thống danh mục từ ngữ, tần số xuất hiện, bảng phân loại chức năng/mục đích sử dụng và các dạng phản ứng của người lớn.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ công tác biên soạn từ điển ngôn ngữ học nói chung và từ điển từ ngữ kiêng kị tiếng Việt nói riêng, hỗ trợ công tác dịch thuật và giảng dạy tiếng Việt (với tư cách tiếng mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ thứ hai).
- Đưa ra cơ sở thực tế nhằm khuyến nghị về phương pháp giáo dục ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp, định hướng lời ăn tiếng nói cho trẻ em trong gia đình và nhà trường tại các cộng đồng nông thôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi và kinh phí: Do đặc thù nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội đòi hỏi kinh phí và nhân lực rất lớn trong khâu điền dã, luận án không thể khảo sát trên diện rộng toàn quốc mà tập trung vào một nghiên cứu trường hợp chuyên sâu tại làng Hoài Thị (Bắc Ninh).
- Hạn chế về đối tượng trọng tâm: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nhóm trẻ em trong độ tuổi từ 3 đến 10 tuổi; cứ liệu về người lớn xung quanh chỉ đóng vai trò hỗ trợ đối sánh nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK sang các nhóm đối tượng khác (như thanh thiếu niên đô thị, học sinh, sinh viên trên mạng xã hội) hoặc so sánh đối chiếu giữa các vùng miền văn hóa khác nhau tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Đặc biệt là các phân ngành Ngôn ngữ học xã hội, Lý luận ngôn ngữ, Việt ngữ học và Ngôn ngữ học tâm lý. Phần cơ sở lý luận (Chương 1) và phương pháp luận điền dã kết hợp định tính - định lượng (Chương 1, Mục mở đầu) cung cấp khung phân tích tiêu chuẩn cho các nghiên cứu biến thể xã hội.
- Các nhà nghiên cứu tâm lý học phát triển và giáo dục học: Cung cấp dữ liệu thực chứng về quá trình thụ đắc ngôn ngữ, cơ chế bắt chước và vai trò phản hồi của gia đình đối với hành vi ngôn ngữ của trẻ em.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và dân tộc học: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú về tập quán sinh hoạt, ngôn ngữ giao tiếp đời thường và các quy ước kiêng kị trong làng xã truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa từ ngữ kiêng kị (TNKK) gồm những thành phần nào?
Luận án chấp nhận quan niệm của Nguyễn Đức Dân (2005) và xác định TNKK bao gồm ba nhóm: (i) những từ ngữ kị húy; (ii) những từ ngữ bị cho là cần phải kiêng tránh (bao gồm từ tục, từ bậy, chửi thề); (iii) những từ ngữ không thích hợp nếu sử dụng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định vì có khả năng gây phản cảm.
2. Nguồn ngữ liệu thực địa của luận án được thu thập ở đâu và quy mô như thế nào?
Ngữ liệu được thu thập tại làng Hoài Thị, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ tháng 4/2001 đến tháng 6/2002. Mẫu khảo sát gồm 26 trẻ em (14 bé trai, 12 bé gái; 14 trẻ mẫu giáo, 12 trẻ tiểu học) thuộc 13 hộ gia đình. Tổng thời lượng ghi âm tự nhiên là 39 giờ (2.340 phút), được gỡ băng thành 3.600 trang A4.
3. Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật nào để xử lý dữ liệu?
Luận án kết hợp phương pháp định tính (điền dã dân tộc học, quan sát, quan sát tham dự, phân tích hội thoại) với phương pháp định lượng. Dữ liệu được mã hóa theo hệ thống bảng mã của Nguyễn Thị Thanh Bình (2002) và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS phiên bản 11.5, kiểm định độ tin cậy bằng chỉ số Chi-square.
4. Luận án chỉ ra những mục đích chính nào khi người dân Hoài Thị sử dụng TNKK?
Văn bản phân loại 5 mục đích sử dụng TNKK chính tại địa bàn Hoài Thị, bao gồm: (1) Biểu thị sự tức giận; (2) Phủ nhận, bác bỏ; (3) Xúc phạm đối phương; (4) Gây sự chú ý; (5) Thể hiện sức mạnh.
5. Những biến xã hội độc lập nào được luận án đưa vào mô hình phân tích?
Luận án khảo sát ba nhóm biến xã hội chính chi phối việc dùng TNKK: biến tuổi (nhóm tuổi trẻ em, tương quan trẻ em - người lớn), biến giới tính (bé trai - bé gái, nam - nữ), và biến tình huống giao tiếp (nhóm cùng giới - lẫn giới, bối cảnh trang trọng - phi trang trọng, quan hệ vị thế người trên - ngang hàng - người dưới).
Kết luận
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt" của Bùi Thị Ngọc Anh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối tương quan giữa hiện tượng từ ngữ kiêng kị với các nhân tố xã hội tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học với kỹ thuật phân tích thống kê định lượng trên khối ngữ liệu 39 giờ ghi âm tự nhiên tại làng Hoài Thị giai đoạn 2001 - 2002, tác giả đã làm rõ quy luật chi phối của các biến tuổi, giới tính và tình huống giao tiếp đến hành vi sử dụng TNKK ở trẻ em và cộng đồng. Công trình có đóng góp thiết thực trong việc minh định khái niệm học thuật, cung cấp ngữ liệu thực chứng cho lý thuyết xã hội hóa ngôn ngữ trẻ em và làm cơ sở tham khảo cho công tác giáo dục văn hóa giao tiếp.