MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Giống nhƣ trong nhiều ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt có một lớp từ ngữ thƣờng bị coi là những từ ngữ không nên dùng, cần kiêng tránh bởi chúng là những từ ngữ gây phản cảm cho ngƣời khác. Lớp từ ngữ này thƣờng diễn tả hoặc tạo ra sự liên tƣởng đến những quan niệm, những đề tài, những sự vật, sự việc bị coi là cấm kị trong văn hóa cộng đồng, ví dụ nhƣ tôn giáo, tâm linh, tình dục.
Những ngƣời sử dụng loại từ ngữ này thƣờng bị đánh giá là vô học, thiếu văn hóa, mất lịch sự, thô lỗ, cộc cằn v.v…, trẻ em thƣờng bị trách phạt, bị cấm dùng những từ ngữ đó, vì vậy chúng đƣợc dạy bằng cách dùng uyển ngữ để thay thế cho những từ ngữ kiêng kị (TNKK) nói trên. Tuy nhiên, mặc dù bị cấm đoán và bị đánh giá thấp, TNKK vẫn tồn tại từ thời này qua thời khác trong vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là trong giao tiếp ngôn ngữ của thanh thiếu niên trên các mạng xã hội hiện nay. Để có thể có thái độ ứng xử thỏa đáng trƣớc hiện tƣợng này cần có sự chung tay góp sức của các chuyên ngành khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học. Luận án (LA) này là một đóng góp vào sự nghiệp chung đó.
TNKK là một lớp từ bị đánh giá thấp và quan điểm thƣờng thấy đối với chúng đơn giản là cấm sử dụng hoặc cần thiết lắm thì tránh sử dụng bằng cách dùng uyển ngữ thay thế. Vì vậy, TNKK chƣa thực sự thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học. Các công trình đã có thƣờng đi theo hƣớng mô tả/phân loại TNKK và dùng uyển ngữ thay thế, nhƣng mô tả TNKK và các cách tránh sử dụng chúng không giải thích đƣợc bản chất, sự tồn tại và phát triển của lớp từ này. Ví dụ, không thể giải thích đƣợc tại sao những từ nhƣ “con đĩ” lại là TNKK, không nên sử dụng trong khi có hẳn một xuất bản phẩm với tên “Xin lỗi em chỉ là con đĩ”.
Thực ra, cũng giống nhƣ mọi hiện tƣợng xã hội khác, để tồn tại, 1 TNKK cũng phải có chức năng xã hội của nó nên chúng ta chỉ có thể đánh giá đƣợc những từ ngữ nhƣ trên có thô thiển, mất lịch sự hay không thông qua việc tìm hiểu chức năng xã hội của nó, tức là nghiên cứu chúng trong mối tƣơng liên chặt chẽ với hoàn cảnh giao tiếp mà chúng xuất hiện. Nghiên cứu TNKK trong hoàn cảnh giao tiếp cũng chính là cách tiếp cận TNKK từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, đó cũng chính là hƣớng tiếp cận của LA. Hiện nay trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNKK, tuy nhiên ở Việt Nam lại chƣa có một đề tài, một LA nào nghiên cứu về đặc trƣng ngôn ngữ học xã hội, tức là ảnh hƣởng của các yếu tố xã hội nhƣ tuổi tác, giới tính, giai tầng v.v… đến sự sử dụng TNKK trong tiếng Việt. Vì vậy, chúng tôi chọn “Đặc trƣng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt”, trên cứ liệu giao tiếp ngôn ngữ ở Hoài Thị giai đoạn 2001 - 2002 - làm đề tài cho LA.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Với các cách thức tiếp cận khác nhau, hiện nay ở trên thế giới, nghiên cứu về TNKK đã dành đƣợc sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ tôn giáo, tâm lí, tâm lí học phát triển, và ngôn ngữ học xã hội, v. Nhìn chung, các nghiên cứu về TNKK thƣờng đƣợc tiếp cận theo hai hƣớng, một là nghiên cứu theo hƣớng miêu tả từ vựng truyền thống và hai là nghiên cứu theo hƣớng ngôn ngữ học xã hội. Nghiên cứu theo hƣớng từ vựng truyền thống thƣờng miêu tả TNKK nhƣ là những đơn vị ngôn ngữ mất lịch sự, thô thiển, thậm chí tục tĩu. Do đó TNKK phải bị cấm sử dụng hoặc tránh sử dụng bằng cách dùng uyển ngữ để thay thế.
Quan điểm ngôn ngữ học xã hội cho rằng: chỉ có thể hiểu đƣợc ý nghĩa của ngôn từ khi chúng hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Do đó, tính thô tục, mất lịch sự, thô lỗ của TNKK phụ thuộc vào các yếu tố xã hội tạo nên hoàn cảnh giao tiếp mà chúng xuất hiện, ví dụ nhƣ tuổi, giới, vị thế giao tiếp, giai tầng, v.v… của những ngƣời tham gia giao tiếp, đề tài giao tiếp, mức độ trang trọng hay thân tình của sự kiện giao tiếp, v. Nghiên cứu từ ngữ kiêng kị theo hƣớng miêu tả từ vựng truyền thống Xuất phát từ khía cạnh tôn giáo, Freud (1950) [49] và Steiner (1975) [98] là những ngƣời đầu tiên nghiên cứu TNKK, cho rằng TNKK ban đầu là những từ ngữ thuộc tôn giáo, chỉ xuất hiện trong đời sống tín ngƣỡng của con ngƣời. Tuy nhiên, cả hai tác giả đều cho rằng mặc dù khái niệm kiêng kị đang ngày càng trở nên lỏng lẻo hơn, kiêng kị đang chuyển dần từ lĩnh vực tôn giáo sang các lĩnh vực khác của đời sống con ngƣời, nhƣng vẫn còn nhiều những kiêng kị không đƣợc nói ra nhƣ: không đƣợc phép gọi tên những thế lực siêu nhiên nhƣ Chúa trời, ma quỷ; không đƣợc gọi tên về sự chết chóc, bệnh tật; không đƣợc nói những lời nguyền rủa.
Ngoài ra, ở một số xã hội, còn phải kiêng nói đến sự nghèo hèn, nghề nghiệp tầm thƣờng, và những thứ liên quan đến quần áo lót. Liên quan đến niềm tin, Nguyễn Quý Thành (1993) [16] nghiên cứu những TNKK trong nghề đi biển vùng Nam Trung Bộ, và giải thích rằng nghề đi biển là nghề khắc nghiệt và nguy hiểm nên để tránh những rủi ro do thiên tai mang lại, dân đi biển kiêng nói những từ ngữ gợi báo điềm gở, sự mất mát, không vững chắc: nhƣ về (vì về gợi báo trƣớc điều chẳng lành, không gặp may), mất (nếu đánh mất đồ - vì sợ mất mát, chết chóc); úp (vì sợ bị úp thuyền); v.v … Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2010) [7] cũng đã miêu tả các TNKK trong nghề làm gốm, ví dụ, kiêng kị nói đến những gì liên quan đến: sự thiếu lành nguyên, méo mó, đổ vỡ nhƣ: rịn (rịn nƣớc), nứt (nứt toác ra), tréo chân méo miệng, nát (vì liên quan đến sự đổ nát), (kể cả trong giao tiếp thông thƣờng bên ngoài lò nung), vì những từ này vốn thƣờng dùng để chỉ sản phẩm không đạt chất lƣợng hoặc quy trình sản xuất bị trục trặc. Nhìn chung, những nghiên cứu bàn về TNKK xuất phát từ khía cạnh tôn giáo đều có xu hƣớng khai thác các từ ngữ linh thiêng gắn với niềm tin tôn giáo của những con ngƣời mà tiềm thức gắn với tƣ tƣởng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Điều này đã chi phối các hoạt động của con ngƣời, lâu dần trở thành phong tục, tập quán.
3 Từ khía cạnh văn hóa, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến những từ ngữ liên quan đến chủ đề tình dục: bộ phận sinh dục và hành động tình dục. Đề cập đến những điều cấm kị trong cuộc sống, Nguyễn Kim Phƣớc (2006) [14] đã chỉ ra điều kị nhất là khi nói đến hành vi tính dục một cách trực tiếp. Do quan niệm chƣa cởi mở về tình dục, coi những gì liên quan đến sinh hoạt tình dục là tà ác và đáng xấu hổ nên kiêng kị nói những cụm từ ngữ quan hệ vợ chồng, vợ chồng gối chăn, mà nên nói làm việc, chuyện phòng the, cùng giƣờng, cuộc sống vợ chồng, v. Tác giả nhận định rằng đối với ngƣời Việt, trong giao tiếp thông thƣờng, ngƣời ta tránh không nói từ “chim”, “bƣớm” mà dùng từ Hán Việt là “hạ bộ”, “âm hộ” để nói tránh đi.
Một số từ ngữ liên quan đến chủ đề chết chóc đƣợc nhiều nghiên cứu đề cập đến. Nhiều dân tộc trên thế giới kiêng không nói đến từ chết, vì khi nói lên từ chết, ngƣời nghe có cảm giác nặng nề và thƣờng dễ bị tổn thƣơng. Chẳng hạn, ngƣời Anh kị không nói từ dying (đang sắp chết, hấp hối), mà nói passing away [2]. Ngƣời Việt cũng không nói từ chết mà nói: ra đi, từ trần, đi xa, mất, trút hơi thở cuối cùng, về với Chúa (ngƣời theo đạo Thiên Chúa), lên thiên đàng (đạo Phật), sang thế giới bên kia, giấc ngàn thu, về nơi chín suối, về với tổ tiên, về với ông bà, quy tiên, hi sinh (ngƣời chết vì lợi ích cộng đồng), v.
Từ khía cạnh ngôn ngữ, có nhiều nghiên cứu tập trung vào những từ ngữ mà khi nói đến, con ngƣời cảm thấy xấu hổ vì nó đề cập đến những chủ đề không lịch sự, không tế nhị. Khảo sát các yếu tố tục trong tiếng Việt, Đỗ Anh Vũ (2003) [20] đi tìm nghĩa biểu trƣng của từ cứt qua thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt, kết quả là từ cứt có 16 nghĩa biểu trƣng: chỉ thói kiêu căng, hợm hĩnh, chỉ sự khinh bỉ coi thƣờng, chỉ tính lƣời biếng vô tích sự, v. Từ góc độ từ vựng, Tạ Văn Thông (2003) [17] phát hiện ra trong tiếng Việt, khi cãi cọ nhau hoặc tức giận về một điều gì đó, ngƣời ta hay dùng những từ đƣợc xem là biểu tƣợng của 4 sự tục tĩu mà bình thƣờng phải giấu kín đi: cái con củ cặc để biểu thị sự ngạo mạn, coi thƣờng đối thủ của mình. Kị húy hay kiêng húy cũng là một vấn đề kiêng kị trong ngôn ngữ nhận đƣợc sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu.
Ở Việt Nam, thời phong kiến tục kiêng huý gần nhƣ là một quy tắc bắt buộc [11]. Trƣớc tiên, ở phạm vi của một quốc gia, mọi thần dân phải kiêng kị tên húy của vua. Chẳng hạn, có một thời gian ánh trong ánh sáng là kiêng kị (vì tên thật của Vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh), nên phải nói là yến sáng; cảnh trong cây cảnh là kiêng kị (vì tên con trai vua Gia Long là Nguyễn Phúc Cảnh), nên phải nói là cây kiểng. Ngoài việc kiêng nói tên vua, nhiều khi tên của những ngƣời thân thuộc với vua cũng phải kiêng nhƣ: cha, mẹ, vợ, con, anh em,… và có khi đến hàng ông nội, bà nội, tên giả, chữ đệm của vua cũng phải kiêng.
Trong phạm vi làng xã, cũng có những kiêng huý nhất định. Chẳng hạn ở Làng Phƣớc Tích (vùng biển Nam Trung Bộ), nồi là tên của ngài Khai canh - Bổn nghệ (họ Hoàng) của làng: “ngài thỉ tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi nguyên ngƣời làng Cảm Quyết, tỉnh Nghệ An đã thân chinh đánh đuổi Chiêm Thành.” [7], do đó, nồi là một từ kiêng kị.