ĐẶT VẤN ĐỀ U buồng trứng là một bệnh thường gặp ở phụ nữ trong tuổi hoạt động sinh dục, thường không có dấu hiệu cơ năng điển hình, bệnh nhân có thể tự sờ thấy khi khối u đã phát triển to hoặc vô tình phát hiện ra khi đi kiểm tra sức khoẻ, khám phụ khoa, khám thai định kỳ hoặc siêu âm ổ bụng vô tình phát hiện ra. Nhiều khi bệnh nhân chỉ phát hiện ra bệnh khi có biến chứng của u như xoắn, vỡ nang, chảy máu, hoại tử…[9]. Việc chẩn đoán u buồng trứng không phải là khó, song thái độ xử trí trước từng trường hợp cũng là vấn đề được các nhà phụ khoa quan tâm.Trước đây xử trí u buồng trứng bằng phẫu thuật mở bụng là kinh điển, qua phẫu thuật mở bụng có thể cắt bỏ hoặc bóc tách khối u buồng trứng bảo vệ mô lành. Trước năm 1990, trên thế giới thực hiện phẫu thuật nội soi chủ yếu là giải quyết bệnh phụ khoa, thủ thuật đơn giản như phẫu thuật nội soi chẩn đoán hoặc thắt ống dẫn trứng.
Từ sau 1990, phẫu thuật nội soi đã có những bước tiến vượt bậc, thực hiện được nhiều thủ thuật liên quan đến các tạng trong ổ bụng. Phương pháp phẫu thuật nội soi trong ngoại khoa và phụ khoa nói chung và trong điều trị u buồng trứng nói riêng đã và đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam. Hiện nay trên thế giới trên 80% u buồng trứng lành tính được điều trị bằng phẫu thuật nội soi (PTNS) [51]. Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi u buồng trứng lần đầu tiên được áp dụng tại Bệnh viện Từ Dũ vào năm 1993 và Bệnh viện Phụ sản trung ương vào năm 1996 [31].
Từ đó đến nay, đặc biệt những năm gần đây đã có rất nhiều cơ sở y tế trong cả nước áp dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị u buồng trứng lành tính. Đặc biệt tại các cơ sở phẫu thuật lớn, điều trị khối u buồng trứng lành tính bằng phẫu thuật nội soi đã phần lớn thay thế phẫu thuật 3 mở bụng cổ điển. cho tới nay phẫu thuật nội soi trong điều trị khối u buồng trứng đã được áp dụng rộng rãi từ cấp Tỉnh đến cấp huyện ở nhiều địa phương trên khắp cả nước. Đây là một bước tiến quan trọng của nền y học Việt Nam.
Ở nước ta đã có một số nghiên cứu về kỹ thuật, chỉ định và kết quả của phẫu thuật nội soi khối u buồng trứng. Kết quả cho thấy vẫn còn tồn tại một số vấn đề trong việc áp dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị khối u buồng trứng như tai biến chảy máu, tổn thương hệ tiết niệu và tiêu hóa, tai biến do bơm hơi, bỏ sót ung thư gây lan tràn vào ổ bụng khi không được chẩn đoán trước và trong mổ. ảnh hưởng đến việc cân nhắc chỉ định phương pháp phẫu thuật cho các bệnh nhân [9], [29], [22]. Tại Bệnh viện Sản- Nhi Bắc Giang, phẫu thuật nội soi u buồng trứng đã được triển khai từ năm 2002 và đến nay đã trở thành một phẫu thuật thường quy.
Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại cũng chưa có nghiên cứu nào tổng kết, phân tích, đánh giá về công tác điều trị phẫu thuật nội soi u buồng trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang để giúp các bác sỹ hiểu sâu và rút ra những kinh nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng và phục vụ người bệnh tốt hơn. Từ những thực tế trên, việc nghiên cứu đánh giá tình hình phẫu thuật nội soi khối u buồng trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang trong thời điểm hiện nay là cần thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi khối u buồng trứng tại Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Giang” với mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khối u buồng trứng được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang năm 2015.
Phân tích kết quả phẫu thuật nội soi khối u buồng trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ê ế ớ Nội soi ổ bụng với mục đích chẩn đoán đã phát triển từ gần một thế kỷ nay và mang lại những lợi ích đáng kể cho y học. Năm 1987 Philippe Mouret (Lyon-Pháp) đã thực hiện thành công ca cắt túi mật qua nội soi đầu tiên, mở ra một thời kỳ mới cho ngành phẫu thuật nói chung và ngành phẫu thuật nội soi nói riêng.
Phẫu thuật nội soi nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi và phát triển mạnh tại các nước Châu Âu, Châu Mỹ và trên toàn thế giới [1], [4], [5]. Tại Hoa kỳ năm 1992 đã có hơn 80% các phẫu thuật viên chấp nhận phương pháp phẫu thuật này. Phẫu thuật nội soi phát triển rất mạnh tại các nước phát triển. Theo một báo cáo vào tháng 9 1994 cho thấy tại Pháp có từ 70.000 trường hợp PTNS năm, ở Hoa Kỳ năm 1990 có 500.000 trường hợp phẫu thuật nội soi, ở Úc năm 1991 có 20.000 trường hợp phẫu thuật nội soi [1], [4].
Sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị ứng dụng như nguồn sáng lạnh, cáp quang, camera, monitor truyền hình và hệ thống bơm hơi ổ bụng đã góp phần to lớn trong sự phát triển của phẫu thuật nội soi. Cho đến nay, phẫu thuật nội soi đã thực sự phát triển không những ở các nước phát triển mà còn phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Tình hình ứng dụng và phát triển phẫu thuật nội soi ở Việt Nam: Tháng 9/1992, Bệnh viện Chợ Rẫy ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt túi mật đầu tiên tại Việt Nam. Bệnh viện Việt Đức triển khai phẫu thuật nội soi từ tháng 11 1993.
Cũng trong năm 1993, Bệnh viện Từ Dũ ứng dụng phẫu thuật nội soi trong phụ khoa. BVPSTƯ ứng dụng phẫu thuật nội soi từ năm 1996, đến nay đã thành công trong rất nhiều loại phẫu thuật như điều trị chửa ngoài tử cung, u buồng trứng, vô sinh, lạc nội mạc tử cung và cắt tử cung hoàn toàn. Năm 1999 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị chửa ngoài tử cung và u buồng trứng. Sau 19 năm được áp dụng tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi nói chung và phẫu thuật nội soi trong phụ khoa nói riêng đã được triển khai tại rất nhiều cơ sở phẫu thuật trên cả nước từ BV tuyến trung ương, tuyến tỉnh đến tuyến huyện.
Phẫu thuật nội soi cũng đã trở thành lựa chọn hàng đầu trong nhiều bệnh lý thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý, mô học của buồng trứng 1. Giải phẫu buồng trứng [28] - Có 2 buồng trứng nằm trong hố buồng trứng, sát thành bên chậu hông, cách eo trên 10 mm. - Buồng trứng gắn vào mặt sau dây chằng rộng qua mạc treo buồng trứng, là cơ quan duy nhất trong ổ bụng không có phúc mạc bao phủ.
6 - Hình dạng và kích thước: + Hình dạng: Buồng trứng có hình hạt thị hơi dẹt với hai mặt trong và ngoài, hai cực trên và dưới. + Kích thước: Dài 4 cm, rộng 2 cm, dày 1 cm ở người trưởng thành. - Trọng lượng trung bình 6 - 8 gam. - Liên quan: Mặt ngoài liên quan với thành bên chậu hông, nằm trong hố buồng trứng.
Hố buồng trứng được giới hạn: + Phía trên là động mạch chậu ngoài. + Phía sau là động mạch tử cung. + Phía trước là nơi bám của dây chằng rộng vào thành chậu hông. + Mặt trong: liên quan với vòi tử cung, ruột non, bên phải liên quan với ruột thừa, bên trái liên quan với đại tràng sigma.
- Các phương tiện giữ buồng trứng tại chỗ: + Mạc treo buồng trứng: là nếp phúc mạc nối buồng trứng vào mặt sau dây chằng rộng. + Dây chằng tử cung - buồng trứng: nối sừng tử cung với cực dưới buồng trứng cùng bên. + Dây chằng thắt lưng - buồng trứng: đính buồng trứng vào thành bên chậu hông, bên trong có cuống mạch và thần kinh buồng trứng. + Dây chằng vòi - buồng trứng: đi từ loa vòi tới cực trên buồng trứng.
- Động mạch, tĩnh mạch, thần kinh: + Động mạch: buồng trứng được cung cấp máu bởi các nhánh của hai động mạch là động mạch buồng trứng và động mạch tử cung cùng bên 7 Động mạch buồng trứng: xuất phát từ động mạch chủ bụng, dưới nguyên ủy của động mạch thẹn và chạy trong dây chằng treo buồng trứng sau đó chia thành hai nhánh tận là động mạch buồng trứng ngoài đi vào buồng trứng và động mạch vòi tử cung ngoài chạy dọc phía dưới vòi tử cung. Động mạch tử cung: tách ra các nhánh cùng để tiếp nối với các nhánh của động mạch buồng trứng + Tĩnh mạch: đi kèm động mạch. + Thần kinh: tách từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận đi theo động mạch buồng trứng để vào buồng trứng. Sinh lý Buồng trứng vừa là tuyến ngoại tiết, vừa là tuyến nội tiết [11].
- Ngoại tiết: sản xuất ra noãn. - Nội tiết: tiết ra hormon estrogen và progesteron. Mô học [8], [48] Bề mặt ngoài buồng trứng được phủ bởi một biểu mô vuông đơn trụ thấp được gọi là biểu mô buồng trứng, nhưng thường dẹt và tăng theo tuổi. Tế bào này có nhiều vi nhung mao, thỉnh thoảng có lông chuyển, bề mặt không đều, có những rãnh, các tế bào này không tạo ra giao tử cái.
Dưới lớp tế bào bề mặt buồng trứng gồm 2 phần cấu tạo: + Vùng tủy: Là vùng mô liên kết, chứa nhiều sợi cơ trơn, thần kinh, mạch máu lò xo và mạch bạch huyết. Đặc biệt chú ý là vùng này có các vết tích phôi thai dưới dạng ống nhỏ và những tế bào đa diện dạng tế bào Leydig. Chính các dạng tế bào này là nguồn gốc sinh tạo khối u thuộc nhóm IIB, III. 8 + Vùng vỏ: có hai lớp: Biểu mô: có nguồn gốc từ biểu mô phủ mầm tuyến sinh dục.
Mô liên kết: dưới lớp biểu mô, cấu tạo bởi các tế bào sợi non hình thoi và các chất gian bào. Trong mô liên kết chứa các khối hình cầu gọi là các nang trứng ở các lứa tuổi khác nhau từ nguyên thủy tới trưởng thành. Phân loại các khối u buồng trứng 1. Loại lành tính Nang nước: Có vỏ mỏng, dịch vàng chanh, không có sùi trong hay ngoài vỏ nang.
Nang bì: Chứa dịch trắng đục, xương, tóc và răng. Nang nhầy: Chứa dịch quánh. U thể đặc chứa tổ chức đồng nhất. Mạch máu trên bề mặt nang: + Nang cơ năng: Mạch máu hình san hô + Nang thực thể: Mạch máu hình răng lược.
Loại ác tính Vỏ nang sần sùi, có nhiều mạch máu tân tạo. Nang có nhiều thùy trong và ngoài nang.