phần mở đầu, Vũ Ngọc Phan cho rằng: Trong những sáng tác của nhà văn Nam bộ, độc giả dễ dàng nhận thấy mỗi câu chuyện là một bài học đạo lí mà nhà văn muốn gởi gắm đến người đọc. Hầu hết các truyện đều đề cao nhân nghĩa thuỷ chung, hiền hậu của con người, nhất là với cái nết na của người con gái (như trong các truyện Ông tơ cắc cớ, Chọn đá thử vàng), đề cao tính trung thực của con người (Xâu chìa khoá)… phản ánh cách nghĩ của truyền thống dân gian. Đó là “ác giả ác báo”, “gieo gió gặt bão”. Những con người phụ khó tham sang thì cuối cùng họ lại nhận lấy hậu quả…[54, tr.
29 -30] Từ những nhận định của Vũ Ngọc Phan, chúng ta có thể nói đây là nội dung khá phổ biến trong các sáng tác giai đoạn này. Quan niệm “văn dĩ tải đạo” trong văn chương trung đại vẫn còn có những ảnh hưởng nhất định trong sáng tác của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Trần e 5 Quang Nghiệp. Tuy vậy, cách thể hiện của họ vẫn có những nét đặc trưng riêng. Trong một số truyện ngắn, các nhà văn trực tiếp xen vào câu chuyện để bàn luận, diễn giải thể hiện quan niệm của mình.
Ông đã đứng trên lập trường đạo đức, lẽ phải để cắt nghĩa, đơn giản hoá những triết lí cao xa. Năm 1961, trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (tập 02), nhà nghiên cứu Thanh Lãng đã có những nhận định khá sâu sắc về vai trò của truyện ngắn và những đóng góp của các tác giả Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Trần Quang Nghiệp, Sơn Vương. đối với tiến trình phát triển truyện ngắn Nam bộ. Về vai trò cũng như ý nghĩa văn hoá của sự xuất hiện các thiên truyện ngắn trong văn học Nam bộ, Thanh Lãng đã khẳng định một cách khá xác đáng: Truyện ngắn Nam bộ có một đường hướng phát triển khá riêng biệt, khởi nguyên từ những thành tựu của văn học, báo chí Quốc ngữ và đã tiếp nối những con đường văn hoá, nhân văn mà văn chương Nam bộ truyền thống đã vạch ra.
Truyện ngắn Nam bộ đã mang lại cho văn chương vùng đất phía Nam những màu sắc mới, hơi thở mới, dần thoát ly khỏi những khuôn sáo và tiến dần trên bước đường hiện đại vậy. Tổng kết lại hành trình truyện ngắn Nam bộ trước năm 1945, nhà giáo Bùi Đức Tịnh trong công trình Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thuỷ đến cuối thế kỉ XX (1999) đã nêu rõ những đặc tính cụ thể so với các khu vực khác. Ông cho rằng: Truyện ngắn Nam bộ trước năm 1945 đã vận hành theo quỹ đạo của tiến trình hiện đại hóa nền văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỉ XX, như một sự khẳng định bước đầu những đóng góp đáng trân trọng của những cây bút tiêu biểu đối với thể loại truyện ngắn hiện đại ở Nam bộ.Đọc truyện ngắn của các tác giả truyện ngắn Nam bộ trước năm 1945, chúng ta có cảm giác như đang nhìn thấy một con người đang khúc khích cười e 6 trước những biểu hiện tha hóa trong tính cách của con người trước những đổi thay lớn lao của xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ. Tuy chưa đạt được thành công như những truyện ngắn hiện thực trào phúng của giai đoạn văn học 1930 -1945 nhưng cũng manh nha những yếu tố thể hiện những bước đầu mò mẫm của xu hướng hiện thực trong truyện ngắn Việt Nam trên bước đường hiện đại hóa [70, tr.
Truyện ngắn trong văn xuôi quốc ngữ Nam bộ giai đoạn 1945 - 1975, cùng với tiểu thuyết, là một trong hai thể loại có đóng góp quan trọng, đã được chú ý nghiên cứu nhiều, nhưng các bài viết, công trình nghiên cứu chưa chú ý đến phương diện thi pháp thể loại, nhất là chưa chú ý nhiều đến nghệ thuật trần thuật. Xét từ phương diện lịch sử, trong tiến trình phát triển lịch sử truyện ngắn Việt Nam, truyện ngắn Nam bộ đã đóng một vai trò tiên phong và đã tạo nên những bước đột phá mới. Thế kỷ XX - thế kỷ của truyện ngắn Việt Nam, nó đã khởi sắc và phát triển liên tục, vượt trội lên trên tất cả các thể loại, bắt đầu từ những thập niên đầu của thế kỉ XX, với sự đóng góp của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoằng Mưu, Trần Quang Nghiệp…Từ sau cánh mạng tháng Tám, truyện ngắn Nam bộ chuyển hướng đi theo những con đường riêng, phù hợp với thời cuộc nhưng vẫn tạo nên một dòng mạch liên tục với tên tuổi:Sơn Nam, Thanh Tâm Tuyền, Thẩm Thệ Hà, Tạ Tỵ, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Phi Vân, Vũ Hạnh, Viễn Phương, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi, Trang Thế Hy, Lý Văn Sâm. Các nhà nghiên cứu khi bình luận về những đóng góp của truyện ngắn Nam bộ giai đoạn 1945 - 1975 đã rất quan tâm đến những đóng góp của nó cho lịch sử phát triển truyện ngắn Việt Nam.
Một điều khá thú vị rằng, trong văn học miền Nam giai đoạn 1945 - 1975 đã xuất hiện những cây bút truyện ngắn ở những vùng đô thị và vùng tạm chiếm. Những cây bút nữ như Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ. đã đóng góp những tiếng nói cho phong trào nữ quyền được khơi mào trong văn học hiện đại Nam bộ mà e 7 truyện ngắn là thể loại đã thể hiện sớm nhất và sâu sắc nhất. Trong Văn chương Nam bộ (1974), Phạm Văn Đang nhận diện rõ những đóng góp của thế hệ các nhà văn đã góp phần thúc đẩy cho truyện ngắn Nam bộ đạt được những thành tựu rực rỡ hơn so với giai đoạn trước.
Ông cho rằng: Với điểm nhìn cá thể hóa tuyệt đối của người kể chuyện và thể hiện ở việc người kể chọn vị trí, chỗ đứng riêng để quan sát và kể lại những điều mình nghe thấy, nhìn thấy với giọng kể khách quan không biểu cảm, tập trung nhiều ở những truyện ngắn có xu hướng phi sử thi với đề tài thế sự, ly tâm dần với những đề tài rao giảng đạo đức đơn thuần và có phần khuôn sáo. Hệ thống truyện ngắn thời kì này đã tập trung đề cập đến những vấn đề thế sự như tình yêu, đạo đức, các giá trị, cách ứng xử, sự tha hóa,… dưới góc nhìn đặt trên lập trường khách quan, tiêu biểu như Trao thân con khỉ mốc (Phi Vân), Dọc đường (Thanh Tâm Tuyền), Lòng trần (Nguyễn Thị Thụy Vũ),…[22, tr. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng trong chuyên luận Bình luận truyện ngắn đã nêu rõ những đóng góp của truyện ngắn Nam bộ và nhấn mạnh: Điều đáng ghi nhận là trong truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn 1945 đến 1975, hình tượng chủ thể trần thuật độc quyền chiếm tỉ lệ rất cao. Thống kê trong 100 truyện ngắn được chọn khảo sát, kết hợp với thống kê một số tập truyện của các tác giả Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Hạnh, có hơn 80% truyện ngắn có chủ thể trần thuật độc quyền.
Việc chọn lựa xác lập chủ thể trần thuật toàn tri, độc quyền kể trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 -1975) có vai trò và ý nghĩa lịch sử nhất định [65, tr.191] Với hệ thống chủ đề khá đa dạng và thú vị, truyện ngắn Nam bộ giai đoạn 1945 - 1975 vẫn tập trung thể hiện những nội dung yêu nước và cảm hứng dân tộc đặc sắc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân khi đánh giá những thành tựu của văn học miền Nam giai đoạn trước năm 1975 cũng đã e 8 nhấn mạnh đến những vấn đề này. Trong tuyển tập Một số vấn đề khoa học xã hội Đồng bằng sông Cửu Long (1996), tác giả đã khẳng định: Các truyện ngắn Nam bộ có cảm hứng yêu nước, cảm hứng dân tộc như Bút máu (Vũ Hạnh), Sắc lụa Trữ La (Viễn Phương), Ông lão gác mõ (Việt Hà), Người tị nạn (Lê Vĩnh Hòa), Những đứa con thương của đất mẹ, Rừng mắm (Bình Nguyên Lộc), Giấc mơ ông lão vườn chim (Anh Đức), Quán rượu người câm (Nguyễn Quang Sáng),… đều diễn ra một cách “tự nhiên” theo lời kể của một người kể “vô hình”. Với các truyện phi sử thi, phương thức sử dụng người trần thuật ngôi thứ ba lại có các truyện về đề tài thế sự như Ba con cáo (Bình Nguyên Lộc), Lòng trần (Thụy Vũ), Thương hoài ngàn năm (Võ Phiến), Hang động mới (Phan Du), Tư (Thanh Tâm Tuyền),… hay có đề tài tìm về những giá trị cội nguồn dân tộc như Bà Mọi hú (Bình Nguyên Lộc), Hai cõi U Minh (Sơn Nam), Viên đội hầu (Nguyễn Văn Xuân),… đã kiến tạo nên những đặc sắc của truyện ngắn Nam bộ giai đoạn này [75, tr.
Trong sự vận động và phát triển của nó, truyện ngắn Nam bộ những năm sau 1975 đã tỏ rõ sự ưu việt của mình trong sự khám phá nghệ thuật đời sống. Nhất là 1986 trở đi, truyện ngắn gần như đã chiếm ưu thế trên văn đàn, hằng ngày trên các báo và các tạp chí có trên dưới hai mươi truyện ngắn được in, tiêu biểu như Kiến thức ngày nay, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn (Thành phố Hồ Chí Minh) và đặc biệt là các tạp chí địa phương trên địa bàn miền Đông và Tây Nam bộ. Thực tế ấy đã kích thích mạnh đến việc sáng tác, phê bình - lý luận về truyện ngắn giai đoạn sau 1975 đến 2000. Nhiều cuộc thi sáng tác truyện ngắn được khởi xướng.
Nhiều cuộc hội thảo đã được mở ra và nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau cũng đã được trình bày. Điều này chứng tỏ, truyện ngắn đang là thể loại được các nhà văn quan tâm, nỗ lực cách tân bậc nhất. Gần đây e 9 không khí văn chương được nóng lên bởi những phong cách khá độc đáo, điển hình như hiện tượng Nguyễn Ngọc Tư. Có thể nói, mỗi nhà văn một bút pháp riêng tạo nên “hiệu ứng” truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”, “thăng hoa”, “được mùa”, “lên ngôi”, điều đó chứng tỏ truyện ngắn Nam bộ đã được khẳng định và chứng thực.
Năm 1999, Nhà xuất Trẻ cho ra hai tập truyện ngắn miền Tây, giới thiệu trên 50 tác giả khá quen thuộc. Hội nhà văn vùng đồng bằng sông Cửu Long cho ra mắt tuyển tập 18 nhà văn của khu vực này và nhiều tuyển tập truyện ngắn khác lần lượt ra đời.