ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc xem là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới do là nơi hội tụ của ba dòng thực vật di cƣ, đó là hệ thực vật nam Trung Hoa, hệ thực vật Ấn độ –Himalaya và hệ thực vật Ma-lai-xia và In-đô- nê-xia. Theo Lê Xuân Cảnh (2004) hệ thực vật của Việt Nam có trên 13000 loài thực vật [1]. Vào năm 1943, Việt Nam có 14.3 triệu ha với độ tàn che 43%. Diện tích rừng đã suy giảm rất nhanh trong giai đoạn 1976-1990, độ tàn che giảm xuống 27.2% năm 1990, nhƣng tăng lên 28% vào năm 1995 nhờ kết quả của các chƣơng trình bảo vệ và phát triển rừng [2].
Những năm gần đây diện tích rừng đã tăng lên đáng kể do triển khai chƣơng trình 327 và chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng đến năm 2015 cả nƣớc có 14.06 triệu ha rừng (độ tàn che chiếm 40,84%), trong đó rừng tự nhiên là 10.17 triệu ha, rừng trồng 3,89 triệu ha. Diện tích rừng tự nhiên giảm xuống và diện tích rừng trồng tăng lên 0,89 triệu ha trong 5 năm qua [5]. Tuy nhiên diện tích rừng đặc dụng mới chỉ có 2,1 triệu ha (6,3 % diện tích lãnh thổ), chƣa đạt diện tích cần thiết để duy trì đa dạng sinh cho mỗi quốc gia theo tiêu chuẩn của Hiệp hội quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên (IUCN) (diện tích rừng bảo tồn phải chiếm 10% diện tích cả nƣớc). Năm 1996, có 356 loài thực vật bị đe doạ đƣa vào sách đỏ của Việt Nam [3], đến năm 2007 danh sách này tăng lên 465 loài [3].
Nhƣ vậy, số lƣợng loài cần đƣợc bảo vệ đã tăng lên đáng kể trƣớc sức ép của công nghiệp hoá và hiện hoá đất nƣớc. Trong số hơn 200 loài tre ở Việt Nam thì chỉ có duy nhất một loài đƣợc đƣa vào sách đỏ là Trúc vuông do các loài tre còn ít đƣợc nghiên cứu, thiếu thông tin để đánh giá mức độ đe dọa. Tre đã đƣợc nhân dân ta sử dụng từ rất lâu đời cho các mục đích khác nhau nhƣ làm nhà, đồ dùng gia đình, đan lát, trồng làm cảnh, lấy măng làm thực phẩm. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào các loài tre lấy măng hoặc lấy cây làm nguyên liệu cho chế biến nhƣ Bát độ (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii), Bƣơng mốc (Dendrocalamus 1 velutinus), Mạy bói (Bambusa burmanica) và Tre ngọt (Dendrocalamus brandisii)để lấy măng, trồng Luồng Thanh Hóa (Dendrocalamus barbatus) và Bƣơng lông điện biên (Dendrocalamus sp.) để lấy cây làm nguyên liệu cho chế biến.
Nhƣ vậy, các loài tre thuộc chi Luồng (Dendrocalamus) rất có tiềm năng về cung cấp măng và cung cấp cây do chúng thƣờng có kích thƣớc lớn. Trong số 27 loài đƣợc Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) mô tả ngắn gọn và giới thiệu, có rất ít loài nghiên cứu đặc điểm về sinh trƣởng, tái sinh, phân cành cũng nhƣ các kỹ thuật nhân giống, gây trồng chúng. Cho nên, thiếu các cơ sở khoa học để khuyến các gây trồng và phát triển các loài này. Chính vì vậy, để bổ sung những hiểu biết, cơ sở khoa học về các loài tre thuộc chi Luồng có tiềm năng lớn về cung cấp măng và nguyên liệu cho chế biến nên tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “ Đặc điểm sinh trƣởng và phát triển các loài thuộc chi Luồng (Dendrocalamus Nees) tại Cầu Hai – Phú Thọ” 2 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu về tre Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ở các nƣớc có tre trúc, ngƣời dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời đã tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi và chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,.
Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm sạch có giá trị. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia có diện tích tre trúc lớn nhất thế giới, nƣớc này hiện có khoảng 100.000 ha rừng tre trúc lấy măng với năng suất 10-20 tấn/ha/năm, tối đa 30-35 tấn/ha/năm, khoảng 3 triệu ha vừa sản xuất măng lại vừa sản xuất thân khí sinh. Tổng sản lƣợng măng của Trung Quốc khoảng 1 triệu tấn/năm (Fu Maoyi, 2000). Tre trúc là tập hơp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo ( Poaceae ).
Chúng đƣợc thấy ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m so với mực nƣớc biển, song phân bố tập trung ở vùng thấp và đai cao trung bình, mọc hoang dại hoặc đƣợc gây trồng mà một đặc điểm nổi bật là chúng có mặt trong nhiều môi trƣờng sống khác biệt (Dransfield and Widjaja, 1995 ). Nhiều loài và chi đƣợc coi là đặc hữu của vùng hoặc quốc gia nhƣ khoảng 20 chi tre ở vùng nhiệt đới châu Mỹ không tìm thấy ở ngoài vùng phân bố và các loài bản địa cảu Mađagaxaca là các loài đặc hữu của hòn đảo này, song hoạt động của con ngƣời từ hàng nghìn năm qua đã tác động rất lớn đến sự lan rộng của các loài tre từ vùng này sang vùng khác ( Dransfield and Widjaja, 1995). Nhìn chung tre trúc thƣờng có thân long rỗng và đốt đặc, đặc biệt dƣới gốc cây là hệ thống than ngầm phát triển mạnh mẽ, trên mặt đất là các than 3 khí sinh mang bẹ, lá, cành và phân cành khá phức tạp, hệ thống mo than hoàn hảo, đƣợc dung có hiệu quả trong quá trình phân loại. Do vậy mà tre trúc lầ loài cây đƣợc nhiều quốc gia quan tâm và nghiên cứu từ rất lâu.
Tre trúc với khoảng 1250 loài của 75 chi có đại diện ở mọi châu lục trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt giàu có về số lƣợng và chủng loại tre trúc với khoảng 65 chi và 900 loài trong đó theo Biswas thì Việt Nam cũng có tới 92 loài của 16 chi. Theo nghiên cứu về diện tích và số lƣợng các loài tre trúc của một số quốc gia trên thế giới của Zhou Fangchun năm 2000, ta có bảng sau: Bảng 1.1: Diện tích và số lƣợng các loại tre trúc của 1 số quốc gia trên thế giới Tên nƣớc hoặc vùng Diện tích Số chi Số loài(gồm cả (x1000ha) thứ hạng) Trung quốc( Đài Loan ) 7000 50 500 1700 60 Ấn Độ 4000 19 136 Myanma 2170 - 90 Thái Lan 810 13 60 Bănglađet 600 13 30 Campuchia 287 - - Việt Nam 141 16 92 Nhật Bản 138 13 230 Inđonexia 60 9 30 Malayxia 20 10 20 Philippin 20 11 55 Hàn Quốc 8 10 13 Xrailanca 2 7 14 Châu Đại Dƣơng và các đảo 20* 6 10 Thái Bình Dƣơng Châu Mỹ 1500* 17 270 Madangascar 1500* 14 50 Nguồn: Zhou Fangchun Ghi chú: (*) Ƣớc tính Từ nghiên cứu trên của Zhou Fangchun ta thấy: Trung Quốc, Myanma và Thái Lan là những quốc gia có thành phần loài tre trúc đa dạng nhất và diện tích lớn. Trung Quốc là nƣớc có nhiều tre trúc 4 nhất tính đến năm 2000 theo nghiên cứu của Zhou Fangchun với khoảng 50 chi và 500 loài, diện tích rừng tre lên tới 7 triệu ha.
Nhật Bản tuy diện tích không cao nhƣng có tới 13 chi và 230 loài. Một số loài tre trúc sống trên 100 năm và đem lại trên 1500 công dụng khác nhau. Sử dụng tại chỗ ƣớc đạt 2,7 tỷ đôla, thƣơng mại đạt 4,5 tỷ đôla, khoảng 2,5 tỷ ngƣời trên thế giới sử dụng tre và có tới 1 tỷ ngƣời sống trong nhà tre. Nhƣ vậy đủ thấy tre trúc quan trọng nhƣ thế nào với đời sống của ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân nghèo ở nông thôn và miền núi.
Ohrnberger (1999) đã thống kê đƣợc 1575 loài tre trên thế giới thuộc 11 chi, 10 phân tông và 6 tông, tác giả chỉ giới thiệu ngắn gọn tên, đƣờng kính, chiều cao và địa điểm và độ cao phân bố. Li và các tác giả (2006) đã mô tả 534 loài tre thuộc 34 chi có ở Trung Quốc, đặc điểm phân cành của các loài cũng đƣợc mô tả ngắn gọn nhƣ số cành, số cành của các đốt ở trên và số cành ở các đốt ở đƣới và số cành chính. Các nghiên cứu về chi Luồng (Dendrocalamus) Gamble (1896) đã mô tả 15 loài tre thuộc chi Luồng ở Ấn Độ nhƣng không có thông tin về đặc điểm phân cành, chỉ thông tin về đƣờng kính chiều cao của các loài và các đặc điểm phân loại khác Camus (1913) đã mô tả và giới thiệu 24 loài thuộc chi Luồng ở Đồng Dƣơng, đặc điểm phân cành của các loài có nêu số cành và số cành ở các đốt phía trên và phía dƣới. Li và Stapleton (2006) đã mô tả 27 loài thuộc chi Luồng ở Trung Quốc, có nêu số cành, số cành chính của các loài nhƣng không có thông tin về độ cao phân cành và góc phân cành.Nghiên cứu ở Việt Nam 1.
Các nghiên cứu về tre. Tre trúc là nguồn nguyên vật liệu quan trọng đứng thứ 2 sau gỗ có vị trí và vai trò to lớn trong đời sống xã hội và là nguồn nguyên vật liệu cho xây dựng, kiến trúc và là nguồn nguyên liệu cung cấp cho nhiều ngành công 5 nghiệp: nhƣ công nghiệp giấy sợi, công nghiệp sản xuất ván nhân tạo, sản xuất than… Mặt khác Tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Các nghiên cứu về Tre trúc ở Việt Nam phải kể đến các tác giả ngƣời Pháp nhƣ Camus (1913), Camus & Camus (1923) và tác giả ngƣời Việt nhƣ Phạm Hoàng Hộ (1972, 1999), Lê Viết Lâm và cộng sự (2005), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), Nguyễn Hoàng Nghĩa & Trần Văn Tiến (2010), Trần Văn Tiến và các tác giả (2010, 2013), Nguyễn Văn Thọ và các tác giả (2011, 2012, 2013, 2014). Camus (1913) đã mô tả các loài tre ở Đông Dƣơng, gồm có 486 loài thuộc 33 chi, trong đó có nhiều loài tre có thấy có phân bố ở Việt Nam.
Phạm Hoàng Hộ (1972) đã mô tả 57 loài tre thuộc 13 chi của Việt Nam nhƣng không có thông tin về đặc điểm phân cành và tái sinh thân ngầm. Phạm Hoàng Hộ (1999) mô tả các loài tre của Việt Nam, gồm 127 loài thuộc 24 chi nhƣng cũng không có thông tin về đặc điểm phân cành và tái sinh thân ngầm. Những năm gần đây các nghiên cứu về Tre của Viện Khoa học Lâm nghiệp đã thống kê và mô tả các loài tre của Việt Nam. Lê Viết Lâm và các tác giả (2005) đã thông kê đƣợc 113 loài tre thuộc 22 chi và mô tả 40 loài tre phổ biến.