Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu keo mùa thu spodoptera frugiperda j e smith trên một số cây trồng tại gia lâm hà nội năm 2020

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu keo mùa thu spodoptera frugiperda j e, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Côn trùng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

83
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu của đề tài

2. PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

2.1. Tình hình sản xuất na trên thế giới và Việt Nam

2.2. Nghiên cứu ngoài nước về sâu hại trên na

2.2.1. Tình hình nghiên cứu về ruồi đục quả

2.2.2. Nghiên cứu về rệp sáp giả cam P.

2.3. Nghiên cứu trong nước về sâu hại trên na

2.3.1. Nghiên cứu về ruồi đục quả

2.3.2. Nghiên cứu về rệp sáp giả cam (Planococcus citri)

3. PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu về ruồi đục quả

3.4.2. Nghiên cứu về rệp sáp giả cam (Planococcus citri)

3.4.3. Phương pháp tính toán

3.4.4. Xử lý số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ

4.1. Điều tra thành phần và diễn biến số lượng ruồi đục quả tại vườn na phường Tiền An, Quảng Yên, Quảng Ninh năm 2020

4.2. Đặc điểm sinh học sinh thái của ruồi đục quả B.

4.2.1. Đặc điểm hình thái

4.2.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ruồi đục quả B.

4.3. Đặc điểm sinh học, hình thái của rệp sáp giả cam P.

4.3.1. Đặc điểm hình thái của rệp sáp giả cam

4.4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.4.1. Đối với ruồi đục quả

4.4.2. Đối với rệp sáp giả cam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm sinh học của sâu keo mùa thu tại Gia Lâm

Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) là một trong những loài sâu hại chính gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. Loài sâu này có khả năng sinh sản nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Đặc điểm sinh học của sâu keo mùa thu bao gồm chu kỳ sống, hình thái và tập tính sinh sản. Sâu keo mùa thu trải qua bốn giai đoạn phát triển: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng biệt, ảnh hưởng đến khả năng gây hại cho cây trồng.

1.1. Chu kỳ sống của sâu keo mùa thu và ảnh hưởng đến cây trồng

Chu kỳ sống của sâu keo mùa thu kéo dài từ 30 đến 40 ngày, tùy thuộc vào điều kiện môi trường. Trong giai đoạn sâu non, chúng có thể gây hại nghiêm trọng cho lá và quả của cây trồng, dẫn đến giảm năng suất. Sâu keo mùa thu có khả năng sinh sản cao, mỗi con cái có thể đẻ từ 100 đến 200 trứng, làm gia tăng mật độ sâu hại trong vụ mùa.

1.2. Hình thái và đặc điểm sinh học của sâu keo mùa thu

Sâu keo mùa thu có màu sắc đa dạng, từ xanh lá đến nâu, giúp chúng ngụy trang tốt trong môi trường tự nhiên. Hình thái của sâu non có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển, với kích thước từ 1 cm đến 4 cm. Đặc điểm này giúp chúng dễ dàng thích nghi với nhiều loại cây trồng khác nhau.

II. Vấn đề và thách thức trong việc kiểm soát sâu keo mùa thu

Sâu keo mùa thu gây ra nhiều thách thức cho nông dân tại Gia Lâm, Hà Nội. Việc kiểm soát loài sâu này gặp khó khăn do khả năng sinh sản nhanh và khả năng kháng thuốc trừ sâu. Nông dân thường phải đối mặt với thiệt hại lớn về năng suất và chất lượng sản phẩm. Các biện pháp kiểm soát hiện tại chưa đủ hiệu quả, dẫn đến việc cần thiết phải nghiên cứu và áp dụng các phương pháp mới.

2.1. Tác hại của sâu keo mùa thu đối với cây trồng

Sâu keo mùa thu gây hại chủ yếu trên các loại cây ngô, đậu và nhiều loại cây trồng khác. Thiệt hại do sâu gây ra có thể lên đến 50% năng suất trong một vụ mùa. Sâu non ăn lá, làm giảm khả năng quang hợp và ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng biện pháp phòng trừ

Việc sử dụng thuốc trừ sâu để kiểm soát sâu keo mùa thu gặp nhiều khó khăn do sự kháng thuốc của loài này. Nông dân thường phải thay đổi loại thuốc thường xuyên, dẫn đến chi phí cao và ảnh hưởng đến môi trường. Cần có các biện pháp sinh học và quản lý tổng hợp để kiểm soát hiệu quả hơn.

III. Phương pháp phòng trừ sâu keo mùa thu hiệu quả

Để kiểm soát sâu keo mùa thu, cần áp dụng các phương pháp phòng trừ tổng hợp. Các biện pháp này bao gồm sử dụng thuốc trừ sâu sinh học, biện pháp canh tác và các phương pháp sinh học khác. Việc kết hợp nhiều phương pháp sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do sâu gây ra và bảo vệ môi trường.

3.1. Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong kiểm soát sâu keo

Thuốc trừ sâu sinh học có thể giúp kiểm soát sâu keo mùa thu mà không gây hại cho môi trường. Các loại thuốc này thường có nguồn gốc tự nhiên và ít độc hại hơn so với thuốc hóa học. Việc sử dụng thuốc sinh học cần được thực hiện đúng cách để đạt hiệu quả cao.

3.2. Biện pháp canh tác và quản lý cây trồng

Canh tác hợp lý và quản lý cây trồng là rất quan trọng trong việc kiểm soát sâu keo mùa thu. Nông dân nên áp dụng các biện pháp như luân canh, trồng cây che phủ và sử dụng giống cây kháng sâu để giảm thiểu sự phát triển của sâu hại.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sâu keo mùa thu

Nghiên cứu về sâu keo mùa thu tại Gia Lâm đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp có thể giảm thiểu thiệt hại do sâu gây ra. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng thuốc sinh học kết hợp với biện pháp canh tác hợp lý đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc kiểm soát sâu keo mùa thu.

4.1. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của thuốc sinh học

Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng thuốc sinh học đã giảm thiểu số lượng sâu keo mùa thu trên cây trồng từ 30% đến 50%. Điều này cho thấy tiềm năng của thuốc sinh học trong việc kiểm soát sâu hại mà không gây hại cho môi trường.

4.2. Ứng dụng biện pháp canh tác trong thực tiễn

Việc áp dụng biện pháp canh tác như luân canh và trồng cây che phủ đã giúp giảm thiểu sự phát triển của sâu keo mùa thu. Nông dân tại Gia Lâm đã ghi nhận sự cải thiện rõ rệt về năng suất cây trồng sau khi áp dụng các biện pháp này.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về sâu keo mùa thu

Nghiên cứu về sâu keo mùa thu tại Gia Lâm, Hà Nội đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp là cần thiết để kiểm soát loài sâu này. Tương lai của nghiên cứu cần tập trung vào việc phát triển các phương pháp sinh học và quản lý bền vững để bảo vệ cây trồng và môi trường.

5.1. Tương lai của nghiên cứu về sâu keo mùa thu

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các giống cây trồng kháng sâu và các biện pháp sinh học mới. Điều này sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do sâu keo mùa thu gây ra và bảo vệ môi trường.

5.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục nông dân

Giáo dục nông dân về các biện pháp phòng trừ sâu hại là rất quan trọng. Nông dân cần được trang bị kiến thức để áp dụng các biện pháp hiệu quả, từ đó giảm thiểu thiệt hại và nâng cao năng suất cây trồng.

15/07/2025
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu keo mùa thu spodoptera frugiperda j e smith trên một số cây trồng tại gia lâm hà nội năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây na dai (Annona squamosa) là loại cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao, có khả năng thích nghi rộng ở các vùng sinh thái của Việt Nam. Quả na chứa tới 72% glucose, 14,52% saccharose, 1,73% tinh bột, 2,7% protid và, thành phần dinh dưỡng trong 100g thịt na bao gồm: Năng lượng: 64kcal; nước: 82,5g; protein 1,6g; gluxit: 14,5g; xenluloza: 0,8g; canxi: 35mg; phốt pho: 45mg; vitamin C: 36mg. Ngoài ra trong na chứa rất nhiều vitamin nhóm B tốt cho sức khỏe. Với giá trị dinh dưỡng cũng như kinh tế cao, các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Ninh,.

là những nơi có diện tích trồng na lớn của nước ta. Trong số các loại sâu hại thì các loài ruồi đục quả và rệp sáp là các đối tượng gây hại trên cây na và nhiều loại cây ăn quả khác. Ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae gây ảnh hưởng lớn đến giá thành và chất lượng sản phẩm, gây tổn thất lớn cho người sản xuất. Một số loại quả có lợi thế trong xuất khẩu của Việt Nam như bưởi, vú sữa, xoài, thanh long cũng đều bị ruồi đục quả gây hại (Phạm Văn Lầm, 2013).

Rệp sáp thuộc họ Pseudococcidae hại cây ăn quả cũng gây hại nặng trên cây na. Trong nhóm rệp sáp thì rệp sáp giả cam có thân mềm và kích thước cơ thể nhỏ hoặc rất nhỏ. Phần lớn các loài rệp sáp đều có khả năng tiết ra chất sáp phủ lên cơ thể. Rệp sáp sống ở mọi bộ phận của cây như lá, đọt, cành, quả.

Rệp sáp chích hút dinh dưỡng làm cho lá cây bị giảm kích thước, mất diệp lục, vàng lá, gây rụng hoa và quả. Chất thải của chúng chứa hàm lượng đường cao, đây là môi trường thuận lợi cho nấm hoại sinh phát triển. Do đó các bộ phận của cây tại nơi có rệp sáp thường được phủ một lớp muội màu đen giống như bồ hóng. Lớp muội đen này làm giảm khả năng quang hợp và gây ảnh hưởng đến năng suất của cây na.

1 Cũng như các loại cây trồng khác, cây na dễ bị các loại sâu bệnh như: Bệnh thán thư trên cây na, bệnh thối rễ, bọ vòi voi gây hại bông na, rệp sáp trên na, ruồi đục quả na; Để phòng trừ các loại sâu bệnh trên na, người nông dân đã áp dụng các biện pháp sinh học, hóa học và cả vật liệu cơ giới. Nhưng do thiếu hiểu biết cũng như lạm dụng chất hóa học đã gây ra nhiều ảnh hưởng cho môi trường, hệ sinh thái và cả con người. Được sự phân công của Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học cùng với sự hướng dẫn của PGS. TS Hồ Thị Thu Giang, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái của sâu hại chính trên na năm 2020”.

Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loại sâu hại chính trên cây na để từ đó có thể đưa ra các biện pháp quản lý và phòng chống chúng một cách hiệu quả bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Yêu cầu của đề tài Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái của ruồi đục quả trên cây na. Xác định được đặc điểm sinh thái, sinh thái của rệp sáp giả cam gây hại trên cây na.

2 PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình sản xuất na trên thế giới và Việt Nam Chi na (Annona) có khoảng 110 loài trên thế giới, trong đó có khoảng 10 loài có thể ăn được. Tại vùng Trung Mỹ, một số loài được trồng chủ yếu bao gồm: Annona muricata, Annona riticulata, Annona squamosa, Annona cherimola, Annona diversifolia (Granadino & Cave, 1994).Trong các loài thuộc chi na Annona loài na dai Annona squamosa được trồng nhiều và được ưa chuộng nhất, do hương vị thơm ngon, thích hợp với nhiều người, và nó cũng khá dễ trồng, trồng được cả ở vùng nóng và vùng có mùa đông lạnh. Cây na dai (Annona squamosa) có nguồn gốc ở Châu Mỹ nhiệt đới trên các hải đảo nằm trong biển Caribê và Nam Mỹ.

Từ đó nó được ưa thích và trồng ở Mexico, Trung Mỹ trước khi lan xuống Nam Mỹ nhiệt đới. Cây na dai được du nhập vào Á Châu, Châu Phi nhiệt đới và bán nhiệt đới vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17. Ngày nay Australia là nước sản xuất và xuất cảng nhiều mãng cầu nhất thế giới. Nghiên cứu ngoài nước về sâu hại trên na 2.

Tình hình nghiên cứu về ruồi đục quả * Phân bố, ký chủ và mức độ gây hại của ruồi đục quả Vị trí phân loại: Ngành: Chân đốt (Arthropoda); Lớp: Sâu bọ (Insecta); Bộ: Hai cánh (Diptera); Họ: Ruồi đục quả (Tephritidae); Giống: Bactrocera; Loài: correcta.500 loài ruồi đục quả họ Tephritidae đã được phát hiện trên toàn thế giới. Chúng sống nhiều ở các vùng ôn đới, cận xích đạo và vùng nhiệt đới. Ngoài gây hại trên quả thì có một số loài ruồi đục quả họ Tephritidae còn 3 tấn công các bộ phận khác của cây trồng. Trong số này có 50 loài là đối tượng gây hại nghiêm trọng cho các loại cây ăn quả, cây rau ăn quả và 30 loài là đối tượng gây hại thứ yếu.

Tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương chỉ riêng thuộc phân họ Dacinae đã ghi nhận có 642 loài ruồi đục quả (Drew Richard Ai & Romig, 2001). Theo thống kê ở khu vực các nước Châu Phi thuộc phía nam của sa mạc Sahara có 140 loài thuộc giống Bactrocera, 65 loài thuộc giống Ceratitis và khoảng 170 loài thuộc giống Dacus, được gọi chung là nhóm Afrotropical. Ở khu vực Châu Âu, một phần Châu Á ôn đới, Trung Đông và Bắc Phi có khoảng 140 giống ruồi đục quả họ Tephritidae, trong đó giống Bactrocera có 13 loài, giống Dacus có 5 loài, giống Rhagoletis có 22 loài và một số loài thuộc giống Ceratitis (Kugler & Freidberg, 1975). Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis (Hendel) đã và đang tàn phá nền nông nghiệp ở các nước khu vực Châu Á.

Tại Châu Phi loài này vẫn chưa được phát hiện và đang là đối tượng kiểm dịch đáng lo ngại đối với các nước trong khu vực này (Lux & cs. Ngoài loài ruồi đục quả B. dorsalis thì hiện nay loài B. correcta cũng đang xuất hiện phổ biến và gây hại lớn.

Theo CABI (2020) loài ruồi đục quả B. correcta đã được ghi nhận ở Ấn Độ từ Pusa (Bihar), Coimbatore, Guindy và Tiruchirappalli (Tamil Nadu), Bangalore, Balechonnur, Bijapur, Hagari (Karnataka), South Gujarat, Bilaspur (Madya Pradesh), Haryana, Himachal Pradesh and Punjab. Ruồi đục quả B. dorsalis gây hại nhiều trên rau quả ở Châu Á và khu vực Thái Bình Dương.

Ruồi đục quả có thể phá hại nhiều loại cây ăn quả, chẳng hạn như cam, quýt, đào, xoài và ổi tạo ra thiệt hại kinh tế do làm hư quả trực tiếp, rụng quả và ảnh hưởng đến việc xuất khẩu liên quan đến quy định kiểm dịch. Hơn nữa, do phạm vi cây ký chủ rộng, chịu được trong các điều kiện khí 4 hậu khắc nghiệt, nhờ vào khả năng đẻ trứng mà chúng còn có khả năng xâm lấn cao (Wan & cs. Ruồi đục quả B. correcta có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chúng làm mất mùa, giảm sản lượng xuất khẩu, làm tăng các yêu cầu và đòi hỏi trong công tác kiểm dịch thực vật.

Trưởng thành cái ruồi đục quả chọc thủng lớp vỏ quả và đẻ trứng trong quả, sau đó, sâu non (giòi) sẽ ăn phần thịt quả làm cho quả bị thối rữa và hư hỏng nghiêm trọng bởi xuất hiện các loại vi sinh vật và quả không thể tiêu thụ được (Armstrong & Jang, 1997). Theo Mohamed (1996), loài ruồi đục quả B. correcta gây thiệt hại 80% số quả bị hại trong hai tuần của tháng 7 và tháng 8. Số lượng ruồi đục quả cao hơn trong tháng 6 đến tháng 9 so với tháng 10 – 12.

Không có mối tương quan thuận đáng kể nào giữa việc bẫy ruồi trưởng thành và tỷ lệ quả bị hại. Ruồi đục quả B. correcta là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho nhiều loại quả của nhiều nhóm cây trồng, một số ít còn gây hại quả của các cây họ bầu bí. Loài ruồi đục quả B.

correcta được xếp vào một trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực Đông Nam Á (Allwood & Drew, 1997). Đây là loài có phổ ký chủ rất rộng chúng gây hại trên cả các loại rau và quả, mức độ thiệt hại do ruồi đục quả gây ra có thể lên đến 100% đối với các loại quả không được bao gói. Vì chúng có phân bố rộng, khả năng ảnh hưởng của chúng đến thị trường tiêu thụ rất lớn, ruồi đục quả được coi là mối đe dọa với nhiều nước, do vậy nên cần yêu cầu các biện pháp kiểm dịch thực vật một cách chặt chẽ và các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả. Ở Mauritius, tổng chi phí cho việc tổ chức chiến lược loại trừ ruồi đục quả đã gần tới 1 triệu USD.

Ở Nhật Bản, việc loại trừ ruồi đục quả ở đảo Ryukyu đã tiêu tốn hơn 200 triệu bảng Anh. Ở California, Mỹ đã tính toán chi phí cho việc loại trừ ruồi đục quả có thể từ 44 đến 176 triệu USD ngoài ra còn chi phí cho việc sử dụng thuốc trừ sâu và các biện pháp kiểm dịch thực vật cần thiết. Chi phí cho việc loại trừ ruồi đục quả ở miền Bắc Queensland ở Úc đã tốn 33 triệu AUD, nhưng chi phí hàng 5 năm cho việc phòng trừ ruồi đục quả được ước tính 7 – 8 triệu AUD. Ở Hawaii, thiệt hại năng suất các loại quả chính gây ra bởi ruồi đục quả Bactrocera correcta có thể vượt quá 13% hay tương đương với 3 triệu USD (Yu-Ping & cs., 2010) * Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Các loài ruồi thuộc giống Bactrocera đã được phát hiện đều là loài đa thực, hầu như vòng đời của ruồi thường giống nhau.

Ruồi cái đẻ trứng trực tiếp vào các quả đang chín, sâu non (giòi) sống trong quả và trải qua 3 tuổi trước khi rơi xuống đất hóa nhộng. Sau khi vũ hóa trưởng thành sẽ trải qua thời kỳ tiền trưởng thành vài ngày với hoạt động phát tán và tìm kiếm thức ăn trước khi thực sự trưởng thành (có khả năng giao phối và sinh sản). Trưởng thành dùng phần lớn thời gian để tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên như là mật ong, mật từ các bao hoa và các phần ngoài hoa, nhựa cây, vi khuẩn, men bia hay là phân của động vật. Ruồi trưởng thành cần thường xuyên ăn carbonhydrate và nước để tồn tại, ruồi cái cần môi trường protein để trứng có thể phát triển, ruồi đực có thể phát triển khi không có protein (Papadopoulos & cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Đặc điểm sinh học và sinh thái của sâu keo mùa thu trên cây trồng tại Gia Lâm, Hà Nội cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học và sinh thái của sâu keo mùa thu, một loại sâu hại phổ biến trên cây trồng tại khu vực này. Tài liệu nêu rõ các đặc điểm sinh học của sâu, bao gồm chu kỳ sống, môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập đến tác động của sâu keo mùa thu đối với năng suất cây trồng, từ đó giúp nông dân và các nhà quản lý có những biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về quản lý sâu hại, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án nghiên cứu thành phần bọ xít bắt mồi và khả lợi dụng hai loài coranus fuscipennis reuter và coranus spiniscutis reuter trong quản lý tổng hợp sâu hại đậu rau tại vùng hà nội, nơi cung cấp thông tin về các loài thiên địch có thể hỗ trợ trong việc kiểm soát sâu hại. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái sâu tơ plutella xylostella và hiệu lực của một số thuốc thương phẩm chế phẩm sinh học phòng chống sâu tơ trong phòng thí nghiệm năm 2021 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp sinh học trong phòng chống sâu hại. Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học sinh thái học và biện pháp phòng chống rầy lưng trắng sogatella furcifera horvath tại yên mỹ hưng yên năm 2019 cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến việc quản lý sâu hại trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sâu hại và biện pháp kiểm soát chúng.