Đặt vấn đề Cây na dai (Annona squamosa) là loại cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao, có khả năng thích nghi rộng ở các vùng sinh thái của Việt Nam. Quả na chứa tới 72% glucose, 14,52% saccharose, 1,73% tinh bột, 2,7% protid và, thành phần dinh dưỡng trong 100g thịt na bao gồm: Năng lượng: 64kcal; nước: 82,5g; protein 1,6g; gluxit: 14,5g; xenluloza: 0,8g; canxi: 35mg; phốt pho: 45mg; vitamin C: 36mg. Ngoài ra trong na chứa rất nhiều vitamin nhóm B tốt cho sức khỏe. Với giá trị dinh dưỡng cũng như kinh tế cao, các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Ninh,.
là những nơi có diện tích trồng na lớn của nước ta. Trong số các loại sâu hại thì các loài ruồi đục quả và rệp sáp là các đối tượng gây hại trên cây na và nhiều loại cây ăn quả khác. Ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae gây ảnh hưởng lớn đến giá thành và chất lượng sản phẩm, gây tổn thất lớn cho người sản xuất. Một số loại quả có lợi thế trong xuất khẩu của Việt Nam như bưởi, vú sữa, xoài, thanh long cũng đều bị ruồi đục quả gây hại (Phạm Văn Lầm, 2013).
Rệp sáp thuộc họ Pseudococcidae hại cây ăn quả cũng gây hại nặng trên cây na. Trong nhóm rệp sáp thì rệp sáp giả cam có thân mềm và kích thước cơ thể nhỏ hoặc rất nhỏ. Phần lớn các loài rệp sáp đều có khả năng tiết ra chất sáp phủ lên cơ thể. Rệp sáp sống ở mọi bộ phận của cây như lá, đọt, cành, quả.
Rệp sáp chích hút dinh dưỡng làm cho lá cây bị giảm kích thước, mất diệp lục, vàng lá, gây rụng hoa và quả. Chất thải của chúng chứa hàm lượng đường cao, đây là môi trường thuận lợi cho nấm hoại sinh phát triển. Do đó các bộ phận của cây tại nơi có rệp sáp thường được phủ một lớp muội màu đen giống như bồ hóng. Lớp muội đen này làm giảm khả năng quang hợp và gây ảnh hưởng đến năng suất của cây na.
1 Cũng như các loại cây trồng khác, cây na dễ bị các loại sâu bệnh như: Bệnh thán thư trên cây na, bệnh thối rễ, bọ vòi voi gây hại bông na, rệp sáp trên na, ruồi đục quả na; Để phòng trừ các loại sâu bệnh trên na, người nông dân đã áp dụng các biện pháp sinh học, hóa học và cả vật liệu cơ giới. Nhưng do thiếu hiểu biết cũng như lạm dụng chất hóa học đã gây ra nhiều ảnh hưởng cho môi trường, hệ sinh thái và cả con người. Được sự phân công của Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học cùng với sự hướng dẫn của PGS. TS Hồ Thị Thu Giang, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái của sâu hại chính trên na năm 2020”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loại sâu hại chính trên cây na để từ đó có thể đưa ra các biện pháp quản lý và phòng chống chúng một cách hiệu quả bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Yêu cầu của đề tài Xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái của ruồi đục quả trên cây na. Xác định được đặc điểm sinh thái, sinh thái của rệp sáp giả cam gây hại trên cây na.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình sản xuất na trên thế giới và Việt Nam Chi na (Annona) có khoảng 110 loài trên thế giới, trong đó có khoảng 10 loài có thể ăn được. Tại vùng Trung Mỹ, một số loài được trồng chủ yếu bao gồm: Annona muricata, Annona riticulata, Annona squamosa, Annona cherimola, Annona diversifolia (Granadino & Cave, 1994).Trong các loài thuộc chi na Annona loài na dai Annona squamosa được trồng nhiều và được ưa chuộng nhất, do hương vị thơm ngon, thích hợp với nhiều người, và nó cũng khá dễ trồng, trồng được cả ở vùng nóng và vùng có mùa đông lạnh. Cây na dai (Annona squamosa) có nguồn gốc ở Châu Mỹ nhiệt đới trên các hải đảo nằm trong biển Caribê và Nam Mỹ.
Từ đó nó được ưa thích và trồng ở Mexico, Trung Mỹ trước khi lan xuống Nam Mỹ nhiệt đới. Cây na dai được du nhập vào Á Châu, Châu Phi nhiệt đới và bán nhiệt đới vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17. Ngày nay Australia là nước sản xuất và xuất cảng nhiều mãng cầu nhất thế giới. Nghiên cứu ngoài nước về sâu hại trên na 2.
Tình hình nghiên cứu về ruồi đục quả * Phân bố, ký chủ và mức độ gây hại của ruồi đục quả Vị trí phân loại: Ngành: Chân đốt (Arthropoda); Lớp: Sâu bọ (Insecta); Bộ: Hai cánh (Diptera); Họ: Ruồi đục quả (Tephritidae); Giống: Bactrocera; Loài: correcta.500 loài ruồi đục quả họ Tephritidae đã được phát hiện trên toàn thế giới. Chúng sống nhiều ở các vùng ôn đới, cận xích đạo và vùng nhiệt đới. Ngoài gây hại trên quả thì có một số loài ruồi đục quả họ Tephritidae còn 3 tấn công các bộ phận khác của cây trồng. Trong số này có 50 loài là đối tượng gây hại nghiêm trọng cho các loại cây ăn quả, cây rau ăn quả và 30 loài là đối tượng gây hại thứ yếu.
Tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương chỉ riêng thuộc phân họ Dacinae đã ghi nhận có 642 loài ruồi đục quả (Drew Richard Ai & Romig, 2001). Theo thống kê ở khu vực các nước Châu Phi thuộc phía nam của sa mạc Sahara có 140 loài thuộc giống Bactrocera, 65 loài thuộc giống Ceratitis và khoảng 170 loài thuộc giống Dacus, được gọi chung là nhóm Afrotropical. Ở khu vực Châu Âu, một phần Châu Á ôn đới, Trung Đông và Bắc Phi có khoảng 140 giống ruồi đục quả họ Tephritidae, trong đó giống Bactrocera có 13 loài, giống Dacus có 5 loài, giống Rhagoletis có 22 loài và một số loài thuộc giống Ceratitis (Kugler & Freidberg, 1975). Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis (Hendel) đã và đang tàn phá nền nông nghiệp ở các nước khu vực Châu Á.
Tại Châu Phi loài này vẫn chưa được phát hiện và đang là đối tượng kiểm dịch đáng lo ngại đối với các nước trong khu vực này (Lux & cs. Ngoài loài ruồi đục quả B. dorsalis thì hiện nay loài B. correcta cũng đang xuất hiện phổ biến và gây hại lớn.
Theo CABI (2020) loài ruồi đục quả B. correcta đã được ghi nhận ở Ấn Độ từ Pusa (Bihar), Coimbatore, Guindy và Tiruchirappalli (Tamil Nadu), Bangalore, Balechonnur, Bijapur, Hagari (Karnataka), South Gujarat, Bilaspur (Madya Pradesh), Haryana, Himachal Pradesh and Punjab. Ruồi đục quả B. dorsalis gây hại nhiều trên rau quả ở Châu Á và khu vực Thái Bình Dương.
Ruồi đục quả có thể phá hại nhiều loại cây ăn quả, chẳng hạn như cam, quýt, đào, xoài và ổi tạo ra thiệt hại kinh tế do làm hư quả trực tiếp, rụng quả và ảnh hưởng đến việc xuất khẩu liên quan đến quy định kiểm dịch. Hơn nữa, do phạm vi cây ký chủ rộng, chịu được trong các điều kiện khí 4 hậu khắc nghiệt, nhờ vào khả năng đẻ trứng mà chúng còn có khả năng xâm lấn cao (Wan & cs. Ruồi đục quả B. correcta có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chúng làm mất mùa, giảm sản lượng xuất khẩu, làm tăng các yêu cầu và đòi hỏi trong công tác kiểm dịch thực vật.
Trưởng thành cái ruồi đục quả chọc thủng lớp vỏ quả và đẻ trứng trong quả, sau đó, sâu non (giòi) sẽ ăn phần thịt quả làm cho quả bị thối rữa và hư hỏng nghiêm trọng bởi xuất hiện các loại vi sinh vật và quả không thể tiêu thụ được (Armstrong & Jang, 1997). Theo Mohamed (1996), loài ruồi đục quả B. correcta gây thiệt hại 80% số quả bị hại trong hai tuần của tháng 7 và tháng 8. Số lượng ruồi đục quả cao hơn trong tháng 6 đến tháng 9 so với tháng 10 – 12.
Không có mối tương quan thuận đáng kể nào giữa việc bẫy ruồi trưởng thành và tỷ lệ quả bị hại. Ruồi đục quả B. correcta là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho nhiều loại quả của nhiều nhóm cây trồng, một số ít còn gây hại quả của các cây họ bầu bí. Loài ruồi đục quả B.
correcta được xếp vào một trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực Đông Nam Á (Allwood & Drew, 1997). Đây là loài có phổ ký chủ rất rộng chúng gây hại trên cả các loại rau và quả, mức độ thiệt hại do ruồi đục quả gây ra có thể lên đến 100% đối với các loại quả không được bao gói. Vì chúng có phân bố rộng, khả năng ảnh hưởng của chúng đến thị trường tiêu thụ rất lớn, ruồi đục quả được coi là mối đe dọa với nhiều nước, do vậy nên cần yêu cầu các biện pháp kiểm dịch thực vật một cách chặt chẽ và các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả. Ở Mauritius, tổng chi phí cho việc tổ chức chiến lược loại trừ ruồi đục quả đã gần tới 1 triệu USD.
Ở Nhật Bản, việc loại trừ ruồi đục quả ở đảo Ryukyu đã tiêu tốn hơn 200 triệu bảng Anh. Ở California, Mỹ đã tính toán chi phí cho việc loại trừ ruồi đục quả có thể từ 44 đến 176 triệu USD ngoài ra còn chi phí cho việc sử dụng thuốc trừ sâu và các biện pháp kiểm dịch thực vật cần thiết. Chi phí cho việc loại trừ ruồi đục quả ở miền Bắc Queensland ở Úc đã tốn 33 triệu AUD, nhưng chi phí hàng 5 năm cho việc phòng trừ ruồi đục quả được ước tính 7 – 8 triệu AUD. Ở Hawaii, thiệt hại năng suất các loại quả chính gây ra bởi ruồi đục quả Bactrocera correcta có thể vượt quá 13% hay tương đương với 3 triệu USD (Yu-Ping & cs., 2010) * Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Các loài ruồi thuộc giống Bactrocera đã được phát hiện đều là loài đa thực, hầu như vòng đời của ruồi thường giống nhau.
Ruồi cái đẻ trứng trực tiếp vào các quả đang chín, sâu non (giòi) sống trong quả và trải qua 3 tuổi trước khi rơi xuống đất hóa nhộng. Sau khi vũ hóa trưởng thành sẽ trải qua thời kỳ tiền trưởng thành vài ngày với hoạt động phát tán và tìm kiếm thức ăn trước khi thực sự trưởng thành (có khả năng giao phối và sinh sản). Trưởng thành dùng phần lớn thời gian để tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên như là mật ong, mật từ các bao hoa và các phần ngoài hoa, nhựa cây, vi khuẩn, men bia hay là phân của động vật. Ruồi trưởng thành cần thường xuyên ăn carbonhydrate và nước để tồn tại, ruồi cái cần môi trường protein để trứng có thể phát triển, ruồi đực có thể phát triển khi không có protein (Papadopoulos & cs.