Đặt vấn đề Từ những năm đầu thế kỷ XX trên thế giới việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường sống là hướng ưu tiên hàng đầu của ngành nông nghiệp, trong đó cây đu đủ cũng được rất quan tâm đến do những giá trị và lợi ích của nó mang lại. Cho tới nay ở nước ta,biện pháp hóa học được sử dụng chủ yếu để phòng trừ sâu hại. Biện pháp hoá học mang lại hiệu quả trừ sâu nhanh chóng nhưng cũng để lại những hậu quả khôn lường đối với môi trường sinh thái và sức khoẻ con người. Nghiên cứu sử dụng biện pháp sinh học trong hệ thống phòng trừ tổng hợp sâu hại là hướng nghiên cứu tiên tiến, khoa học, đáp ứng được cả hai nhu cầu: phòng trừ sâu hại và bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái.
Biện pháp sinh học cũng là một giải pháp hữu hiệu để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Trong biện pháp sinh học thì việc sử dụng các loài bắt mồi hạn chế số lượng các loài sâu hại là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả đáng kể. Trong những năm gần đây, người trồng cây đu đủ ở trong cả nước nói chung và ở ngoại ô thành phố Hà Nội nói riêng phải đối mặt với sự gây hại nặng nề của một loài rệp sáp giả (họ Pseudococcidae). Loài rệp sáp giả này mới xuất hiện và phát sinh rất mạnh, trở thành một loài sâu hại chính trên cây đu đủ.
Mức độ xâm nhiễm của loài rệp sáp giả này phổ biến ở mức khá cao với tỷ lệ bị nhiễm từ 20-30% trên lá đu đủ và 30- 50% trên quả đu đủ. Cả rệp sáp non và trưởng thành cái đều chích hút dinh dưỡng từ lá, quả đu đủ. Khi phát sinh mạnh với số lượng lớn, nếu không có biện pháp phòng chống kịp thời, chúng làm cho cây đu đủ còi cọc, sinh trưởng, phát triển kém, có thể gây rụng lá, rụng quả hàng loạt, dẫn đến làm giảm năng suất và chất lượng thương phẩm quả đu đủ, cuối cùng dẫn tới thất thu lớn cho người trồng cây đu đủ (Đoàn Thị Lương & cs. Việc sử dụng biện pháp hóa học đang được sử dụng quá mức đã và đang gây ra những hậu 1 quả nghiêm trọng tới môi trường sống của con người và sinh vật.
Trong đó nhiều loài sâu hại xuất hiện, nhiều loài sâu hại trước kia không phổ biến thì giờ đây lại trở thành những loài sâu hại nguy hiểm. Nhiều loài côn trùng có ích lại suy giảm về số lượng một cách nghiêm trọng, nhiều loài không còn thấy xuất hiện trên đồng ruộng. Chính vì vậy, biện pháp sinh học nên được áp dụng nhiều hơn, đặc biệt trong đó đáng chú ý là nghiên cứu sử dụng thiên địch bắt mồi để hạn chế số lượng các loài rệp hại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các loài thiên địch bắt mồi đặc biệt là loài bọ rùa có một ý nghĩa quan trọng không những chỉ ra vai trò to lớn của chúng trong đấu tranh sinh học mà còn có thể sử dụng chúng trong việc nhân nuôi thả ra cánh đồng, cũng như coi chúng như là đối tượng nghiên cứu trong các thực nghiệm về sinh lý, tập tính, sinh sản và di truyền.
Để sử dụng, duy trì và bảo vệ các loài thiên địch bắt mồi một cách có hiệu quả cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ về điều tra thành phần, diễn biến mật độ, đặc điểm sinh học, sinh thái của loài quan trọng. Nhằm góp phần có được những dẫn liệu quan trọng góp phần tích cực trong việc quản lý dịch hại cây trồng và bảo tồn nguồn gen hữu ích của các loài thiên địch nói riêng và các loài côn trùng có ích nói chung. Đặc biệt, hiện nay tại Việt Nam các đề tài nghiên cứu về loài thiên địch của rệp sáp vẫn còn hạn chế trong khi dịch hại này đang nghiêm trọng. Với tất cả lý do đó, em xin đề xuất đề tài nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.
Nguyễn Đức Tùng: “Thành phần bọ rùa bắt mồi rệp sáp bột đu đủ tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022, đặc điểm sinh học sinh thái bọ rùa đen nhỏ Cryptolaemus montrouzieri Mulsant”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Điều tra thành phần bọ rùa bắt mồi rệp sáp bột đu đủ trên một số cây trồng tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022 nhằm xác định được loài bọ rùa tiềm năng nhất 2 cho các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho việc nhân nuôi hàng loạt loài bọ rùa này trong tương lai, góp phần phòng trừ sinh học nhóm rệp sáp bột gây hại cây trồng. Yêu cầu - Điều tra thành phần các loài bọ rùa ăn rệp sáp bột đu đủ trên một số loại cây trồng tại Phúc Thọ và Gia Lâm, Hà Nội năm 2022 - Đánh giá khả năng ăn rệp sáp bột đu đủ của các loài bọ rùa thu được nhằm xác định bắt mồi hiệu quả nhất.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ rùa tiềm năng nhất 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước về rệp sáp Rệp sáp là họ côn trùng có vảy lớn thứ hai (Hemiptera: Coccoidea), với hơn 2.000 loài được mô tả và có 290 chi (Downie & Gullan, 2005; Luck & Forster, 2003). Tên thông thường của chúng có nguồn gốc từ việc có lớp sáp bao phủ cơ thể chúng (Kosztarab, 1996).
Một nghiên cứu phát sinh loài gần đây, dựa trên phân tích dữ liệu trình tự nucleotide, đã hỗ trợ sự tồn tại của ba phân họ Pseudococcinae, Phenacoccinae và Rhizoecinae (Downie & Gullan, 2005). Ước tính này gần đây đã được sửa đổi dựa trên dữ liệu phân tử và hình thái tích hợp, và chỉ có hai phân họ xuất hiện: Pseudococcinae và Phenacoccinae. Rệp sáp là loài gây hại nông nghiệp nghiêm trọng. Theo Miller & Miller (2002), 158 loài rệp sáp được công nhận là loài gây hại trên toàn thế giới.
Nhộng và rệp sáp cái trưởng thành hút nhựa cây và một số loài gây hại đáng kể thiệt hại kinh tế đối với cây ăn quả. Việc hút nhựa cây của rệp sáp làm cây mất sức sống, giảm năng suất, sinh trưởng kém, cành chết, lá rụng, và đôi khi chết cây (Miller & Kosztarab, 1979). Rệp sáp bài tiết ra đường mật , gây ra thiệt hại gián tiếp bằng cách làm hỏng các tán lá, cung cấp môi trường phát triển cho nấm mốc thối nhũn. Nấm mốc phát triển cản trở ánh sáng và không khí từ lá, làm cản trở quá trình quang hợp và có thể làm cho quả kém phát triển từ đó giảm năng suất, giảm hàm lượng đường trong trái và trái bị biến dạng (Miller & Kosztarab, 1979).
Rệp sáp gây hại thường là loài xâm nhập. Ở Hoa Kỳ, có 350 loài rệp sáp. Khoảng 70% trong số 66 loài rệp sáp được coi là dịch hại xâm nhập (Miller & Miller, 2002). Ở New Zealand, hầu hết trong số 114 các loài rệp sáp chỉ có trên cây bản địa.
Các loài Pseudococcus xâm nhập là loài gây hại thường xuyên xuất hiện trên cây trồng làm vườn trong nước, nơi chúng chiếm hơn 99% khu hệ rệp 4 sáp ở vườn cây ăn quả và vườn nho (Charles, 1993). Thay vì một số loài rệp sáp thực vật có phạm vi ký chủ hẹp được coi là dịch hại chính trên một quy mô quốc tế, như trường hợp rệp sáp Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero (Hammond & Neuenschwander, 1990). Tuy nhiên, những loài gây hại nặng nhất là những loài nhiều ký chủ và đã trở thành dịch hại nghiêm trọng của các loại cây trồng khác nhau trong các môi trường khác nhau. Nhiều loài trong số chúng là các loài sinh vật phổ biến thuộc các chi Pseudococcus và Planococcus; chúng lan rộng giữa các lục địa thông qua thương mại quốc tế.
Một số loài của chi Pseudococcus, ví dụ, Ps.longispinus (Targioni-Tozzetti), và Ps.viburni (Signoret), là những loài gây hại quan trọng đối với các vườn táo, lê và nho ở New Zealand, trong khi xung quanh Địa Trung Hải, chúng chủ yếu được coi là loài gây hại cho cây có múi, hồng và một số cây ăn quả cận nhiệt đới khác (Franco & cs. Một ví dụ khác mà cho thấy tầm quan trọng kinh tế cao của một loại rệp sáp đa ký chủ là rệp sáp màu hồng - rệp sáp hoa râm bụt, rệp sáp Maconellicoccus hirsutus. Rệp sáp này là bản địa của miền nam châu Á, và thực sự được coi là một loài gây hại nghiêm trọng tiềm ẩn ở Hoa Kỳ, vì phạm vi ký chủ cực kỳ quan trọng về kinh tế của nó, bao gồm cam quýt, cây cảnh, rau và hệ thực vật bản địa của Mỹ. Nếu không có sự kiểm soát, nền kinh tế tác động của rệp sáp hoa dâm bụt đối với nông nghiệp Hoa Kỳ ước tính khoảng 750 triệu đô la mỗi năm (Hall & cs.
Rệp sáp Phenacoccus solani Ferris và Ph.solenopsis Tinsley là những ví dụ về dịch hại xâm hại cây hàng năm; chúng gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tiêu xanh ở Israel và bông ở tiểu lục địa Ấn Độ (Ben-Dov & Yair, 2005). Rệp hại nặng nhất là rệp sáp ăn cam quýt ; các loài khác phá hại mía, nho, dứa (John & Beardsley, 2021), cây cà phê, sắn, dương xỉ, xương rồng, cây dành dành, đu đủ, dâu tằm, hướng dương và hoa lan. Rệp sáp chỉ có xu hướng là loài gây hại nghiêm trọng khi có kiến vì kiến bảo vệ chúng khỏi những kẻ săn mồi và ký sinh trùng. Tình hình nghiên cứu ngoài nước về Paracoccus marginatus Trong những năm gần đây, rệp sáp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trên các loại cây trồng ở Sri Lanka vì sự du nhập ngẫu nhiên của các loài xâm lấn như Paracoccus marginatus Williams & Granara de Willink, Phenacoccus solenopsis (Tinsley), Dysmicoccus neobrevipes Beardsley, Rastrococcus rubellus Williams và Brevennia rehi Lindinger (Galanihe & Watson, 2013);(Galanihe & cs.
Sự ra đời của P. marginatus gây ra dịch bệnh và gây thiệt hại nặng nề cho cây trồng, đặc biệt là đối với đu đủ (Galanihe & cs. Rệp sáp trên khắp thế giới gây ra nhiều vấn đề kinh tế khác nhau. Paracoccus marginatus Williams và Granara de Willink, thường được gọi là rệp sáp hại đu đủ (PMB) đã xâm nhập vào một số quốc gia và gây hại cho nhiều cây trồng quan trọng về kinh tế (Muniappan & cs.
Paracoccus marginatus có nguồn gốc từ Mexico hoặc Trung và Bắc Mỹ (Miller & cs. Kể từ lần đầu tiên được mô tả vào năm 1992 từ vùng nhiệt đới mới, P. marginatus đã lan rộng đến một số hòn đảo Caribe và Trung và Nam Mỹ, (Miller & cs.