Thành phần bọ rùa bắt mồi rệp sáp bột đu đủ tại gia lâm hà nội năm 2022 đặc điểm sinh học sinh thái bọ rùa đen nhỏ cryptolaemus montrauzieri mulsant khoán luận tốt nghiệp

Tài liệu nghiên cứu Thành phần bọ rùa bắt mồi rệp sáp bột đu đủ tại gia lâm hà nội năm 2022 đặc điểm sinh học sinh thái, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

101
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

3. PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.4. Phương pháp nuôi nhân tạo rệp sáp

3.5. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa bắt mồi tiềm năng nhất

3.6. Công thức tính toán

3.7. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học của bọ rùa đen nhỏ Cryptolaemus montrouzieri

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm sinh học của bọ rùa đen nhỏ Cryptolaemus montrouzieri, một loài thiên địch quan trọng trong việc kiểm soát rệp sáp bột đu đủ Paracoccus marginatus. Kết quả cho thấy vòng đời của Cryptolaemus montrouzieri dao động từ 23,91 đến 28,00 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường. Ở nhiệt độ 30℃, vòng đời kéo dài hơn so với 33℃. Sức ăn của các pha ấu trùng cũng được ghi nhận, với pha tuổi 4 có khả năng ăn nhiều nhất (67,80 con/pha ở 30℃). Điều này cho thấy tiềm năng lớn của loài này trong việc kiểm soát rệp sáp.

1.1. Vòng đời và phát triển

Vòng đời của Cryptolaemus montrouzieri được nghiên cứu chi tiết, bao gồm các giai đoạn từ trứng đến trưởng thành. Ở nhiệt độ 30℃, vòng đời trung bình là 28,00 ngày, trong khi ở 33℃, thời gian này giảm xuống còn 23,91 ngày. Sự khác biệt này cho thấy ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ đến tốc độ phát triển của loài bọ rùa này.

1.2. Sức ăn của ấu trùng

Sức ăn của các pha ấu trùng Cryptolaemus montrouzieri được đánh giá qua số lượng rệp sáp tiêu thụ. Kết quả cho thấy pha tuổi 4 có sức ăn lớn nhất, với trung bình 67,80 con/pha ở 30℃. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của loài này trong việc kiểm soát rệp sáp bột đu đủ.

II. Đặc điểm sinh thái của Cryptolaemus montrouzieri tại Gia Lâm Hà Nội

Nghiên cứu cũng tập trung vào đặc điểm sinh thái của Cryptolaemus montrouzieri tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022. Kết quả cho thấy loài này có khả năng thích nghi tốt với môi trường địa phương, đặc biệt là trên cây đu đủhoa dâm bụt. Mật độ của bọ rùarệp sáp được theo dõi, cho thấy sự tương quan chặt chẽ giữa sự hiện diện của Cryptolaemus montrouzieri và sự giảm thiểu rệp sáp.

2.1. Mật độ và phân bố

Nghiên cứu ghi nhận mật độ của Cryptolaemus montrouzieri trên các cây đu đủhoa dâm bụt tại Gia Lâm. Kết quả cho thấy sự hiện diện của loài này có tác động tích cực đến việc giảm thiểu rệp sáp, đặc biệt là Paracoccus marginatus.

2.2. Tác động sinh thái

Cryptolaemus montrouzieri được đánh giá là có tác động sinh thái lớn trong việc kiểm soát rệp sáp. Sự hiện diện của loài này giúp duy trì cân bằng sinh thái, giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong bảo vệ cây trồng.

III. Ứng dụng trong quản lý sinh học và nông nghiệp bền vững

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý sinh học và thúc đẩy nông nghiệp bền vững. Cryptolaemus montrouzieri được xem là giải pháp hiệu quả để kiểm soát rệp sáp bột đu đủ, giảm thiểu tác động tiêu cực của hóa chất đến môi trường và sức khỏe con người. Việc nhân nuôi và thả loài bọ rùa này có thể trở thành một phần quan trọng trong chiến lược bảo vệ cây trồng tại Việt Nam.

3.1. Quản lý sinh học

Cryptolaemus montrouzieri được đề xuất là một công cụ hiệu quả trong quản lý sinh học đối với rệp sáp bột đu đủ. Việc sử dụng loài thiên địch này giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào hóa chất, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.

3.2. Nông nghiệp bền vững

Nghiên cứu này góp phần thúc đẩy nông nghiệp bền vững bằng cách cung cấp giải pháp sinh học để kiểm soát dịch hại. Cryptolaemus montrouzieri có thể được nhân nuôi và thả rộng rãi, giúp tăng cường hiệu quả bảo vệ cây trồng mà không gây hại đến môi trường.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Từ những năm đầu thế kỷ XX trên thế giới việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn cho sức khoẻ con người và môi trường sống là hướng ưu tiên hàng đầu của ngành nông nghiệp, trong đó cây đu đủ cũng được rất quan tâm đến do những giá trị và lợi ích của nó mang lại. Cho tới nay ở nước ta,biện pháp hóa học được sử dụng chủ yếu để phòng trừ sâu hại. Biện pháp hoá học mang lại hiệu quả trừ sâu nhanh chóng nhưng cũng để lại những hậu quả khôn lường đối với môi trường sinh thái và sức khoẻ con người. Nghiên cứu sử dụng biện pháp sinh học trong hệ thống phòng trừ tổng hợp sâu hại là hướng nghiên cứu tiên tiến, khoa học, đáp ứng được cả hai nhu cầu: phòng trừ sâu hại và bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái.

Biện pháp sinh học cũng là một giải pháp hữu hiệu để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Trong biện pháp sinh học thì việc sử dụng các loài bắt mồi hạn chế số lượng các loài sâu hại là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả đáng kể. Trong những năm gần đây, người trồng cây đu đủ ở trong cả nước nói chung và ở ngoại ô thành phố Hà Nội nói riêng phải đối mặt với sự gây hại nặng nề của một loài rệp sáp giả (họ Pseudococcidae). Loài rệp sáp giả này mới xuất hiện và phát sinh rất mạnh, trở thành một loài sâu hại chính trên cây đu đủ.

Mức độ xâm nhiễm của loài rệp sáp giả này phổ biến ở mức khá cao với tỷ lệ bị nhiễm từ 20-30% trên lá đu đủ và 30- 50% trên quả đu đủ. Cả rệp sáp non và trưởng thành cái đều chích hút dinh dưỡng từ lá, quả đu đủ. Khi phát sinh mạnh với số lượng lớn, nếu không có biện pháp phòng chống kịp thời, chúng làm cho cây đu đủ còi cọc, sinh trưởng, phát triển kém, có thể gây rụng lá, rụng quả hàng loạt, dẫn đến làm giảm năng suất và chất lượng thương phẩm quả đu đủ, cuối cùng dẫn tới thất thu lớn cho người trồng cây đu đủ (Đoàn Thị Lương & cs. Việc sử dụng biện pháp hóa học đang được sử dụng quá mức đã và đang gây ra những hậu 1 quả nghiêm trọng tới môi trường sống của con người và sinh vật.

Trong đó nhiều loài sâu hại xuất hiện, nhiều loài sâu hại trước kia không phổ biến thì giờ đây lại trở thành những loài sâu hại nguy hiểm. Nhiều loài côn trùng có ích lại suy giảm về số lượng một cách nghiêm trọng, nhiều loài không còn thấy xuất hiện trên đồng ruộng. Chính vì vậy, biện pháp sinh học nên được áp dụng nhiều hơn, đặc biệt trong đó đáng chú ý là nghiên cứu sử dụng thiên địch bắt mồi để hạn chế số lượng các loài rệp hại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các loài thiên địch bắt mồi đặc biệt là loài bọ rùa có một ý nghĩa quan trọng không những chỉ ra vai trò to lớn của chúng trong đấu tranh sinh học mà còn có thể sử dụng chúng trong việc nhân nuôi thả ra cánh đồng, cũng như coi chúng như là đối tượng nghiên cứu trong các thực nghiệm về sinh lý, tập tính, sinh sản và di truyền.

Để sử dụng, duy trì và bảo vệ các loài thiên địch bắt mồi một cách có hiệu quả cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ về điều tra thành phần, diễn biến mật độ, đặc điểm sinh học, sinh thái của loài quan trọng. Nhằm góp phần có được những dẫn liệu quan trọng góp phần tích cực trong việc quản lý dịch hại cây trồng và bảo tồn nguồn gen hữu ích của các loài thiên địch nói riêng và các loài côn trùng có ích nói chung. Đặc biệt, hiện nay tại Việt Nam các đề tài nghiên cứu về loài thiên địch của rệp sáp vẫn còn hạn chế trong khi dịch hại này đang nghiêm trọng. Với tất cả lý do đó, em xin đề xuất đề tài nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.

Nguyễn Đức Tùng: “Thành phần bọ rùa bắt mồi rệp sáp bột đu đủ tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022, đặc điểm sinh học sinh thái bọ rùa đen nhỏ Cryptolaemus montrouzieri Mulsant”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Điều tra thành phần bọ rùa bắt mồi rệp sáp bột đu đủ trên một số cây trồng tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022 nhằm xác định được loài bọ rùa tiềm năng nhất 2 cho các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho việc nhân nuôi hàng loạt loài bọ rùa này trong tương lai, góp phần phòng trừ sinh học nhóm rệp sáp bột gây hại cây trồng. Yêu cầu - Điều tra thành phần các loài bọ rùa ăn rệp sáp bột đu đủ trên một số loại cây trồng tại Phúc Thọ và Gia Lâm, Hà Nội năm 2022 - Đánh giá khả năng ăn rệp sáp bột đu đủ của các loài bọ rùa thu được nhằm xác định bắt mồi hiệu quả nhất.

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ rùa tiềm năng nhất 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước về rệp sáp Rệp sáp là họ côn trùng có vảy lớn thứ hai (Hemiptera: Coccoidea), với hơn 2.000 loài được mô tả và có 290 chi (Downie & Gullan, 2005; Luck & Forster, 2003). Tên thông thường của chúng có nguồn gốc từ việc có lớp sáp bao phủ cơ thể chúng (Kosztarab, 1996).

Một nghiên cứu phát sinh loài gần đây, dựa trên phân tích dữ liệu trình tự nucleotide, đã hỗ trợ sự tồn tại của ba phân họ Pseudococcinae, Phenacoccinae và Rhizoecinae (Downie & Gullan, 2005). Ước tính này gần đây đã được sửa đổi dựa trên dữ liệu phân tử và hình thái tích hợp, và chỉ có hai phân họ xuất hiện: Pseudococcinae và Phenacoccinae. Rệp sáp là loài gây hại nông nghiệp nghiêm trọng. Theo Miller & Miller (2002), 158 loài rệp sáp được công nhận là loài gây hại trên toàn thế giới.

Nhộng và rệp sáp cái trưởng thành hút nhựa cây và một số loài gây hại đáng kể thiệt hại kinh tế đối với cây ăn quả. Việc hút nhựa cây của rệp sáp làm cây mất sức sống, giảm năng suất, sinh trưởng kém, cành chết, lá rụng, và đôi khi chết cây (Miller & Kosztarab, 1979). Rệp sáp bài tiết ra đường mật , gây ra thiệt hại gián tiếp bằng cách làm hỏng các tán lá, cung cấp môi trường phát triển cho nấm mốc thối nhũn. Nấm mốc phát triển cản trở ánh sáng và không khí từ lá, làm cản trở quá trình quang hợp và có thể làm cho quả kém phát triển từ đó giảm năng suất, giảm hàm lượng đường trong trái và trái bị biến dạng (Miller & Kosztarab, 1979).

Rệp sáp gây hại thường là loài xâm nhập. Ở Hoa Kỳ, có 350 loài rệp sáp. Khoảng 70% trong số 66 loài rệp sáp được coi là dịch hại xâm nhập (Miller & Miller, 2002). Ở New Zealand, hầu hết trong số 114 các loài rệp sáp chỉ có trên cây bản địa.

Các loài Pseudococcus xâm nhập là loài gây hại thường xuyên xuất hiện trên cây trồng làm vườn trong nước, nơi chúng chiếm hơn 99% khu hệ rệp 4 sáp ở vườn cây ăn quả và vườn nho (Charles, 1993). Thay vì một số loài rệp sáp thực vật có phạm vi ký chủ hẹp được coi là dịch hại chính trên một quy mô quốc tế, như trường hợp rệp sáp Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero (Hammond & Neuenschwander, 1990). Tuy nhiên, những loài gây hại nặng nhất là những loài nhiều ký chủ và đã trở thành dịch hại nghiêm trọng của các loại cây trồng khác nhau trong các môi trường khác nhau. Nhiều loài trong số chúng là các loài sinh vật phổ biến thuộc các chi Pseudococcus và Planococcus; chúng lan rộng giữa các lục địa thông qua thương mại quốc tế.

Một số loài của chi Pseudococcus, ví dụ, Ps.longispinus (Targioni-Tozzetti), và Ps.viburni (Signoret), là những loài gây hại quan trọng đối với các vườn táo, lê và nho ở New Zealand, trong khi xung quanh Địa Trung Hải, chúng chủ yếu được coi là loài gây hại cho cây có múi, hồng và một số cây ăn quả cận nhiệt đới khác (Franco & cs. Một ví dụ khác mà cho thấy tầm quan trọng kinh tế cao của một loại rệp sáp đa ký chủ là rệp sáp màu hồng - rệp sáp hoa râm bụt, rệp sáp Maconellicoccus hirsutus. Rệp sáp này là bản địa của miền nam châu Á, và thực sự được coi là một loài gây hại nghiêm trọng tiềm ẩn ở Hoa Kỳ, vì phạm vi ký chủ cực kỳ quan trọng về kinh tế của nó, bao gồm cam quýt, cây cảnh, rau và hệ thực vật bản địa của Mỹ. Nếu không có sự kiểm soát, nền kinh tế tác động của rệp sáp hoa dâm bụt đối với nông nghiệp Hoa Kỳ ước tính khoảng 750 triệu đô la mỗi năm (Hall & cs.

Rệp sáp Phenacoccus solani Ferris và Ph.solenopsis Tinsley là những ví dụ về dịch hại xâm hại cây hàng năm; chúng gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tiêu xanh ở Israel và bông ở tiểu lục địa Ấn Độ (Ben-Dov & Yair, 2005). Rệp hại nặng nhất là rệp sáp ăn cam quýt ; các loài khác phá hại mía, nho, dứa (John & Beardsley, 2021), cây cà phê, sắn, dương xỉ, xương rồng, cây dành dành, đu đủ, dâu tằm, hướng dương và hoa lan. Rệp sáp chỉ có xu hướng là loài gây hại nghiêm trọng khi có kiến vì kiến bảo vệ chúng khỏi những kẻ săn mồi và ký sinh trùng. Tình hình nghiên cứu ngoài nước về Paracoccus marginatus Trong những năm gần đây, rệp sáp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trên các loại cây trồng ở Sri Lanka vì sự du nhập ngẫu nhiên của các loài xâm lấn như Paracoccus marginatus Williams & Granara de Willink, Phenacoccus solenopsis (Tinsley), Dysmicoccus neobrevipes Beardsley, Rastrococcus rubellus Williams và Brevennia rehi Lindinger (Galanihe & Watson, 2013);(Galanihe & cs.

Sự ra đời của P. marginatus gây ra dịch bệnh và gây thiệt hại nặng nề cho cây trồng, đặc biệt là đối với đu đủ (Galanihe & cs. Rệp sáp trên khắp thế giới gây ra nhiều vấn đề kinh tế khác nhau. Paracoccus marginatus Williams và Granara de Willink, thường được gọi là rệp sáp hại đu đủ (PMB) đã xâm nhập vào một số quốc gia và gây hại cho nhiều cây trồng quan trọng về kinh tế (Muniappan & cs.

Paracoccus marginatus có nguồn gốc từ Mexico hoặc Trung và Bắc Mỹ (Miller & cs. Kể từ lần đầu tiên được mô tả vào năm 1992 từ vùng nhiệt đới mới, P. marginatus đã lan rộng đến một số hòn đảo Caribe và Trung và Nam Mỹ, (Miller & cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đặc điểm sinh học và sinh thái của bọ rùa đen nhỏ Cryptolaemus montrouzieri tại Gia Lâm, Hà Nội 2022" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm sinh học và sinh thái của loài bọ rùa này, một loài thiên địch quan trọng trong việc kiểm soát sâu bệnh hại cây trồng. Nghiên cứu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của bọ rùa đen nhỏ trong hệ sinh thái nông nghiệp mà còn chỉ ra những lợi ích mà chúng mang lại cho việc bảo vệ mùa màng. Thông qua việc phân tích môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của loài bọ này, tài liệu mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc ứng dụng trong nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các loài côn trùng và ảnh hưởng của chúng đến cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu thành phần các loài côn trùng bắt mồi trên một số cây công nghiệp ở Tây Nguyên, nơi cung cấp thông tin về các loài côn trùng khác và vai trò của chúng trong nông nghiệp. Ngoài ra, tài liệu Đặc điểm sinh học sinh thái của ruồi đục quả phương đông Bactrocera dorsalis tại Gia Lâm, Hà Nội 2021 cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các loài sâu hại và cách thức quản lý chúng. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh học của sâu keo da láng hại hành Spodoptera exigua năm 2022 sẽ cung cấp cái nhìn về ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến sự phát triển của sâu bệnh, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường trong nông nghiệp.