Chương 1 sẽ trình bày khái quát những van dé cơ sở cho việc thực hiện luận văn, bao gôm: Tổng quan về biến đổi khí hậu và các nghiên cứu về xâm nhập mặn; điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gò Công Đông. Các tác động của biến đổi khí hậu, thay đôi nguồn nước và xâm nhập mặn tại huyện Gò Công Đông sẽ được mô tả và trình bày trong Chương 2. Chương 3 của luận văn sẽ đánh giá diễn biến xâm nhập mặn từ các kết quả khảo sát, nghiên cứu và phân tích. Các giải pháp thích ứng, kiểm soát xâm nhập mặn sẽ được dé xuất và trình bày trong Chương 4.
Một số kết luận và kiến nghị từ kết quả nghiên cứu của dé tai sẽ trình bay trong phan Kết luận và Kiến nghị. Quy trình thực hiện đề tài. a Thu thập dữ liệu h - Dt liệu xâm nhập man, khí tượng thủy văn huyện Go Công Dong, tinh Tiền Giang - _ Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của huyện Gò Công Đông ` yy, Phân tích đánh gia dữ liệu ) a > Đánh giá anh hưởng của xâm nhập mặn đến kinh tế xã hội - - Xác định xu thé XNM ở hiện trạng và tương lai theo các kịch bản BĐKH - _ Đánh giá ảnh hưởng của XNM đến nông nghiệp huyện Gò Công Đông ` yy, a Đề xuất các giải pháp thích ứng với xâm nhập mặn h - - Giải pháp nông nghiệp. lâm nghiệp - Giai pháp công trình, phi công trình - Giai pháp tài nguyên nước - _ Giải pháp nuôi trồng thủy sản CHUONG 1: TONG QUAN VE BIEN DOI KHÍ HẬU VA DIEU KIEN TU NHIEN, KINH TE - XA HOI CUA HUYEN GO CONG DONG, TINH TIEN GIANG 1.
Tổng quan về biến đối khí hậu 1. Biến đổi khí hậu trên thế giới Khái niệm: Biến đôi khí hậu là sự thay đối của hệ thông khí hậu gồm khí quyền, thủy quyền, sinh quyên, thạch quyền, băng quyền hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính băng thập ký hay hàng triệu năm. Sự biến đổi có thé là thay đồi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Biến đối khí hậu đã và đang diễn ra trên quy mô toan cau, biểu hiện có thé khác nhau giữa các khu vực nhưng có một số đặc điểm chung là nhiệt độ tăng lên, lượng mưa biến động mạnh mẽ và có dau hiệu tăng lên nhiều vào mùa mưa, giảm hơn vào mùa mưa ít.
Hiện tượng lũ lụt và hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn, hoạt động của bão ngày càng nhiều và gia tăng cường độ lớn, đây là những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Uy ban Liên Chính phủ về Biến đôi khí hậu (IPCC) đã công bố báo cáo đánh giá 5 lần về tình hình BĐKH toàn câu. Mỗi lần đánh giá đều có những tiễn bộ mới về nguồn số liệu và phương pháp. làm giảm đáng kế những điều chưa chắc chăn tồn tại trước đây, do đó, nâng cao rõ rệt mức độ tin cậy của những kết luận về biến đổi khí hậu trong quá khứ cũng như tương lai.
Những kết luận chính trong báo cáo đánh giá lần thứ năm của IPCC được công bó tháng 11 năm 2014 như sau: - Trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập ký bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bat kỳ thập ky nao trước đó kế từ năm 1850. Ở Bac bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm 4m nhất trong 1.400 năm qua - Đại dương tích lủy phần lớn năng lượng trong hệ thống khí hậu và nóng lên. Dai dương chiếm hơn 90% năng lượng tích lũy giữa các năm 1971 và 2010. Hầu như chắc 10 chắn răng phan nước mặt của đại dương (từ 0-700m sâu) 4m lên trong giai đoạn 1971- 2010, và có khả năng nó đã bat đầu 4m từ giai đọan 1870 và 1971.
- Trong hai thập ky qua, lớp băng bao phủ Greenland và Nam Cực đã mat đi hàng loạt. Trên toàn thế giới các sông băng tiếp tục co lại và vào mùa xuân lượng tuyết phủ trên Bac băng dương va Bac bán câu đã tiép tục giảm. - Tốc độ nước biến dâng từ giữa thé ky 19 đã lớn hơn so với tốc độ nước biển dâng trung bình trong hai ngàn năm trước đó Trong hơn 100 năm từ 1901 đến 2010, mực nước biến trung bình toàn cau tăng 0,19 m. - Nông độ của Cacbon điôxít, Metan va nitrous oxide trong không khí đã tăng lên mức chưa từng thấy trong ít nhất là 800.
Nông độ carbon dioxide đã tăng 40% kế từ thời tiền công nghiệp, chủ yếu là phát thai từ đốt nhiên liệu hóa thạch và kế đến là do rừng bị tàn phá dé lay đất dùng vào việc khác. Các đại dương đã hap thụ khoảng 30% lượng khí carbon dioxide do con người thải ra, gây ra hiện tượng axit hóa đại dương. - Thay đổi trong chu kỳ nước toàn câu do sự nóng lên trong thé kỷ 21 sẽ không được đồng nhất. Sự tương phản về lượng mưa giữa các vùng 4m ướt, vùng khô và giữa mùa mưa, mùa khô sẽ tăng.
Nông độ khí Ozone, khí CHa và bụi PM:s trong không khí bề mặt trái đất có khả năng gia tăng do con người phát thải nhiều hơn là do nguồn tự nhiên. Nền Ozone bề mặt bị giảm do khí quyén nóng lên nhưng được bù dap do CH¿ (ở kịch bản CPR8. Đến 2100, nền Ozone có mức tăng trung bình lên 8ppb (25% so hiện tại). Ozone và bụi PM:s có thé tăng cực dai do su nóng lên toàn cầu.
Số liệu vệ tỉnh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực đã thu hẹp 2,7%/thap kỷ. Riêng mùa hè giảm 7,4%/thap ky. Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở Bắc bán cầu đã giảm 7% kế từ năm 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%. Tại Hội nghị quốc tế về biến đối khí hậu họp tại Bruxen (Bi), các báo cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm (khoảng trên 3 km) dang mỏng dan va đã mỏng đi 66 em.
Ở Nam Cực, băng cũng dang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đồ sụp. Những lớp băng vĩnh cửu ở Greenland tan chảy. Ở Alaska (Bac Mỹ, trong những năm gan đây nhiệt độ đã tăng 1,5°C so với trung bình nhiều năm, II làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm 40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng 1,2 m đã giảm 4 lần, chỉ còn 0,3 m. Báo cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5000 m mỗi năm giảm trung bình 7% khối lượng và 50 - 60 m độ cao, uy hiệp nguôn nước của các sông lớn ở Trung Quoc.
Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm, diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tang bị tan chảy khoảng 131 km2, chu vi ving băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 - 150 m, có nơi tới 350 m. Diện tích các đầm lầy trong khu vực nay cũng giảm 10%. Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải, một hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hé sẽ bị bién mat trong vòng 200 năm tới. Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ còn 1/2 vao năm 2090.5 Mức p--ŸŸỶ Z7 Cột bên trái thể hiện tăng : —— RCP2.6 F4 khoảng sai số nhiệt độ nhiệt độ — x trung bình toàn cầu từ tương 3 năm 2090 - 2099 đối (°C) = —“ 0 cand ! = | i i | | | J 1950 2000 2050 2100 Hình 1.1: Mức tăng nhiệt độ toàn cau giai đoạn 1950 — 2100 Nguồn: IPCC, 2013.
Sự nóng lên của khí hậu đã được minh chứng rõ rang thông qua số liệu quan trac chi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu (IPCC, 2013). Mực nước biến tăng phù hợp với xu thế nóng lên do có sự đóng góp của: (i) Hiện tượng giản nở nhiệt cua đại dương: (11) Tan băng ở Greenland, Nam cực và các khu vực khác; (iii) Thay đổi khả năng giữ nước ở đất liên. Trong các nhân tô này, hiện tượng nở vì nhiệt của đại dương đã từng được xem là nhân tố chủ yếu dẫn đến sự dâng lên của mực nước biên. 12 Mực nước biến thay đổi không đồng đều trên toan bộ đại dương trên thế giới, một số vùng tốc độ dâng có thé gấp một vài lần tốc độ dâng trung bình toàn cầu trong khi mực nước biển ở một số vùng khác lại có thể hạ thấp.
Xu thế tăng mực nước trung bình xuất hiện hầu hết tại các trạm quan trắc trên toàn cầu, mặc dù vẫn xuất hiện một số khu vực có xu hướng giảm như ở bờ biến phía Đông của Nam Mỹ và khu vực ven biển phía Nam Alaska và Đông Bắc Canada. Biến đối khí hậu tại Việt Nam Ở Việt Nam, xu thé biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa là rất khác nhau trên các vùng. Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5°C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng nhiều ở phía Nam lãnh thổ (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2012). Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là ở Tây Bắc Bộ.
Đông Bắc Bộ. Đồng băng Bac Bộ, Bac Trung Bộ (khoảng 1,3 - 1,5°C trong 50 năm qua). Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ thang I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6 - 0,9°C/50 năm). Tính trung bình trong thời gian 50 năm qua cho cả nước: nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2°C.
Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3 - 0,5°C trên tat cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 - 0,6°C ở Tây Bac, Đông Bắc Bộ, Đồng bang Bac Bộ, Bac Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3°C trong 50 năm qua. Xu thế chung của nhiệt độ là tăng trên hầu hết các khu vực, tuy nhiên, có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như Thừa Thiên — Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ. Đáng lưu ý là ở những nơi nảy, lượng mưa tăng trong cả hai mùa: Mùa khô và mùa mưa.