phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu khảo sát luận án gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết Trong chương này, chúng tôi tổng hợp những nghiên cứu cơ bản về nghĩa, kết trị của từ và tính từ ở trong nước và ngoài nước. Đồng thời, chương này cũng xác lập một số khái niệm lí thuyết cơ bản về nghĩa và kết trị của từ. Chƣơng 2: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc Chương này sẽ trình bày khái quát về nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt và kết quả khảo sát của luận án, cũng như kết quả nghiên cứu về ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này khi dùng với nghĩa gốc. Chƣơng 3: Sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt Ở chương 3, chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích sự phát triển ngữ nghĩa cũng như sự thay đổi mô hình kết trị và các tham tố của nhóm TTCĐĐVL trong sự hiện thực hóa.
6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Ngữ nghĩa và kết trị của từ là một trong những vấn đề cần được quan tâm khi nghiên cứu ngôn ngữ. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình đề cập đến nội dung này theo các góc độ khác nhau. Vì vậy, trong chương này, luận án điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xác định cơ sở lí luận có tính đường hướng cho đề tài. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ Vấn đề ngữ nghĩa từ xưa cho đến nay luôn được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm. Hầu như, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ nào cũng đề cập đến nghĩa ở một mức độ nhất định. Trong phần này, chúng tôi chỉ điểm lại một cách sơ lược nhất về vấn đề nghiên cứu ngữ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu về nghĩa của từ a.
Những nghiên cứu trên thế giới Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn độc lập hình thành vào khoảng cuối thế kỉ XIX và được đánh dấu bằng công trình “Essai de Sémantique” (1877) của Michel Bréal. Ông được xem là người đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học ngữ nghĩa. Dù công trình của M. Bréal ra đời sau, nhưng được đánh giá là công trình “đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn khoa học nhân văn.7] Trong công trình nghiên cứu [82], Lê Quang Thiêm đã khái lược rất rõ ba thời kì phát triển trong tiến trình ngữ nghĩa học.
Đó là thời kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận. Mỗi thời kì đều được đánh dấu bằng các công trình nghiên cứu gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học. 7 Vấn đề quan tâm đầu tiên của các nhà ngôn ngữ học là khái niệm nghĩa của từ. Bởi đây là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học nên các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau.
Nguyễn Thiện Giáp [35] đã chỉ ra tám quan niệm về nghĩa trên thế giới. Nhìn chung, các ý kiến bàn về nghĩa của từ nổi lên hai khuynh hướng: “1) Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh…). 2) Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng, hoặc quan hệ của từ với khái niệm)”. [dẫn theo 35, tr.
31] Nghĩa của từ là nhân tố chi phối khả năng kết hợp của từ (khả năng phóng chiếu của từ), trong trường hợp vị từ đóng vai trò vị ngữ của câu thì nghĩa của từ chi phối đến các tham tố cùng vị ngữ tạo thành câu trọn vẹn, tức thể hiện kết trị của vị từ. Về các thành phần nghĩa của từ, các nhà ngôn ngữ đã đưa ra những kiến giải khác nhau bằng sơ đồ tam giác nghĩa và các nhân tố hình thành ý nghĩa của từ. Người đầu tiên phải kể đến là F. Ông quan niệm về bản chất của tín hiệu ngôn ngữ như sau: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh.
Hình ảnh này không phải là cái âm vật chất, một vật thuần túy vật lí, mà là dấu vết tâm lý của cái âm đó, là cái biểu tượng mà các giác quan của ta cung cấp cho ta về cái âm đó”.de Saussure tín hiệu ngôn ngữ là một thực thể tâm lý có hai mặt: khái niệm và hình ảnh âm thanh, giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. Đây là bước tiến lớn trong nhận thức về nghĩa của tín hiệu – từ. Làm rõ hơn một bước, C. Richards (1923) đã đề xuất một sơ đồ gọi là “tam giác nghĩa”.
Trong đó, một đỉnh là biểu hiệu, một đỉnh là tư duy và một đỉnh là sở chỉ, giữa chúng luôn có mối quan hệ lẫn nhau. “Quan hệ giữa biểu hiệu và tư duy là quan hệ biểu trưng; quan hệ giữa tư duy hay sự quy chiếu với sở chỉ là quan hệ quy chiếu; quan hệ giữa biểu hiệu với sở chỉ là quan 8 hệ thay thế tên gọi”. [dẫn theo 35, tr.37] Cũng bàn tới vấn đề này, G. Ullmann (1962) cũng đưa ra sơ đồ cải tiến tam giác nghĩa và giải thích mối quan hệ giữa các thành tố của nghĩa.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra ba nhân tố nghĩa và thay đổi một số thuật ngữ. Đáng chú ý là các tác giả đưa thêm khái niệm nội dung liên hội như một loại nghĩa của tín hiệu từ. Theo quan niệm truyền thống, John Lyons (1977) coi “khái niệm là nghĩa của từ”. Ông đã cải tiến sơ đồ tam giác nghĩa và giải thích: “Hình thức của từ có thể nói là “biểu nghĩa” cho cả “khái niệm’ mà các “sự vật” được gộp vào đó (bằng sự “trừu tượng” khỏi các đặc tính “ngẫu nhiên” của chúng) và cả bản thân các “sự vật” đó nữa”.
[dẫn theo 35, tr.38] Lúc này, cái quy chiếu không còn được xem là nghĩa nữa mà nghĩa là nội dung khái niệm, là nội dung liên hội và nghĩa biểu thị. Bên cạnh các tác giả với những công trình nghiên cứu trên, trong ngữ nghĩa học thế giới, chúng ta còn gặp nhiều quan niệm với các khuynh hướng khác nhau như: Kurt baldinger, V. Stepanov… Về hiện tượng chuyển nghĩa của từ cũng được các nhà nghiên cứu bàn tới với những khuynh hướng nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến ba khuynh hướng chính trên thế giới như sau: (1) Khuynh hướng nghiên cứu theo nghiên cứu theo lôgic học mà Paul là người khởi xướng.
Những quan niệm của ông được thể hiện qua bảng phân loại logic học các hiện tượng chuyển nghĩa, trong đó chú ý đến so sánh nội dung khái niệm trước và sau khi biến đổi, đồng thời nêu lên mối quan hệ logic giữa chúng. (2) Khuynh hướng nghiên cứu theo tâm lý học mà đại diện là Wundt, Henry, Murray…. Khuynh hướng này giải thích hiện tượng chuyển nghĩa căn cứ vào đặc trưng tâm lý với phương châm việc nghiên cứu chuyển nghĩa cuối cùng phải vĩnh viễn quy thành nghiên cứu tâm lý. (3) Khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử đứng đầu là Wellander, Smart….
Họ nghiên cứu đã quan niệm sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sử và chỉ 9 trưởng thành một cách vừa ý khi được chứng thực trong quá trình thực tế. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tập hợp và hệ thống hóa những nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự chuyển nghĩa trong ngôn ngữ. Aitchison và một số nhà ngôn ngữ cùng quan điểm cho rằng: Sự chuyển nghĩa trong tiếng Anh do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ và tâm lí của người sử dụng, yếu tố xã hội. Ngược lại, Fromkin và một số tác giả khác cho rằng: Nguyên nhân của sự chuyển nghĩa là do sự tái cấu trúc ngôn ngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm lý của người học qua nhiều thế hệ khác nhau.
Không đồng quan điểm với các tác giả trên, Lyons cho rằng: Sự thay đổi xã hội là nguyên nhân chủ yếu của thay đổi ngôn ngữ. Khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời và phát triển mạnh mẽ đặc biệt là ngữ nghĩa học tri nhận với những tên tuổi như: G. thì vấn đề nghĩa cũng như sự chuyển nghĩa của ngôn ngữ sẽ là mảnh đất còn nhiều điều cần khám phá. Dưới góc nhìn của tri nhận, nghĩa của từ và sự chuyển nghĩa của từ chủ yếu được đề cập thông qua việc nghiên cứu các ẩn dụ và hoán dụ ý niệm dựa trên những miền nguồn hết sức cơ bản như: miền cảm xúc, miền bộ phận cơ thể người, miền không gian, miền ăn uống….
Qua quá trình chuyển nghĩa, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận cũng nhận thấy ẩn dụ ý niệm là cách thức tư duy, hé lộ cho biết cách nghĩ và văn hóa dân tộc. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, so với nghiên cứu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì ngữ nghĩa học, đặc biệt nghĩa học ngữ pháp (grammatical semantics) là một chuyên ngành chưa có chiều dày. Sự xuất hiện ban đầu của ngữ nghĩa học gắn liền với từ vựng học. Vì vậy, những tri thức ban đầu của ngữ nghĩa học chủ yếu được đề cập trong những giáo trình cơ sở từ vựng học.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ vựng, các quan hệ nghĩa, hiện tượng chuyển nghĩa … 10 Năm 1998, cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của Đỗ Hữu Châu ra đời. Lần đầu tiên ở Việt Nam, các vấn đề lí thuyết ngữ nghĩa học được giới thiệu. Có thể nói, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm nhất và có nhiều công trình về lí thuyết nghĩa của từ. Chính ông đã góp phần xây dựng cơ sở nền tảng cho ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt.
Theo ông, “Nghĩa của từ là hợp điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa. Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ”.98] Quan niệm này của Đỗ Hữu Châu không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm nghĩa của từ mà còn bàn tới các thành phần ý nghĩa của từ.