Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu “Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Hương được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Lan Anh và GS.TS Nguyễn Văn Hiệp tại Tổ bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (hoàn thành năm 2020).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, tính từ là lớp từ có số lượng lớn và chiếm vị trí quan trọng. Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật (viết tắt là TTCĐĐVL) giữ vai trò đáng kể trong việc tạo nên tính phong phú và đa dạng của hệ thống từ vựng. Trong hoạt động hành chức, nhóm tính từ này không chỉ hiện thực hóa các đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp vốn có mà còn trải qua các quá trình biến đổi, chuyển hóa phức tạp trên cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Lý thuyết kết trị (valency theory) là một trong những cơ sở lý thuyết quan trọng của ngôn ngữ học hiện đại, mang lại hướng tiếp cận cú pháp theo đường hướng ngữ nghĩa và chức năng. Lý thuyết này chỉ rõ mối quan hệ tương tác hai chiều: ngữ nghĩa giữ vai trò chi phối, quy định sự hiện thực hóa kết trị của từ trong câu; ngược lại, mô hình kết trị bộc lộ thuộc tính ngữ nghĩa bản chất của từ. Dù lý thuyết kết trị đã được vận dụng rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam (chủ yếu đối với động từ và một số tiểu loại danh từ, tính từ khác), nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lý thuyết kết trị kết hợp ngữ nghĩa học tri nhận vẫn chưa có công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng khung lý thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lý thuyết kết trị (khái niệm kết trị, tham tố, phân loại tham tố, nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị), lý thuyết ngữ nghĩa (nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ, ý niệm, phạm trù, miền, miền nguồn, miền đích), lý thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (khái niệm, tiêu chí nhận diện, phân loại).
  2. Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc.
  3. Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung xem xét nhóm tính từ này ở hai phương diện chính: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị, cũng như mối quan hệ giữa hai phương diện đó ở cả mặt tiềm năng hệ thống lẫn mặt hiện thực hóa trong câu.
  • Phạm vi nguồn ngữ liệu: Luận án khảo sát chủ yếu từ 55 nguồn ngữ liệu thuộc hai loại hình văn bản mang đặc thù phong cách khác nhau: Văn bản khoa học (VBKH) và Văn bản nghệ thuật (VBNT) – nơi có tần số xuất hiện TTCĐĐVL cao. Đồng thời, tác giả thu thập thêm các cứ liệu từ thực tế giao tiếp hàng ngày của người bản ngữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận có hệ thống các khuynh hướng nghiên cứu về ngữ nghĩa và kết trị trên thế giới cũng như tại Việt Nam, từ đó xác lập vị trí nghiên cứu của đề tài:

                                  TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
NGHIÊN CỨU NGỮ NGHĨA & TRI NHẬN                                               NGHIÊN CỨU KẾT TRỊ & TÍNH TỪ
- Thế giới: M. Bréal (1877), Saussure,                                       - Thế giới: L. Tesnière (1959), Kasnelson,
  Ogden-Richards (1923), Ullmann (1962),                                       Tjapkina, Mukhin, Stepanova.
  Lyons (1977), G. Lakoff & M. Johnson.                                      - Việt Nam: Cao Xuân Hạo (2006), Nguyễn Văn Lộc (1995),
- Việt Nam: Đỗ Hữu Châu (1998), Nguyễn Thiện Giáp,                             Nguyễn Thị Quy, Đinh Văn Đức (ngữ trị).
  Lê Quang Thiêm, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Văn Hiệp,                             - Tính từ: Chu Bích Thu, Nguyễn Thị Dự, Lê Xuân Bình,
  Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ.                                  Nguyễn Quỳnh Thu, Trần Ái Chin, Nguyễn Thị Huyền.

Các nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ

  • Trên thế giới: Ngữ nghĩa học được xác lập thành bộ môn độc lập từ công trình Essai de Sémantique (1877) của Michel Bréal. Lê Quang Thiêm chỉ ra ba thời kỳ phát triển: tiền cấu trúc luận, cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận. Về bản chất nghĩa của từ, Nguyễn Thiện Giáp tổng hợp 8 quan niệm, quy về 2 xu hướng (nghĩa là bản thể hoặc nghĩa là quan hệ). Cấu trúc nghĩa được mô hình hóa qua tam giác nghĩa của C.K. Ogden và I.A. Richards (1923: biểu hiệu - tư duy - sở chỉ), sơ đồ cải tiến của S. Ullmann (1962, bổ sung nội dung liên hội), quan niệm khái niệm là nghĩa của John Lyons (1977), cùng các công trình của Kurt Baldinger, V.A. Zvegintsev, Y.S. Stepanov. Về hiện tượng chuyển nghĩa, ba khuynh hướng chính gồm: Lôgic học (H. Paul), Tâm lý học (W. Wundt, V. Henry, Murray), Lịch sử (Wellander, Smart). Về nguyên nhân biến đổi nghĩa, J. Aitchison nhấn mạnh bản chất ngôn ngữ và tâm lý; V. Fromkin nhấn mạnh sự tái cấu trúc trong tiếp nhận ngôn ngữ; J. Lyons nhấn mạnh yếu tố biến đổi xã hội. Với ngôn ngữ học tri nhận, G. Lakoff và M. Johnson mở ra hướng nghiên cứu ẩn dụ ý niệm (ánh xạ từ miền nguồn sang miền đích) và hoán dụ ý niệm.
  • Tại Việt Nam: Đỗ Hữu Châu với Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (1998) đặt nền tảng khi đề xuất mô hình "hình tháp nghĩa" không gian gồm 4 thành phần nghĩa: biểu vật, biểu niệm, biểu thái và ngữ pháp. Nguyễn Thiện Giáp phân chia nghĩa thành nghĩa sở chỉ, sở biểu, sở dụng và sở kết. Lê Quang Thiêm nghiên cứu nghĩa từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng. Đỗ Việt Hùng phân tích nghĩa từ bình diện hệ thống đến hoạt động. Nguyễn Văn Hiệp dịch Ngữ nghĩa học dẫn luận của John Lyons và ứng dụng lý thuyết nghiệm thân. Các tác giả Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dân nghiên cứu sự biến đổi nghĩa truyền thống. Ở hướng tri nhận và tâm lý ngôn ngữ học tộc người có Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn Thắng (tri nhận không gian, bộ phận cơ thể), Trần Văn Cơ (phạm trù ý niệm), Nguyễn Thị Hạnh Phương (từ ngữ chỉ cảm giác).

Các nghiên cứu về kết trị của từ

  • Trên thế giới: Thuật ngữ kết trị (valency) do L. Tesnière khởi xướng trong Éléments de syntaxe structurale, xem động từ là hạt nhân chi phối số lượng diễn tố (actants) và chu tố (circonstants). S.D. Kasnelson phát triển khái niệm kết trị thành khả năng tạo ra các "ô trống" đòi hỏi làm đầy, phân biệt kết trị nội dung và hình thức. N.A. Tjapkina đồng nhất kết trị với các quan hệ cú pháp; R. Mukhin phân biệt kết trị bắt buộc và tự do; M.D. Stepanova và M.M. Beljaeva mở rộng kết trị sang các cấp độ ngôn ngữ khác, phân biệt kết trị tiềm năng và hiện thực hóa, kết trị chủ động và bị động.
  • Tại Việt Nam: Cao Xuân Hạo (2006) vận dụng khái niệm diễn tố và chu tố vào ngữ pháp chức năng. Nguyễn Văn Lộc (1995) trong Kết trị của động từ tiếng Việt phân định kết trị bắt buộc (kết tố chủ thể, kết tố đối thể) và kết trị tự do. Nguyễn Thị Quy nghiên cứu diễn trị của vị từ hành động. Đinh Văn Đức mở rộng thuật ngữ "ngữ trị" cho cả danh từ và tính từ, gồm kết trị và diễn trị. Mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của các nhóm vị từ được nghiên cứu bởi Nguyễn Mạnh Tiến (động từ), Bùi Thị Nga (vị từ kết nối), Phạm Thị Mỹ Việt (vị từ quá trình), Bùi Minh Toán và Lê Thị Lan Anh (sự chi phối của ngữ nghĩa đối với kết trị).
  • Nghiên cứu kết trị và ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt: Chu Bích Thu (tính từ mùi, vị), Nguyễn Thị Dự (tính từ không gian), Lê Xuân Bình (tính từ kích thước đối chiếu Việt - Nga), Nguyễn Quỳnh Thu (tính từ mùi vị với 81 từ chỉ mùi, 94 từ chỉ vị), Trần Ái Chin (tính từ màu sắc với 359 từ, xác lập 3 kiểu kết tố: chủ thể mang màu sắc, mức độ sắc thái, so sánh), Nguyễn Thị Huyền (tính từ mùi vị đối chiếu tiếng Anh).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào kết trị của động từ hoặc một số tiểu nhóm tính từ cảm giác (mùi, vị, màu sắc, kích thước). Nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt chưa từng được khảo sát chuyên sâu, toàn diện trong mối quan hệ hữu cơ giữa đặc điểm ngữ nghĩa (nghĩa gốc và nghĩa chuyển tri nhận) với mô hình kết trị và khả năng hiện thực hóa các tham tố trong câu.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Quan niệm về nghĩa của từ: Luận án tán thành quan điểm xem nghĩa của từ là một thực thể tinh thần (theo Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Đức Tồn, Lê Quang Thiêm), là sự hiểu biết cùng cảm xúc của người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, tính chất mà từ biểu thị. Cấu trúc nghĩa của từ gồm 4 thành phần:
    • Ý nghĩa biểu vật: Phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào ngôn ngữ dưới dạng khái quát hóa.
    • Ý nghĩa biểu niệm: Tập hợp các nét nghĩa chung và riêng, phản ánh mối quan hệ giữa từ với khái niệm.
    • Ý nghĩa biểu thái: Phản ánh thái độ, cảm xúc và cách đánh giá của người sử dụng ngôn ngữ.
    • Ý nghĩa ngữ pháp: Ý nghĩa khái quát chung cho nhiều từ cùng loại, quy định khả năng kết hợp.
  2. Hiện tượng nhiều nghĩa và chuyển nghĩa: Hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả giải quyết mâu thuẫn giữa tính hữu hạn của vỏ ngữ âm và tính vô hạn của hiện thực khách quan. Chuyển nghĩa được thực hiện qua hai phương thức cơ bản: ẩn dụ (dựa trên quan hệ tương đồng) và hoán dụ (dựa trên quan hệ tương cận).
  3. Ngôn ngữ học tri nhận: Luận án sử dụng các khái niệm: ý niệm (concept), ý niệm hóa (conceptualization), ẩn dụ ý niệm (gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng), hoán dụ ý niệm, phạm trù và phạm trù hóa (categorization), lược đồ hình ảnh, miền ý niệm (domain), miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain).
  4. Khung lý thuyết kết trị: Kết trị được định nghĩa là khả năng của từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp giúp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ. Luận án phân biệt kết trị (khả năng kết hợp sâu, mang tính tiềm năng ngữ nghĩa - cú pháp) với khả năng kết hợp tuyến tính thông thường của cụm từ. Về phân loại tham tố, luận án không dùng cặp thuật ngữ "tham tố bắt buộc - tham tố tự do" (nhằm tránh ngộ nhận rằng tham tố tự do không chịu sự ràng buộc nào), mà sử dụng cặp thuật ngữ:
    • Tham tố bắt buộc: Thành tố cần thiết để từ đạt mức hoàn chỉnh tối thiểu về nghĩa mà không cần ngữ cảnh hỗ trợ; do bản chất ngữ nghĩa của từ trung tâm đòi hỏi.
    • Tham tố không bắt buộc: Thành tố có thể có mặt hoặc vắng mặt cạnh từ trung tâm nhưng sự xuất hiện của nó vẫn phải do đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của từ trung tâm cho phép (ví dụ: tham tố chỉ mức độ, tham tố so sánh, tham tố chỉ lượng).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả theo lý thuyết kết trị: Phân tích cấu trúc nghĩa của nhóm tính từ (nghĩa gốc và nghĩa phát triển); phân tích các tham tố tham gia mô hình kết trị về cả mặt hình thức cú pháp lẫn nội dung ngữ nghĩa.
  • Phương pháp phân tích cú pháp: Giải mã cấu trúc câu về mặt hình thức để làm cơ sở xác định và lý giải mối quan hệ tương tác giữa kết trị và ngữ nghĩa.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng từ ngữ, phân loại các tiểu nhóm TTCĐĐVL và các biểu thức ngôn ngữ chứa tính từ trong nguồn ngữ liệu khảo sát.
  • Thủ pháp mô hình hóa: Thiết lập các sơ đồ ngữ nghĩa và mô hình kết trị của nhóm tính từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động hành chức.
  • Thủ pháp so sánh: Đối chiếu các điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và kết trị giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển, cũng như giữa hai phong cách văn bản (VBKH và VBNT).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Ngữ liệu được trích xuất từ 55 nguồn văn bản thuộc hai phong cách chức năng: Văn bản khoa học (VBKH) và Văn bản nghệ thuật (VBNT), kết hợp với các biểu thức ngôn ngữ thu thập từ giao tiếp thực tế hàng ngày.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện lịch sử nghiên cứu về ngữ nghĩa và kết trị trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả tổng hợp các quan niệm về nghĩa của từ, các thành phần nghĩa (biểu vật, biểu niệm, biểu thái, ngữ pháp), hiện tượng đa nghĩa và các phương thức chuyển nghĩa truyền thống. Đồng thời, chương này giới thiệu các phạm trù của ngôn ngữ học tri nhận (ý niệm, ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm, phạm trù hóa, miền nguồn và miền đích) và xác lập khung lý thuyết kết trị áp dụng cho tính từ tiếng Việt, xác định nguyên tắc nhận diện tham tố bắt buộc và tham tố không bắt buộc.

Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

Chương 2 tập trung khảo sát nhóm TTCĐĐVL của sự vật khi hoạt động ở tầng nghĩa gốc:

Hạng mục tổng hợp Nội dung và vị trí trong luận án
Danh sách tính từ Xác lập danh mục TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (Bảng 2.1, trang 59).
Phân loại ngữ nghĩa Chia thành 2 tiểu nhóm chính: (1) Nhóm tính từ định lượng sự vật; (2) Nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật.
Sơ đồ ngữ nghĩa Mô hình hóa cấu trúc ngữ nghĩa nghĩa gốc (Hình 2.1, trang 68).
Mô hình kết trị Thiết lập mô hình kết trị của nhóm tính từ khi dùng với nghĩa gốc (Hình 2.2, trang 71).
Thống kê tham tố Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng khi dùng với nghĩa gốc (Bảng 2.2, trang 76).
Khả năng hiện diện Khảo sát sự phân bố, trật tự tuyến tính và điều kiện xuất hiện/vắng mặt của các tham tố trong câu (trang 95).

Các phát hiện chính của chương gồm:

  • Xây dựng tiêu chí phân định và nhận diện nhóm TTCĐĐVL của sự vật dựa trên khả năng kết hợp với các danh từ chỉ sự vật và các đại lượng đo lường.
  • Nhóm tính từ này khi dùng với nghĩa gốc luôn đòi hỏi một tham tố bắt buộc là tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng (thường giữ vai trò chủ ngữ hoặc trung tâm danh ngữ).
  • Các tham tố không bắt buộc đi kèm bao gồm: tham tố chỉ lượng cụ thể/đo lường (ví dụ: các số từ, lượng từ, danh từ đơn vị đo lường như "3143m", "năm mươi ki-lô-gam"), tham tố chỉ mức độ/sắc thái, và tham tố chỉ sự so sánh. Nhóm tính từ này có đặc thù là tiếp nhận tham tố chỉ lượng đo lường chính xác, điều mà các nhóm tính từ chỉ chất không chấp nhận.
                           MÔ HÌNH KẾT TRỊ NGHĨA GỐC (HÌNH 2.2)
[Tham tố chỉ sự vật]                 [TTCĐĐVL NGHĨA GỐC]                 [Tham tố chỉ lượng /
  (Bắt buộc - Chủ thể)                     (Hạt nhân)                     Mức độ / So sánh]
                                                                        (Không bắt buộc)

Chương 3: Sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

Chương 3 vận dụng lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận để giải mã cơ chế chuyển nghĩa và sự biến đổi kết trị tương ứng của nhóm TTCĐĐVL:

Hạng mục tổng hợp Nội dung và vị trí trong luận án
Hướng phát triển nghĩa Phân tích các hướng chuyển nghĩa dựa trên ẩn dụ và hoán dụ tri nhận (Hình 3.1, trang 114).
Mô hình kết trị mới Xác lập mô hình kết trị khi nhóm tính từ phát triển nghĩa (Hình 3.2, trang 115).
Thống kê tham tố chuyển nghĩa Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi nhóm tính từ phát triển nghĩa (Bảng 3.1, trang 120).
Khả năng hiện diện tham tố Khảo sát sự thay đổi vị trí, vai nghĩa và khả năng hiện diện của các tham tố mới trong câu (trang 139).

Các luận điểm và phát hiện chính của chương gồm:

  • Cơ chế phát triển ngữ nghĩa của TTCĐĐVL thực chất là quá trình ý niệm hóa, ánh xạ từ miền nguồn (đặc điểm về lượng vật lý, không gian, kích thước, số lượng cụ thể) sang các miền đích trừu tượng hơn (miền phẩm chất con người, trạng thái tâm lý, năng lực, mức độ tính chất, phạm vi xã hội...).
  • Khi phát triển nghĩa, cấu trúc kết trị của tính từ có sự biến đổi căn bản:
    • Sự thay đổi mô hình kết trị: Xuất hiện các vị trí mở mới hoặc tái cấu trúc các vị trí mở có sẵn xung quanh tính từ hạt nhân.
    • Sự thay đổi tham tố: Tham tố bắt buộc chuyển đổi từ sự vật cụ thể sang các thực thể trừu tượng (hành vi, tư tưởng, cảm xúc, hiện tượng xã hội). Các tham tố không bắt buộc chuyển từ đo lường chuẩn xác sang các tham tố biểu thị dung lượng tinh thần, cấp độ đánh giá hoặc phạm vi lĩnh vực.
    • Khả năng hiện diện trong câu: Tùy thuộc vào ngữ cảnh trong VBKH hay VBNT mà mức độ hiện diện tường minh của các tham tố có sự khác biệt rõ rệt; trong VBNT các tham tố thường có xu hướng hàm ẩn hoặc hoán vị linh hoạt hơn so với VBKH.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên nghiên cứu toàn diện về ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa ngữ nghĩa và kết trị: ngữ nghĩa của từ chi phối số lượng, bản chất của các tham tố; ngược lại, mô hình kết trị là phương thức hiện thực hóa cấu trúc nghĩa.
  • Cung cấp thêm minh chứng khoa học khẳng định tính ưu việt của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: nghiên cứu ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa và chức năng, kết hợp giữa cấu trúc luận và tri nhận luận.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp hệ thống tư liệu miêu tả chi tiết về ngữ nghĩa, mô hình kết trị và ngữ liệu thực tế của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt.
  • Kết quả nghiên cứu hỗ trợ trực tiếp cho công tác nghiên cứu cú pháp và ngữ nghĩa học tiếng Việt.
  • Đóng góp căn cứ khoa học cho việc phân tích, giải thích nghĩa và chỉ dẫn kết hợp ngữ pháp của tính từ trong công tác biên soạn từ điển học.
  • Ứng dụng trong việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho học sinh, sinh viên trong nước và người nước ngoài học tiếng Việt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất vận dụng mô hình kết trị - ngữ nghĩa vào việc biên soạn các mục từ tính từ trong từ điển tiếng Việt, giúp người dùng không chỉ hiểu nghĩa từ vựng mà còn nắm vững quy tắc kết hợp cú pháp và khả năng mở rộng tham tố.
  • Kiến nghị đưa đường hướng phân tích ngữ pháp kết hợp ngữ nghĩa và tri nhận vào chương trình giảng dạy ngôn ngữ học tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Căn cứ theo phạm vi nghiên cứu mà tác giả xác định, ngữ liệu khảo sát của luận án tập trung chủ yếu vào 55 nguồn văn bản thuộc hai phong cách chức năng là Văn bản khoa học (VBKH) và Văn bản nghệ thuật (VBNT) cùng giao tiếp thường nhật, chưa bao quát toàn bộ các phong cách chức năng khác như phong cách chính luận, phong cách báo chí hay phong cách hành chính - công vụ.
  • Đối tượng nghiên cứu giới hạn ở nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật, chưa mở rộng sang toàn bộ hệ thống tính từ chỉ lượng nói chung hay các nhóm tính từ chỉ phẩm chất khác.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát nhóm TTCĐĐVL trên các thể loại văn bản khác (báo chí điện tử, văn bản pháp quy, văn bản truyền thông).
  • Nghiên cứu so sánh đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác (như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán) dưới góc nhìn liên văn hóa và ngôn ngữ học đối chiếu.
  • Ứng dụng khung phân tích kết trị - tri nhận của luận án để nghiên cứu các tiểu nhóm tính từ khác trong tiếng Việt (tính từ thời gian, tính từ âm thanh, tính từ tốc độ).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

                                  ĐỐI TƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO
GIẢNG VIÊN & HỌC VIÊN NGÔN NGỮ            CÁC NHÀ LÀM TỪ ĐIỂN                     GIÁO VIÊN DẠY TIẾNG VIỆT
- Tham khảo khung lý thuyết kết trị       - Sử dụng Bảng 2.1 và cấu trúc nghĩa     - Ứng dụng mô hình tham tố để sửa
  và phương pháp phân tích ngữ pháp         để giải nghĩa chính xác từ ngữ          lỗi kết hợp từ cho học viên;
  gắn liền ngữ nghĩa chức năng.             và chỉ dẫn kết hợp cú pháp.             thiết kế bài học ngữ pháp tính từ.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Khung lý thuyết kết trị mở rộng cho tính từ và phương pháp miêu tả tham tố là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về cú pháp học, ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học tri nhận.
  • Các nhà từ điển học: Bảng danh mục tính từ (Bảng 2.1) cùng các phân tích chi tiết về nét nghĩa gốc và nghĩa chuyển giúp hoàn thiện các định nghĩa từ điển và chỉ dẫn kết hợp ngữ pháp cho lớp tính từ chỉ lượng.
  • Giáo viên giảng dạy tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt như một ngoại ngữ): Giúp người dạy có cơ sở phân tích cấu trúc câu tiếng Việt, hướng dẫn người học sử dụng tính từ chính xác về mặt ngữ nghĩa và kết hợp đúng các tham tố bắt buộc cũng như không bắt buộc trong câu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án quan niệm thế nào về kết trị và phân biệt kết trị với khả năng kết hợp của từ ra sao?

Theo luận án, kết trị là khả năng của từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp giúp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ. Kết trị trước hết là khả năng kết hợp ngữ nghĩa tiềm tàng (kết hợp sâu). Ngược lại, khả năng kết hợp thông thường của từ là khả năng cấu tạo nên cụm từ chính phụ theo trật tự tuyến tính (như thành tố phụ mức độ đứng trước, thành tố phụ phạm vi đứng sau), trong đó không phải thành tố phụ nào cũng có giá trị ngữ nghĩa và đảm nhận chức vụ ngữ pháp trong câu như các tham tố trong quan hệ kết trị.

2. Vì sao tác giả sử dụng cặp thuật ngữ "tham tố bắt buộc" và "tham tố không bắt buộc" thay vì "tham tố bắt buộc" và "tham tố tự do"?

Tác giả lý giải rằng cách dùng thuật ngữ "tham tố tự do" (như trong quan niệm của L. Tesnière và Nguyễn Văn Lộc) dễ dẫn đến sự ngộ nhận rằng sự kết hợp cú pháp này hoàn toàn tự do và không chịu bất kỳ sự chế định nào. Trên thực tế, mọi thành tố kết hợp với từ trung tâm dù lỏng lẻo đến đâu vẫn phải do đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của từ trung tâm cho phép (ví dụ TTCĐĐVL chấp nhận tham tố chỉ lượng đo lường, trong khi tính từ chỉ màu sắc hay chất lượng thì không). Do đó, thuật ngữ "tham tố không bắt buộc" phản ánh chính xác bản chất chi phối của từ trung tâm.

3. Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật được phân loại như thế nào khi dùng với nghĩa gốc?

Trong Chương 2, khi dùng với nghĩa gốc, nhóm TTCĐĐVL của sự vật được tác giả nhận diện và phân chia thành 2 tiểu nhóm ngữ nghĩa chính:

  1. Nhóm tính từ định lượng sự vật: Biểu thị các đặc điểm về kích thước, dung lượng, khối lượng, độ dài, độ cao của sự vật có thể đo đếm hoặc ước lượng.
  2. Nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật: Biểu thị số lượng nhiều/ít, tính chất tập hợp hoặc phân tán về lượng của sự vật.

4. Nguồn dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ đâu?

Nguồn ngữ liệu của luận án được khảo sát chủ yếu từ 55 nguồn văn bản thuộc hai loại hình mang phong cách chức năng đối lập là Văn bản khoa học (VBKH) và Văn bản nghệ thuật (VBNT) – hai loại văn bản có tần số sử dụng TTCĐĐVL cao và mang tính đặc thù phong cách rõ nét. Ngoài ra, tác giả còn bổ sung các biểu thức ngôn ngữ từ thực tế giao tiếp hàng ngày của người Việt.

5. Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ này làm thay đổi mô hình kết trị như thế nào?

Theo Chương 3, dưới cơ chế tri nhận (ánh xạ ẩn dụ và hoán dụ từ miền nguồn vật lý sang các miền đích tinh thần, xã hội), mô hình kết trị của tính từ thay đổi: tham tố bắt buộc chuyển từ thực thể vật chất sang thực thể trừu tượng (tư tưởng, hành vi, trạng thái), đồng thời các tham tố không bắt buộc chuyển đổi từ tham tố đo lường chuẩn xác sang các tham tố chỉ dung lượng tinh thần, mức độ đánh giá hoặc phạm vi lĩnh vực trừu tượng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt. Bằng việc kết hợp lý thuyết kết trị chức năng với ngữ nghĩa học tri nhận trên nguồn ngữ liệu phong phú gồm 55 văn bản khoa học và nghệ thuật, tác giả đã làm rõ cấu trúc nghĩa gốc, mô hình kết trị tương ứng và các quy luật biến đổi tham tố khi tính từ chuyển nghĩa. Công trình không chỉ khẳng định luận điểm ngữ nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị trong ngữ pháp tiếng Việt mà còn mang lại nhiều giá trị thực tiễn cho nghiên cứu cú pháp, biên soạn từ điển và giảng dạy ngôn ngữ.