Khám phá đặc điểm giai thoại Việt Nam qua luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa việt nam đặc điểm giai thoại việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

477
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu giai thoại và tư liệu giai thoại Việt Nam

Luận án tiến sĩ Đặc điểm giai thoại Việt Nam bắt đầu bằng việc tổng quan tình hình nghiên cứu giai thoại Việt Nam trong và ngoài nước. Giai thoại là thể loại được quan tâm từ lâu trong giới folklore thế giới, đặc biệt ở các nước như Phần Lan, Nga, Pháp, Đức, và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, giai thoại được thừa nhận muộn hơn, dù đã có nhiều công trình tuyển chọn và nghiên cứu. Luận án nhấn mạnh sự thiếu nhất trí trong việc xác định đặc điểm cơ bản của thể loại này. Các vấn đề như định nghĩa, phân loại, và thi pháp giai thoại vẫn còn nhiều tranh cãi. Điều này đòi hỏi sự khảo sát lại toàn diện từ góc độ lý thuyết thể loại.

1.1. Giai thoại thuật ngữ và quan niệm

Luận án điểm qua nguồn gốc thuật ngữ giai thoại từ tiếng Hy Lạp và La tinh, với nghĩa gốc là 'chưa được công bố'. Các nhà nghiên cứu như Tamarchenko và Lionel Gossman đã chỉ ra rằng giai thoại có mối liên hệ mật thiết với lịch sử và văn học. Ở châu Âu, giai thoại được sử dụng chính thức từ thế kỷ XVII, với các tác phẩm như 'Anecdota Latina' và 'Anecdota Graeca'. Tại Việt Nam, giai thoại được xem là một phần của văn học dân gian, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi về bản chất và đặc trưng thể loại.

1.2. Tình hình tư liệu giai thoại Việt Nam

Luận án đánh giá tình hình tư liệu giai thoại Việt Nam qua các công trình sưu tầm và nghiên cứu. Các tác phẩm như 'Kho tàng giai thoại Việt Nam' của Vũ Ngọc Khánh và 'Giai thoại văn học Việt Nam' của Kiều Thu Hoạch đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú. Tuy nhiên, việc xử lý và đánh giá tư liệu vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc phân loại và xác định ranh giới thể loại.

II. Định vị thể loại giai thoại Việt Nam

Chương này tập trung vào việc xác định các tiêu chí để định vị giai thoại Việt Nam trong hệ thống tự sự dân gian. Luận án đề xuất các tiêu chí như đề tài, nhân vật, và cảm hứng để phân loại giai thoại. Các giai thoại được chia thành ba tiểu loại chính: giai thoại văn học, giai thoại văn hóa dân gian, và giai thoại lịch sử. Mỗi tiểu loại có đặc trưng riêng về nội dung và hình thức, phản ánh sự đa dạng của văn hóa Việt Nam.

2.1. Các tiêu chí xác định giai thoại Việt Nam

Luận án đưa ra các tiêu chí như đề tài, nhân vật, và cảm hứng để xác định giai thoại Việt Nam. Đề tài của giai thoại thường xoay quanh các sự kiện lịch sử, văn hóa, hoặc đời sống xã hội. Nhân vật trong giai thoại thường là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử hoặc văn học. Cảm hứng của giai thoại thường mang tính giáo dục hoặc giải trí, phản ánh tư duy và quan niệm của người Việt.

2.2. Phân loại giai thoại Việt Nam

Luận án phân loại giai thoại Việt Nam theo tiêu chí đề tài và nhân vật. Các giai thoại văn học tập trung vào các nhân vật văn chương, trong khi giai thoại văn hóa dân gian phản ánh đời sống và tín ngưỡng của người dân. Giai thoại lịch sử lại tập trung vào các sự kiện và nhân vật lịch sử, bổ sung cho các tư liệu chính thống.

III. Một số phương diện đặc trưng thi pháp thể loại của giai thoại Việt Nam

Chương này đi sâu vào phân tích các đặc trưng thi pháp của giai thoại Việt Nam, bao gồm kết cấu và nhân vật. Luận án chỉ ra rằng kết cấu của giai thoại thường ngắn gọn, tập trung vào một sự kiện hoặc tình huống cụ thể. Nhân vật trong giai thoại thường được khắc họa qua các hành động hoặc lời nói đặc trưng, phản ánh tính cách và tư tưởng của họ.

3.1. Kết cấu của giai thoại

Luận án phân tích kết cấu của giai thoại Việt Nam, thường bao gồm ba phần: mở đầu, diễn biến, và kết thúc. Kết cấu này giúp giai thoại truyền tải thông điệp một cách hiệu quả, đồng thời tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc.

3.2. Nhân vật của giai thoại

Nhân vật trong giai thoại Việt Nam thường là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử hoặc văn học. Họ được khắc họa qua các hành động hoặc lời nói đặc trưng, phản ánh tính cách và tư tưởng của họ. Luận án cũng đề cập đến hai kiểu nhân vật mới là nhân vật nghệ nhân dân gian và nhân vật nhà nho tài tử.

IV. Mối quan hệ giữa giai thoại Việt Nam và các thể loại trong tự sự dân gian lịch sử văn học

Chương cuối cùng của luận án khảo sát mối quan hệ giữa giai thoại Việt Nam và các thể loại khác trong tự sự dân gian, lịch sử, và văn học. Luận án chỉ ra rằng giai thoại có mối liên hệ mật thiết với truyền thuyết, truyện cười, và cổ tích. Đồng thời, giai thoại cũng bổ sung cho các tư liệu lịch sử, cung cấp góc nhìn đa chiều về các sự kiện và nhân vật lịch sử.

4.1. Mối quan hệ giữa giai thoại và tự sự dân gian

Luận án phân tích mối quan hệ giữa giai thoại và các thể loại tự sự dân gian như truyền thuyết, truyện cười, và cổ tích. Giai thoại thường chia sẻ các motif và cấu trúc với các thể loại này, nhưng cũng có những đặc trưng riêng biệt.

4.2. Mối quan hệ giữa giai thoại và lịch sử

Luận án chỉ ra rằng giai thoại có vai trò bổ sung cho các tư liệu lịch sử, cung cấp thông tin về các sự kiện và nhân vật lịch sử từ góc nhìn dân gian. Điều này giúp làm phong phú thêm hiểu biết về lịch sử văn hóa Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam đặc điểm giai thoại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu giai thoại và tư liệu giai thoại Việt Nam. Chương 2: Định vị thể loại giai thoại Việt Nam Chương 3: Một số phương diện đặc trưng thi pháp thể loại của giai thoại Việt Nam. Chương 4: Mối quan hệ giữa giai thoại Việt Nam với các thể loại trong tự sự dân gian, lịch sử và văn học. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIAI THOẠI VÀ TƯ LIỆU GIAI THOẠI VIỆT NAM Trong giới nghiên cứu folklore thế giới, giai thoại từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu.

Ở những nước có nền folklore phát triển như Phần Lan, Nga, Pháp, Đức, Hoa Kỳ,. giai thoại đều được khảo sát sâu và đạt được nhiều thành tựu đáng tham khảo. Ở nước ta, giai thoại là một thể loại được thừa nhận khá muộn màng trong giới nghiên cứu folklore. Mặc dù đã có nhiều công trình tuyển chọn, nghiên cứu nhưng đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao từ phía các nhà nghiên cứu ở một số đặc điểm cơ bản của thể loại.

Như vậy, trên thực tế, các vấn đề về lý thuyết thể loại ở phương Tây mặt nào đó có thể chưa hẳn phù hợp với thực tế giai thoại ở Việt Nam. Bởi vậy, việc khảo sát lại toàn bộ vấn đề trên phải bắt đầu từ các quan niệm và đánh giá như: định nghĩa, phân loại, các bình diện thi pháp,. Ở đây, chúng tôi bước đầu điểm qua một số ý kiến quan trọng từ các công trình đó. Những đánh giá dưới đây của chúng tôi về mặt thể loại được xem như tiền giả định, nhằm sàng lọc đối tượng khảo sát hơn là định danh thể loại cho các tư liệu.

Tình hình nghiên cứu giai thoại 1. Giai thoại - thuật ngữ và quan niệm Trước khi đi vào vấn đề quan niệm, xin điểm qua vài nét về nguồn gốc thuật ngữ giai thoại ở châu Âu cũng như tình hình sưu tầm, giới thiệu giai thoại đã diễn ra như thế nào (qua một số quốc gia tiêu biểu). Ở phương Tây, về nguồn gốc thuật ngữ “Anecdote”, trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng “Anekdotos”, gốc Hy Lạp và tiếng “Anecdota” (có cách viết khác là “Anekdota”), gốc La tinh, có nghĩa gốc là không/ chưa công bố. Theo tác giả Tamarchenko (người Nga) trong bài viết Giai thoại là gì?, thuật ngữ giai thoại “có gốc gác từ cuốn “Mật sử” của Procopius Caesarensis (một tác phẩm còn đang có nhiều tranh cãi, được viết vào những năm 550)” [132].

Tác giả Lionel Gossman – nhà nghiên cứu người Mỹ (gốc Scotland) trong bài viết Giai thoại và lịch sử (Anecdote and history) [179] nói rõ hơn thời điểm xuất hiện của thuật ngữ giai thoại ở Châu Âu. Theo đó, thuật ngữ “Anecdota” (với ý nghĩa cốt lõi là “chưa được xuất bản”) thực ra đã xuất hiện từ thời cổ đại qua các tác phẩm của Ciero, Diodorus Siculus – những sử gia người Hy Lạp. Tuy xuất hiện sớm như vậy nhưng phải đến năm 1623, thuật ngữ này mới chính thức được sử dụng trong một văn bản của bộ Suda, một bách khoa toàn thư của nhà thờ Vatican, nước Ý. Trong những năm từ 1697 đến 1713, Ludovico Mutatori – một học giả Khai sáng người Ý đã xuất bản 2 cuốn sách có tiêu đề giai thoại.

Đó là Anecdota Latina (Giai thoại Latina) và 6 Anecdota Graeca (Giai thoại Graeca). Ở Pháp, thuật ngữ giai thoại được sử dụng chính thức vào năm 1650. Kèm theo đó, các sách dưới nhan đề giai thoại (chủ yếu là giai thoại lịch sử) liên tiếp được xuất bản. Có thể dẫn ra như: Anecdotes des Républiques (Giai thoại của các nước Cộng hòa) (1771), Anecdotes Arabes et Musulmanes (Giai thoại người Ả Rập và người Hồi giáo) (1772), Anecdotes Espagnoles et Portugaises depuis l’origine de la nation jusqu’à nos jours (Giai thoại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từ thời lập quốc cho đến ngày nay) (1773), Anecdotes Américaines (Giai thoại Hoa Kỳ) (1776),.

Cũng theo Gossman, ở Hoa Kỳ, trong khoảng thời gian từ 1750 đến 1830, danh mục của thư viện Firestone, Đại học Princeton liệt kê hơn 200 đầu sách được xuất bản với các tiêu đề có liên quan đến giai thoại. Ví dụ, Anecdotes Africaines (Giai thoại Châu Phi), Anecdotes Américaines (Giai thoại Hoa Kỳ),. Còn ở nước Anh, thuật ngữ này xuất hiện muộn hơn. Một trong những cuốn sách giới thiệu giai thoại đầu tiên được xuất bản là quyển Biographical and literary anecdotes of William Bowyer (Tiểu sử và giai thoại văn học của William Bowyer) [183] của John Nichols, xuất bản lần đầu vào năm 1782, cả thảy có 6 tập.

Đến năm 1812 trở đi, sách này được tái bản lại với các ấn bản khác nhau (7 tập, 9 tập) với tên gọi khác là Literary anecdotes of the eighteenth century (Giai thoại văn học của thế kỷ XVIII) [184]. Vào năm 1821, một quyển sách khác với tiêu đề giai thoại cũng đã được xuất bản, đó là cuốn The Percy anecdotes: Original and select (Giai thoại Percy: Nguyên bản và chọn lọc) [185] (các ấn bản tiếp theo xuất bản vào các năm 1830, 1868, 1869). Các tập sách được phát hành thành 44 phần hằng tháng, do Sholto và Reuben Percy sưu tầm, tập hợp những giai thoại đã được đăng tải trên thờ báo The Star trong nhiều năm. Quyển sách trên cũng được phát hành ở Mỹ với những ấn bản khác.

Ví dụ, The Percy anecdotes, revised edition: To which is added, a valuable collection of American anecdotes, original and select (Giai thoại Percy, ấn bản sửa đổi: Có bổ sung, một bộ sưu tập có giá trị của các giai thoại Hoa Kỳ, nguyên bản và chọn lọc) (New York: Harper & Brothers, 1838) [186]; The Percy anecdotes: To which is added a valuable collection of American anecdotes, original and select (Giai thoại Percy: Có bổ sung thêm một bộ sưu tập có giá trị về các giai thoại Hoa Kỳ, nguyên bản và chọn lọc) (New York: Harper & Brothers, 1845);. Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua nguồn gốc của thuật ngữ giai thoại cũng như vấn đề giới thiệu tác phẩm giai thoại ở một số nước châu Âu, Hoa Kỳ. Đến đây, luận án sẽ 7 điểm qua vài nét về quan niệm giai thoại trong một số từ điển cũng như một số nhà nghiên cứu trên thế giới. Nhìn chung, hầu hết các tác giả đều ít nhiều nhấn mạnh đến ý nghĩa gốc của giai thoại – tính chất “chưa được công bố” của nó.

Theo Tamarchenko, Từ điển tiếng Anh (1775) của Samuel Johnson từng giải thích: “Giai thoại là câu chuyện chưa được công bố”, có nghĩa, đó là chuyện riêng tư của nhân vật quan phương” [132]. Còn Từ điển Oxford cũng định nghĩa giai thoại là: “Những câu chuyện hoặc chi tiết lịch sử bí mật, riêng tư hoặc cho đến nay chưa được công bố cũng như câu chuyện về một sự việc tách rời, hoặc về một sự kiện đơn lẻ, được xem là thú vị hoặc nổi bật” (Dẫn theo Gossman, “Giai thoại và lịch sử”, [179, tr. Tác giả Nicolaisen – một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Đức trong bài viết Giai thoại (Anecdote) ngoài việc nhấn mạnh đến nét nghĩa “chưa công bố”, “không được nói ra”, còn chỉ ra tính chất “sự cố có tính đại diện cho cá nhân hoặc cộng đồng” của giai thoại. Tác giả viết: “Giai thoại là những truyện kể tập trung vào các sự cố có tính đại diện cho cá nhân hoặc cộng đồng được nêu đích danh”.

Do từ nguyên của thuật ngữ này đã ám chỉ nghĩa “những chuyện chưa được công bố” (tiếng La tinh Anecdota) và cũng có nghĩa “không được nói ra” (mượn từ khái niệm Anekdotos của Hy Lạp) nên giai thoại có mối quan hệ gần với truyền thống truyền miệng” [107]. Còn tác giả Lionel Gossman trong bài viết Giai thoại và lịch sử (Anecdote and history), ở mục IV. Thời điểm được sử dụng của giai thoại, đã chỉ ra hai nét nghĩa quan trọng của giai loại là: 1. Bất kỳ tác phẩm nào, thuộc thể loại nào chưa được xuất bản và 2.

Giai thoại là “lịch sử bí mật” (hay mật sử) [179]. Như vậy, quan niệm về giai thoại của các nhà nghiên cứu ở Châu Âu nổi lên hai điểm đáng chú ý: 1. Giai thoại là những câu chuyện chưa được công bố; 2. Giai thoại là lịch sử bí mật.

Dù xuất hiện từ khá sớm trong văn hóa châu Âu, nhưng không phải ngay từ lúc đầu, giai thoại đã được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức. Bởi lẽ, giai thoại có thực sự là một thể loại hay không vẫn còn là một câu hỏi lớn vào thời điểm xuất hiện của nó. Ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, giai thoại chủ yếu được nhìn nhận ở khía cạnh văn học và lịch sử. Một trong những luận án đầu tiên ở châu Âu trực tiếp bàn về giai thoại là công trình A dissertation on Anecdotes (Luận văn về giai thoại, 1793) [172] của Isaac D’Israeli – một tác giả người Anh (gốc Do Thái).

“Trong đó, ông thể hiện sự quan tâm của mình đối với lịch sử giai thoại. Ông viết về nguồn gốc và bản chất của giai thoại và cho rằng chúng không chỉ là một phần thú vị của văn học mà còn cung cấp một số sự thật nhất định về con người và thời đại của họ. “Những giai thoại – ông ấy viết – là những phần dễ hiểu nhất của lịch sử” (Dẫn lại từ 8 bài giới thiệu “Isaac D’Israeli's Literary Works” (Tác phẩm văn học của Isaac D’Israeli), The Victorian Web, http://www. Như vậy, từ cuối thế kỷ XVIII, giai thoại đã được chú ý ở góc độ văn học và lịch sử.

Và chính những gợi ý của tác giả trong công trình này đã có ít nhiều tác động đến hướng nghiên cứu giai thoại ở các giai đoạn về sau. Khuynh hướng thứ hai xác lập sự tồn tại của thể loại giai thoại ở châu Âu là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu folklore. Ở khuynh hướng này, giai thoại được xem là một thể loại của tự sự dân gian (hoặc là một tiểu loại của cổ tích) qua quan niệm của các nhà nghiên cứu nổi tiếng như Aarne (The types of the folklore: A classitification and bibliography, Các loại truyện dân gian: Phân loại và thư mục, 1910) [169]; V. Khuynh hướng thứ ba trong nghiên cứu về giai thoại là khuynh hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa giai thoại và lịch sử của trường phái Chủ nghĩa Lịch sử Mới.

Trường phái này xuất phát từ nước Pháp, sau đó lan tỏa sang các nước châu Âu cũng như Hoa Kỳ. Theo Lionel Gossman (“Giai thoại và lịch sử” [179]), ở Đức, từ giữa thế kỷ XIX, đã có hàng loạt những công trình bàn về mối quan hệ giữa giai thoại và lịch sử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm giai thoại Việt Nam trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa" là một nghiên cứu chuyên sâu về giai thoại, một thể loại văn học dân gian độc đáo của Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích đặc điểm ngôn ngữ, cấu trúc, và nội dung của giai thoại mà còn khám phá vai trò của chúng trong việc phản ánh văn hóa, lịch sử, và tâm lý dân tộc. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách giai thoại góp phần bảo tồn và truyền tải các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời nhận thức được sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ và văn hóa, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khảo sát ngữ tố gia sĩ giả viên cấu thành danh từ chỉ người trong tiếng Hán hiện đại có đối chiếu với tiếng Việt, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn so sánh giữa hai ngôn ngữ. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành ngôn ngữ văn học và văn hóa nước ngoài sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Cuối cùng, Luận văn thạc sỹ prototypes of basic colour terms in English and Vietnamese from a cognitive linguistics perspective mang đến cái nhìn thú vị về ngôn ngữ học nhận thức. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề ngôn ngữ và văn hóa.