phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được triển khai trong 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương này trình bày một cách chi tiết tổng quan về tình hình nghiên cứu, bao gồm tình hình nghiên cứu về TNXH trong và ngoài nước, tình hình 6 nghiên cứu về TNXHPG ở trong nước và ngoài nước. Về phần cơ sở lý luận, luận án tập trung vào 3 phần chính: Từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt, từ ngữ xưng hô trong PGVN, giao tiếp và văn hóa giao tiếp ứng xử của người Việt. Chƣơng 2: Đặc điểm về từ vựng, ngữ pháp của từ ngữ xƣng hô trong Phật giáo Việt Nam. Ở chương 2, trước hết đi vào nghiên cứu đặc điểm về từ vựng, chúng tôi đã thống kê, phân loại TNXHPGVN.
Sau đó, phân tích miêu tả về nguồn gốc và phạm vi sử dụng của lớp TNXHPGVN. Về đặc điểm ngữ pháp, chúng tôi chỉ xét trên 2 phương diện: Đặc điểm về cấu tạo và đặc điểm về từ loại của lớp TNXHPGVN. Chƣơng 3: Đặc điểm về ngữ nghĩa và cách sử dụng của từ ngữ xƣng hô trong Phật giáo Việt Nam. Ở chương này, về đặc điểm ngữ nghĩa, luận án phân tích một số yếu tố nghĩa như: tôn ti, giới tính và danh xưng.
Đồng thời, phân tích cấu trúc nét nghĩa danh xưng của TNXHPGVN. Cách sử dụng của TNXH trong PGVN gồm hai phần chính: TNXH trong PGVN qua các tình huống giao tiếp và TNXH trong PGVN qua văn hóa ứng xử giao tiếp. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Đề tài luận án liên quan đến hai vấn đề cơ bản: về từ ngữ xưng hô nói chung và về từ ngữ xưng hô trong Phật giáo Việt Nam nói riêng. Trong chương này, luận án tập trung trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô và từ ngữ xưng hô trong Phật giáo Việt Nam.
Cùng với đó là những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài: khái niệm về từ ngữ tiếng Việt, khái niệm từ ngữ xưng hô, hệ thống từ ngữ xưng hô, khái lược về Phật giáo Việt Nam, xưng hô trong Phật giáo Việt Nam, khái niệm về vai giao tiếp, các nhân tố tác động đến từ ngữ xưng hô trong giao tiếp và văn hóa giao tiếp ứng xử của người Việt. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu từ ngữ xƣng hô a. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ học, khi nghiên cứu về từ ngữ xưng hô chúng tôi nhận thấy rằng các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã đi theo các hướng nghiên cứu sau: Trước hết là hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa, ngôn ngữ - nhân chủng học, với những tên tuổi tiên phong trong lĩnh vực này như W.
Lounsbury, Leach, Needham và Schneider v. Để đáp ứng cho công trình nghiên cứu về lịch sử các quan hệ thân tộc của mình, các nhà nghiên cứu đã cố gắng thành lập các bảng về quan hệ thân tộc, gia đình và xã hội. 8 Trong khuôn khổ các công trình nghiên cứu về các mối quan hệ trong gia đình, thân tộc và ngoài xã hội, khi phân tích về nguồn gốc thân tộc, thiết chế xã hội, các tác giả đã bước đầu đề cập đến các đại từ nhân xưng và những từ ngữ được dùng để xưng hô trong các mối quan hệ thân tộc như Grandmother, grandfather, uncle, father, mother, sister, brother. Đáng chú ý, các tác giả Leach, Needham và Schneider đã cho rằng các từ thân tộc không mang tính chất về quan hệ sinh học, đặc biệt là huyết thống, mà đây là những từ mang tính xã hội.
Do đó, mỗi cá nhân không được xếp vào các phạm trù thân thích nào đó theo quan hệ huyết thống của chúng. Vì chúng là các thành viên trong những nhóm xã hội nhất định, được quy định bởi hôn nhân. Tuy nhiên, có thể thấy, những nghiên cứu trên cũng chỉ mới là bước đầu. Tiếp theo, phải kể đến quan điểm của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học cấu trúc như: M.
Emeneau, trong công trình nổi tiếng “Studies in Vietnamese Grammar” [107], đã quan tâm nhiều về đại từ trong tiếng Việt, đặc biệt là tập trung bàn về đại từ xưng hô và nhóm từ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ. Qua đó, ông đã nhận ra sự hạn chế của các đại từ nhân xưng đích thực và vai trò quan trọng của các từ xưng hô lâm thời mà ông cho là “Đại từ cương vị”. Thompson cũng đã có những nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như: “A Vietnamese Grammar” và “A Vietnamese Reference Grammar” [113]. Trong những công trình này, ông đã đề cập các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt như: ta, tôi, họ, hắn.
cùng các danh từ thân tộc. Với danh từ thân tộc, ông nhận thấy giữa danh từ chung và danh từ riêng có hai mặt đối lập là thay đổi và không thay đổi, đồng nhất và không đồng nhất.Thompson nhận thấy rằng: “Số lƣợng các đại từ xƣng hô thực thụ là quá ít và đại từ tôi, ta với thái độ xƣng hô thể hiện sự kính trọng hay thái độ bề trên, ở ngôi thứ nhất không có đại từ tƣơng ứng với nó ở ngôi thứ hai (chỉ ngƣời nghe) và ngôi thứ ba (chỉ ngƣời đƣợc nói đến), do đó phải thay bằng 9 các từ thuộc từ loại hoặc các danh từ” [113, tr. Có thể nhận ra rằng, với khuynh hướng cấu trúc, các tác giả M.Thompson đã chỉ ra được các “chất liệu”, các “phương tiện vật chất” cơ bản được dùng để thực hiện hành vi xưng hô trong tiếng Việt, đó là các “đại từ nhân xưng” (personal pronouns), đồng thời đã phân chia đại từ nhân xưng thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời để nghiên cứu. Gần gũi nhất với đề tài luận án là hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng, trên nền tảng lý thuyết được đề cập trong các công trình của M.Halliday, Brown và A.Gilman, hay Carol.ScoHon và Zku Wanjin… liên quan đến chức năng giao tiếp, hệ quy chiếu ở các ngôi, trục quyền uy và thân sơ trong các vai giao tiếp.
được dùng để nghiên cứu về từ xưng hô trong giao tiếp. Ảnh hưởng từ hướng nghiên cứu này, Lương Văn Hy (1990) với công trình nghiên cứu về “Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học – hệ thống quy chiếu về ngƣời trong tiếng Việt” [108] đã đề xuất hướng nghiên cứu từ xưng hô - cái mà ông gọi là “hệ thống quy chiếu về ngƣời” một cách đồng bộ trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Đồng thời ông cũng cho rằng, hệ thống quy chiếu ngôi tiếng Việt bao gồm ba tiểu loại ngữ pháp: đại từ nhân xưng, danh từ chung (danh từ thân tộc và danh từ cương vị) và danh từ riêng đối lập nhau trên hai phương diện là thay đổi/ không thay đổi, đồng nhất/ không đồng nhất. Tuy tác giả đã đi sâu vào phân tích và chỉ ra chức năng thay thế của danh từ chung và đại từ nhân xưng, nhưng quan điểm của ông còn cứng nhắc khi xem xét về vấn đề từ loại và miêu tả các từ xưng hô thân tộc vẫn còn sơ lược.
Thế nhưng, sự đóng góp đáng kể của ông trong việc nghiên cứu từ xưng hô tiếng Việt và hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về từ xưng hô là đáng được ghi nhận. Từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã nêu, khi nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ xưng hô PGVN chúng tôi đã tham khảo 10 về cách phân chia và sử dụng về ĐTNX, DTTT và các danh từ khác làm phương tiện xưng hô của của các nhà nghiên cứu nước ngoài để áp dụng những vấn đề thực tiễn vào cơ sở lí luận của luận án. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu rất sớm, cách đây hơn 350 năm kể từ những trang viết của Alexandre de Rhodes. Năm 1651 trong cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latinh, Alexandre de Rhodes đã dành một vài trang để miêu tả các từ xưng hô trong tiếng Việt, các đại từ nhân xưng cũng như các danh từ thân tộc có chức năng xưng hô như: ông, bà, bác, cô, cậu, chú.
đều được ông nhắc đến nhưng còn sơ lược. Tiếp theo sau có các nhà Việt ngữ đã có những công trình nghiên cứu về TNXH theo các hướng nghiên cứu sau: - Quan điểm của các nhà Việt ngữ về từ ngữ xưng hô theo hướng nghiên cứu ngữ pháp truyền thống như: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm [65], Nguyễn Lân [68], Nguyễn Tài Cẩn [8], Nguyễn Kim Thản [80], Nguyễn Minh Thuyết [91], Lê Biên [5], Nguyễn Phú Phong [47]… Trong những công trình nghiên cứu của các tác giả này đều sắp xếp danh từ chỉ quan hệ thân tộc (ông, bà, cô, chú, bác, anh, chị, em, con, cháu.) vào từ loại đại từ và đã công nhận những danh từ thân tộc này có chức năng xưng hô như đại từ (tức đại từ lâm thời). Vì thế họ đã chia đại từ nhân xưng thành hai nhóm: + Đại từ xưng hô chuyên dụng như: tôi, tao, tớ, hắn, họ… + Đại từ xưng hô lâm thời gồm những yếu tố đại từ hóa để xưng hô như: danh từ chỉ quan hệ thân thuộc; danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp; danh từ chỉ học hàm, học vị và từ ngữ chỉ nơi chốn… Theo hướng nghiên cứu này, các tác giả tuy có mở rộng phạm vi sử dụng của các danh từ xưng hô bằng cách thêm những tính từ và danh từ làm định ngữ, hoặc DTTT kết hợp với “các” như: các anh, các chị, các em hoặc DTTT 11 kết hợp với “ấy” để chỉ cho ngôi thứ ba - vai được nhắc tới trong giao tiếp như: bác ấy, cô ấy, anh ấy, chú ấy, chị ấy… Thế nhưng, họ lại gộp tất cả những từ có chức năng xưng hô cho dù có nguồn gốc từ loại nào đi nữa hay mức độ đại từ hóa cao thấp ra sao đều là loại đại từ mà cụ thể là ĐTNX. Vậy, các tác giả này đã quan niệm đại từ nhân xưng bao gồm toàn bộ những từ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô.
Đây là kết quả của giai đoạn nghiên cứu về từ ngữ xưng hô theo hướng cấu trúc luận.