Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ngôn ngữ thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ 1. Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ Trước hết, ta cần tìm hiểu khái niệm thơ là gì? Có thể nói thơ chính là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu chính, dưới sự chọn lọc ngôn từ cũng như cách sắp xếp kết cấu của chúng một cách logic nhất định tạo từ đó cấu thành nên hình ảnh, âm thanh gây ấn tượng cho người đọc và người nghe. Thơ là loại hình văn học có bề dày lịch sử.
Theo giới nghiêncứu, trong khoảng thời gian từ 384-322 TCN xuất phát từ nhà hiền triết người Hi Lạp Aristotle ở châu Âu đã có định nghĩa về thơ. Ở Việt Nam ta thơ bắt nguồn từ những câu ca dao tục ngữ hay những bài vè có vần điệu được lưu truyền trong dân gian mà thành. Thơ, Thơ ca hay thi ca, là thuật ngữ dùng để chỉ loại hình nghệ thuật sáng tác tổng hợp của các mặt: âm nhạc, nhịp điệu, hội họa theo một cách ngắn gọn, cô đọng, súc tích. Vậy ta có thể hiểu thơ là gì? Đây vẫn là một câu hỏi mang nhiều sự tranh cãi của giới chuyên môn và chưa đi đến một sự thống nhất chung.
Không những vậy ở mỗi nền văn hóa lại có những quan niệm, nhận định, định nghĩa về thơ rất khác biệt. Ở phương Tây có những nhận định, định nghĩa về thơ vô cùng thú vị. Alfred De Vigny (1797-1863) - một nhà thơ nổi tiếng của Pháp từng nói: “Thơ là sự đẹp tuyệt trần của sự vật, và sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy trong lý tưởng”. Ste'phane Mallarme' (1842-1898) cho rằng: “Thơ là một sự tái tạo lí tính của vũ trụ”… “Thơ ca là sự biểu hiện ý nghĩa bí ẩn của sinh tồn, nhờ ngôn ngữ của con người được cô đọng vào tiết tấu thiết yếu của nó” (theo Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XIX, tr.327); hay “Thơ là tham vọng của một diễn từ mang chở nhiều nghĩa hơn và được trộn lẫn với nhiều âm nhạc hơn là ngôn ngữ thông thường không mang và cũng không thể mang trong nó” (Vale’ry, Sự chuyển 7 tiếp của Verlaine,1921, Tạp văn).
Lau’rence Ferlingghetti - nhà thơ cuối cùng của thế hệ “Beat generation” - nhóm nhà thơ “không tùy thời” vào những năm 50 của thế kỉ XX tại Mĩ đã có những nhận định về thơ theo cách rất mới lạ được in trong một bài viết có tên “52 định nghĩa về thơ để sử dụng trong thế kỉ XXI” như sau: “Thơ,đó là những cách đi đến nơi tận cùng của ý thức”, “Thơ, là chiếc lá chói lọi của tưởng tượng. Nó phải rực sáng và làm cho bạn gần như mù quáng”, “Thơ, được tạo thành bởi những quầng sáng tan dần trong đại dương âm thanh”, “Thơ, là cái gì tồn tại giữa các dòng chữ”, “Thơ là một tiếng nói li khai chống lại sự lãng phí từ ngữ và sự thừa thãi điên rồ của chữ in”…(25, tr 21). Cũng theo ông, để có một định nghĩa chuẩn mực về thơ là điều bất khả thi, bởi trong mỗi bài thơ đã mang cho mình một định nghĩa riêng, thậm chí hơn thế: “Không nghi ngờ gì nữa, có bao nhiêu bài thơ thì có từng ấy định nghĩa, thậm chí còn nhiều hơn nữa bởi vì các Giáo sư và nhà phê bình thơ còn đông hơn các nhà thơ”. Tại phương Đông, khái niệm “thơ là gì?” đã được bàn luận từ rất sớm trong nền văn học trung đại của Trung Quốc.
Từ thời nhà Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị đã đưa ra các yếu tố cốt lõi để cấu thành một bài thơ như sau: “Cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa”[52]. Nhận định này của Bạch Cư Dị đã nói lên được những mối tương quan gắn bó giữa các nhân tố tạo nên một tác phẩm, cũng giống như một thực thể ngoài đời là gốc rễ, lá, hoa, quả luôn gắn bó với nhau. Ở Việt Nam, khái niệm “thơ là gì?” đã được giới chuyên môn đưa ra bàn luận rất nhiều với nhiều quan điểm, nhận định rất khác nhau.
Nhà thơ Chế Lan Viên có quan điểm rằng: “Thơ là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn nén cảm xúc đến mức cô đúc”. Phan Ngọc- một dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại cho rằng: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm 8 xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này”[34, tr 23]. Qua đó ông đi đến khẳng định rằng muốn một bài thơ phải đáp ứng các điều sau: - Có giá trị phổ quát, - Mang tính hình thức giúp người ta nhận diện được thơ, không cần phải có kinh nghiệm và hiểu biết nghệ thuật, - Giúp người ta nắm được thực chất của thơ, để làm thơ, đọc thơ, giảng thơ có kết quả. Nhà thơ Mã Giang Lân trong cuốn Tìm hiểu thơ từng nói: “Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp bốn yếu tố: Ý- Tình- Hình- Nhạc”, sau khi ông tóm lược toàn bộ các quan niệm, nhận định về thơ từ trước đến nay.
Còn theo nhóm tác giả phê bình và nghiên cứu Văn học Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.[19, tr 309] Có thể nói ngôn ngữ chính là chất liệu cơ bản để tạo dựng nên mỗi tác phẩm văn học; mỗi thể loại văn học lại sở hữu một thứ ngôn ngữ riêng với những nét đặc trưng mà ta chỉ có thể tìm thấy ở thể loại đó. Với ngôn ngữ thơ nói riêng thì tính đặc trưng đó lại càng được thể hiện một cách vô cùng rõ ràng bởi: với thơ ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện truyền đạt, là mục đích hướng tới. Ngôn từ trong thơ ca được sử dụng một cách hữu hạn, bởi trong các thể loại văn học thơ ca là thể loại có ngôn ngữ xúc tích, ngắn gọn nhất. Đã từng có nhà thơ nói rằng: “Ngôn ngữ thi ca được đúc lại như một tấm huân chương”.
Nguyễn Hữu Đạt đã nhận định về cách tổ chức ngôn ngữ thơ trong cuốn “ngôn ngữ thơ Việt Nam”, như sau: “được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” [13, tr. Nguyễn Thiện Giáp cũng viết: “Do yêu cầu thể hiện thế giới nội tâm, thế giới tinh thần, cách tổ chức ngôn ngữ của thơ khác hẳn cách dùng lời nói của các phong cách chức năng phi nghệ thuật”[17, tr. Điều này càng làm khẳng định thêm những luận điểm của Nguyễn Hữu Đạt. 9 Như vậy, theo bề dày lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã có rất nhiều nhận định, định nghĩa về thơ qua đó ta có thể rút ra một số đặc điểm chung của thơ ca như sau: Thơ là một phức hợp của hệ thống ngôn từ có tổ chức, có vần điệu, nhịp điệu, bộc lộ cảm xúc của tác giả bằng hình ảnh thông qua ngôn từ.
Đặc điểm ngôn ngữ thơ Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, sáng tạo và độc đáo. Bởi vậy, thơ mang trong mình những đặc điểm ngôn ngữ riêng biệt. Hay nói cách khác, đặc điểm để phân biệt thơ và các thể loại văn chương khác một cách rõ ràng nhất đó là ngôn ngữ thơ. Dựa theo khái niệm về thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ như đã nói ở trên, ta có thể xét đặc điểm ngôn ngữ thơ trong phạm vi thể loại, ngôn ngữ.
Cụ thể là đi vào làm rõ ba đặc trưng: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp. Về ngữ âm Có thể nói thơ chính là tiếng nói của sự sáng tạo xuất phát từ trí tuệ và vẻ đẹp sâu thẳm trong tâm hồn con người. Những nét đẹp sâu trong nội tâm của mỗi nhà thơ được thể hiện qua nhịp điệu, âm thanh và ý nghĩa của từ. Trái ngược với văn xuôi, trong thơ có chứa đựng tính nhạc được thể hiện qua đặc tính thanh học của ngôn ngữ được sắp xếp một cách logic và chặt chẽ.
Sự phong phú và đa dạng trong nguyên âm, phụ âm và thanh điệu của tiếng Việt là nguyên tố để hình thành tính nhạc trong thơ ca. Đặc biệt thanh điệu chính là yếu tố chính mang lại sự ấn tượng và nét khác biệt trong thơ ca Việt Nam. Bởi trong Tiếng Việt thanh điệu đóng vai trò vô cùng quan trọng và là sức mạnh để tạo ra sự riêng biệt. Tính nhạc trong thơ được thể hiện ở yếu tố cơ bản là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp: Sự cân đối là sự kết hợp hài hòa, tương xứng giữa các dòng thơ được thể hiện qua cách sắp xếp tổ chức, có thể là âm thanh hay hình ảnh mang tính trừu tượng.
10 Sự trầm bổng của ngôn ngữ nằm ở nhịp điệu, cách hòa âm của từng tác giả và sự thay đổi các cung bậc giữa hai nhóm thanh điệu. Những cảm nhận và cảm xúc của tác giả được truyền vào nhịp thơ. Sự trùng điệp thể hiện ở việc gieo vần, sử dụng điệp từ, cách dùng ngữ và các điệp cú. Chúng chính là chất xúc tác để kết dính các dòng thơ lại thành một thể thống nhất, tạo nên vẻ đẹp hoàn chỉnh cho ngôn ngữ thơ.
Tính nhạc trong ngôn ngôn ngữ thơ khiến cho bài thơ trở lên đầy tính nghệ thuật và mang thơ ca gần gũi với âm nhạc hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào khác. Thật không khó để bắt gặp những bài hát nổi tiếng được phổ nhạc từ thơ. * Vần Nguyên tố cơ bản nhất để cấu thành nên sự hòa âm giữa các câu thơ chính là vần. Không chỉ có vậy,yếu tố tiên quyết để tạo nên tính nhạc trong thơ lại chính nằm ở sự hòa âm.
Vần thực hiện chức năng liên kết giữa các dòng thơ thông qua sự cộng hưởng, liên kết theo những quy luật ngữ âm cụ thể giữa các âm tiết hoặc các từ ở trong mỗi câu thơ hay cuối dòng thơ. Qua đó gợi tả hoặc nhấn mạnh sự ngừng nhịp. Có thể hiểu vần là “sự lặp lại những khuôn âm giống nhau hoặc tương tự ở giữa hay cuối dòng thơ để tăng sự liên tưởng và sức gợi cảm của câu thơ” theo cuốn “Thuật ngữ nghiên cứu văn học” do Lê Bá Hán chủ biên [19, tr.