Chương 1. Cơ sở lý thuyết 11 Ở chương này, luận văn trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản, có thể kể đến như: đặc trưng của NNBC, đặc trưng của NNPV, sự phân chia thể loại PV, cấu trúc của một bài PV, v. Đây là những tiền đề giúp cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài. Đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp của ngôn ngữ phỏng vấn Chương 2 tập trung vào đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp của thể loại PV trên báo in.
Không chỉ dựa trên những lý thuyết cơ sở để đi sâu vào đối tượng mà còn miêu tả và phân tích trực tiếp ngữ liệu để rút ra những đặc điểm vừa cơ bản vừa đặc trưng của NNPV. Đặc điểm ngữ dụng của ngôn ngữ phỏng vấn Ở chương 3, ngữ liệu PV được miêu tả và phân tích theo hướng ngữ dụng. Tập trung vào hai vấn đề chính: hành động ngôn ngữ và hàm ý trong NNPV. Cuối luận văn còn có phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục.
Đặc trưng của báo chí và ngôn ngữ báo chí 1. Đặc trưng của báo chí Ngày nay, “báo chí” (Journalism) là một thuật ngữ rất quen thuộc. Đây là kênh thông tin không ngừng được nâng cấp, làm mới để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao, ngày càng khó tính của công chúng. Trước đây,báo chí đượchiểu là phương tiện thông tin đại chúng in trên giấy, bao gồm báo in và tạp chí.
Trong “Từ điển tiếng Việt”(Hoàng Phê chủ biên, 2006), cũng chú giải: “báo chí. Báo và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ (nói khái quát)”. Cuốn“Truyền thông đại chúng: Công tác biên tập”, của Claudia Mast cũng cho rằng báo chí là những phần như trên; còn phát thanh, truyền hình được xem là những mảng riêng, đi saubáo chí– báo in (xét về thời gian ra đời). Tuy nhiên, theo quan niệm hiện đại, báo chílà hình thức và hoạt động truyền thông đại chúng phổ biến nhất.
Theo nghĩa này, báo chígồm bốn loại hình: báo in, phát thanh, truyền hình và báo trực tuyến [28,81]. Từ khi xuất hiện cho đến nay“Báo chí luôn là một công cụ hoạt động tinh thần của con người và các giai cấp trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ và văn minh của nhân loại” [28, 24]. BC cóba đặc trưng: tính thời sự, tính trung thực và tính hấp dẫn[19, 21]. Tính thờisự “Thời sự” được hiểu là những sự việc ít nhiều quan trọng trong một lĩnh vực nào đó của đời sống, thường là chính trị – xã hội, xảy ra trong thời gian gần nhất và đang được nhiều người quan tâm.
Cuộc sống thiên biến vạn hoá, muôn hình vạn trạng nên những sự việc “ít nhiều quan trọng” luôn hiện hữu. Điều quan trọng là người làm báo phải tiếp cận thông tin nhanh nhạy, chính xác để thực hiện chức năng thông tin phục vụ xã hội. Chính việc đòi hỏi ngày càng nhanh chóng và kịp thời thông tin nên mới hình thành nhật báo. Ở nước ta hiện nay, cụ thể là khu vực phía 13 Nam, các tờ nhật báo uy tín và có đông đảo bạn đọc là Tuổi trẻ, Thanh niên, Sài Gòn giải phóng, Nhân dân, Người lao động, Lao động, v.
Tính thời sự trongbáo chí cũng thể hiện ở khía cạnh phạm vi thông tin, ngoài truyền thông tin trong phạm vi quốc gia thì cần hướng ra thế giới. “Bởi, một mặt, các phương tiện truyền thông đại chúng cần khai thác, xử lý tốt lượng thông tin quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú của xã hội; mặt khác, cần đảm bảo cơ cấu nội dung và chất lượng thông tin để hình thành dư luận xã hội lành mạnh, nâng cao nhận thức, xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, hiện đại, khoa học” [28, 27]. Tính trung thực Nhà báo Hữu Thọ từng nói: “Tôi làm báo, anh cũng làm báo, vậy với anh cái gì quý nhất? –Với tôi quý nhất là sự tin cậy mà người đọc và nhân dân dành cho cái tên của mình, cho tờ báo của mình. Độc giả chỉ dành cho anh sự tin cậy khi anh đưa lại cho họ các thông tin một cách nhanh chóng và chính xác, cho họ biết sự kiện ấy thực chất là gì, ý nghĩa của nó ra làm sao” [81].
Nhà báo nên“có thế nào, nói thế ấy”, “đừng dây cà ra dây muống”. “Báo chí phải trung thực và chính xác” [19, 26]. Và về tinh hoa của nghề báo: “Nếu chỉ có một thì trước sau vẫn là sự trung thực” [TT, 20–6–1998, dẫn theo 19, 23]. Tính hấp dẫn Khi bàn về khái niệm tin tức, nhà báo Walter Cronkite của CBS News đã có một ý kiến rất ngắn gọn: “Tin tức là gì ư? Xin thưa, nó là thông tin!” [100, 47].
Tin tức là những thông tin nhưng đó phải là những thông tin quan trọng và có một giá trị thông tin nhất định. Tầm quan trọng của thông tin để tạo nên tính hấp dẫn trong một tác phẩm báo chí thường phụ thuộc vào: tầm quan trọng của bản thân sự kiện và sự quan tâm của công chúng đối với sự kiện đó. Sự kiện hấp dẫn độc giả, khán giả thường là những gì mà họ chưa hề nghe trước đó. Hoặc nếu là những sự kiện mang tính chất lịch sử, được viết lại, kể lại thì phải có lối khai thác sao cho mới lạ, sáng tạo và hiệu quả.
Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí Ngay như truyền hình, mặc dù có hàng triệu, hàng triệu khuôn hình liên tục chuyển động và thay thế cho nhau nhưng cuối cùng cũng chỉ minh hoạ cho những thông điệp (messages) bằng lời. Trước sau ngôn ngữ vẫn là một phương tiện diễn đạt và trình bày quan trọng nhất củabáo chí. Vì vậy, NNBC có những đặc trưng như sau: 1. Tính chính xác Dân gian ta có câu “bút sa, gà chết”, “văn chương báo chí, vì vậy, cần đến sự chuẩn xác tuyệt đối, ngay trong từng từ, từng cụm từ, chứ không phải chỉ là từng câu, từng đoạn” [10, 51].
Độc giả cần thông tin nhanh chóng, kịp thời nhưng nhất thiết phải đảm bảo sự chính xác; nhà báo phải cho công chúng biết sự kiện ấy thực chất là gì, ý nghĩa của nó quan trọng đến đâu. Ở bất kỳ nền báo chí của quốc gia nào, tính chính xác của thông tin thông qua ngôn ngữ, hay tính chính xác trong bản thân ngôn ngữ được nhà báo sử dụng đều là vấn đề hết sức quan trọng và phải được coi trọng. Tính cụ thể “Nội dung tác phẩm ràng buộc cả trăm mối với cuộc đời và ở mối nào cũng phải chính xác, chi tiết, cụ thể” [24, 29]. Vì vậy, trong một bài báo thường phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố theo quy tắc 5W + 1H, với: What? (Cái gì?), Who? (Ai?), Where? (Ở đâu?), When? (Khi nào?), Why? (Tại sao?) và How? (Như thế nào?).
Trong đó, 5W thường xuất hiện ở sa–pô, còn 1H sẽ được cụ thể hóa trong nội dung bài báo. Có một số quan niệm cho là nên có 6W, tức ngoài năm thành phần kể trên còn có thêm “With?” (sự kiện đó, sự việc đó còn liên quan đến ai, những ai?). Tính đại chúng Những người làm báo là làm công việc “viết cho người khác đọc, nói cho người khác nghe”. Chính vì vậy, khi bàn về tính đại chúng trong NNBC, nhà nghiên cứu NNBC người Nga V.
Kostomarov có nói: “NNBC phải thích ứng với mọi tầng lớp công chúng, sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất 15 cũng không cảm thấy chán và một em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy khó hiểu” [103]. Tính ngắn gọn Hãng tin Reuters có một tôn chỉ trong NNBC đó là “Ngắn, ngắn và ngắn!” (Short, short and short). Nếu tin, bài ngắn gọn, khi lên khuôn ban biên tập cũng đỡ công “sắc thuốc bắc” (từ nhà báo Vũ Đức Sao Biển dùng). Hay trong cuốn “Viết cho độc giả”, Loic Hervouet cũng cho rằng viết ngắn quả thực là một công việc mất nhiều thời gian và công sức như Pascal đã từng nói ở cuối một bức thư gửi cho bạn ông: “Xin lỗi vì tôi không có nhiều thì giờ để viết ngắn hơn”.
Trong bài báo “Ngôn ngữ báo chí Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh: truyền thống và hội nhập”, Nguyễn Đức Dân khẳng định tính ngắn gọn là một đặc trưng của báo chí Thành phố Hồ Chí Minh: “Vậy thì điều gì làm nên những đặc trưng của NNBC Thành phố Hồ Chí Minh? Trước hết vẫn là cách viết, viết câu ngắn và bài ngắn…”[16, 145]. Tính định lượng Đối với báo in, tính định lượng thể hiện ở số lượng từ trên một tin, bài. Với phát thanh, truyền hình thì thời lượng phát sóng sẽ quy định tính định lượng của một chương trình. Có điều, trong báo trực tuyến, tính định lượng nhiều khi được nới lỏng, tức là nhà báo có thể viết với dung lượng dồi dào hơn, đăng tải nhiều hình ảnh hơn.
Như vậy, tính chất này của NNBC giúp định hình cho nhà báo sự lựa chọn và chủ động trong sử dụng ngôn ngữ. Làm sao cho trong một không gian và thời gian nhất định, thông tin nhà báo đem đến cho độc giả, khán thính giả chính xác và trọn vẹn. Tính bình giá Bên cạnh việc tường thuật một cách khách quan sự việc, nhân vật vốn có thì nhà báo cũng cần đưa ra những nhận xét, đánh giá từ phía bản thân để làm nổi rõ hơn vấn đề. Không phải lúc nào đặc trưng này của NNBC cũng dễ nhận thấy.
Nhiều nhà báo thể hiện nó bằng lối diễn đạt hàm ẩn, ý ở ngoài lời, thường xuất hiện trong các thể loại như bình luận trào phúng, phiếm luận, tiểu phẩm,v.– những thể loại đậm chất hài hước, gây cười thâm thúy. Tính biểu cảm Đó là việc nhà báo sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, độc đáo, lối dẫn dắt vấn đề mới lạ, mang màu sắc cá nhân tinh tế; sử dụng nhuần nhuyễn các phương thức tu từ như trong ngôn ngữ văn chươnghay việc áp dụng một cách sáng tạo, tài tình kho tàng tục ngữ, ca dao; sử dụng các điển tích, điển cố, các hình ảnh rút ra từ các tác phẩm văn học nổi tiếng,v. vào tin, bài của mình. Trong các thể loại báo chí thông tấn như: tin ngắn, tin tổng hợp, PV, xã luận, v.
tính biểu cảm thường thể hiện có chăng là ở tiêu đềbài báo. Các tiêu đềgây ấn tượng với độc giả thường là tiêu đề“mượt mà”, đầy hình ảnh. Vận dụng một cách tinh tế những câu nói của cha ông ta ngày xưa (ThN, tục ngữ, ca dao, những bài thơ của các thi hào dân tộc, v.) tạo sự thu hút, hấp dẫn cho bài báo, để trong thời đại của thông tin thị trường nhưng “hồn tiếng”, “hồn dân” vẫn còn.