mở đầu tương tác bác sĩ - bệnh nhân”, (Tạp chí Ngôn ngữ - số 3 và 1992), “ Các hành vi giao tiếp kết thúc tương tác bác sĩ – bệnh nhân”(Hội nghị Khoa học Viện Ngôn ngữ học). Tác giả Nguyễn Văn Khang năm 1999 đã tiếp cận hội thoại từ góc nhìn Ngôn ngữ học xã hội.Trong chương 8 [52], tác giả đi sâu vào ba vấn đề chủ yếu của hội thoại là: cấu trúc hội thoại, chiến lược hội thoại và phong cách hội thoại. Từ bình diện ngôn ngữ học xã hội, tác giả đã dành nhiều thời gian để phân biệt năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp, những cấu trúc quan trọng dùng để biểu đạt lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ. Với tác giả Đỗ Kim Liên, năm 1999, cho ra đời cuốn “Ngữ nghĩa lời thoại” [56].
Nếu như các tác giả trước đây khi nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại thường xem xét câu hỏi, câu đáp một cách riêng lẻ thì lần đầu tiên, tác giả đã quan tâm nghiên cứu sự tương tác giữa câu hỏi – câu đáp từ bình diện ngữ nghĩa. Nếu như các tác giả trước đây khi nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại thường xem xét câu hỏi, câu đáp một cách riêng lẻ thì lần đầu tiên, tác giả đã quan tâm nghiên cứu sự tương tác giữa câu hỏi – câu đáp từ bình diện ngữ 10 nghĩa. Một điểm nữa là các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Khang trình bày các vấn đề và dẫn dụ được lấy từ nguyên mẫu lời nói thì tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã sử dụng các cuộc thoại trong tác phẩm văn học viết để soi sáng các vấn đề của Lý thuyết hội thoại. Năm 2005, tác giả Đỗ Thị Kim Liên tiếp tục công bố “Giáo trình Ngữ dụng học” [59.
Trong công trình này, những nội dung cập nhật của lý thuyết hội thoại tiếp tục được tác gỉa soi chiếu thông qua các tác phẩm văn học sau này. Kế thừa và phát triển thành tựu các bậc tiền bối, các thế hệ tiếp sau đã vận dụng Lý thuyết Hội thoại và các đơn vị hội thoại vào các nghiên cứu của mình. Tác giả Phạm Văn Thấu (2000) [88] lại đi sâu nghiên cứu cấu tạo của cặp thoại, các kiểu cấu trúc liên kết của cặp thoại bao gồm: liên kết phẳng, liên kết lồng, liên kết đối xứng và liên kết móc xích. Tác giả Mai Xuân Huy trong “Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý thuyết giao tiếp” [42] đã dành một phần trong Chương 3 để bàn về cấu trúc hội thoại quảng cáo, cặp thoại trong hội thoại quảng cáo và sự liên kết của các cặp thoại.
Ngoài 5 cấu trúc mà tác giả Phạm Văn Thấu đã đưa ra, Mai Xuân Huy còn bổ sung thêm kiểu liên kết đồng quy hay còn gọi là liên kết hướng tâm. Bên cạnh đó, lý thuyết hội thoại còn được quan tâm nghiên cứu dưới góc độ ứng dụng vào những phạm vi giao tiếp cụ thể như giao tiếp mua bán, giao tiếp đàm phán thương mại, hội thoại dạy học, hội thoại giữa tư vấn viên tổng đài và người gọi điện thoại tư vấn,… Đặc biệt, riêng bình diện hội thoại giữa người mua – người bán đã có tới gần sáu chục công trình đề cập đến vấn đề này như [71,72],…. Nhìn chung, các tác giả đã tập trung chủ yếu vào những vấn đề cụ thể của hội thoại và đã chỉ ra được cấu trúc cuộc thoại mua bán, các đặc điểm của hội thoại mua bán ở chợ và các đơn vị cấu trúc hội thoại. Điều đáng chu ý là tác giả Trần Thanh Vân đã đi sâu nghiên cứu những khác biệt về giới tính thể hiện qua cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp, từ đó hướng đến việc làm rõ các kiểu dạng hoạt động ngôn ngữ đặc thù mang đặc trưng văn hóa vùng biểu hiện trong ngôn ngữ hội thoại.
11 Ở bình diện ngôn ngữ hội thoại dạy học, có các công trình Quách Thị Gấm (2010) [23],Vũ Thị Thanh Hương (2004) [55], Nguyễn Thị Dung (2011) [15] Trần Thị Phượng (2015) [72]. Các công trình này đã đề cập khá đầy đủ đến các vấn đề của hội thoại dạy học như cặp thoại dạy học, vai trò của cặp thoại trong tổ chức của đoạn thoại và cuộc thoại, cấu trúc, chức năng của cặp thoại dạy học, bước thoại và năng lực giao tiếp của giảng viên, giáo viên, sinh viên, học viên, học sinh. Trên cơ sở những tri thức nền tảng lý thuyết hội thoại trong và ngoài nước, nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu, mở rộng việc vận dụng lý thuyết hội thoại vào thực tiễn giao tiếp hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn học, văn bản quản lý nhà nước,… Tuy nhiên, cho đến nay, ngôn ngữ hội thoại giao tiếp của cán bộ, nhân viên Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn là mảng đề tài để ngỏ cần được tiếp tục khám phá.Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong môi trường quân đội. Quân đội Nhân dân hơn bảy mươi năm xây dựng chiến đấu, trưởng thành mảng đề tài về lịch sử quân đội, về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, về anh bộ đội Cụ Hồ…được nhiều tác giả nghiên cứu.
Bên cạnh đó mảng đề tài về khoa học ngôn ngữ quân sự, theo tìm hiểu của chúng tôi đến nay có một số công trình nghiên cứu cụ thể như sau: Ngôn ngữ người lính được phân tích khá thú vị trong công trình “Văn học Việt Nam 1945 -1954”, tác giả Mã Giang Lân đánh giá tổng quát về tiến trình văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 và bước đầu phân tích về mảng đề tài người lính trong văn xuôi. Theo tác giả, người lính là những con người mà khi tiếp xúc cho người ta “một cảm giác lạ lùng ở trong người: Người dân quê bây giờ lạ lắm, họ không phải là người quê nữa, họ là những người giết được giặc, có một tình cảm mãnh liệt, đẹp đẽ” [dẫn theo 4. Đó có thể là một “Anh trung đội trưởng ra mệnh lệnh quan trọng bằng những lời nói ôn tồn thân mật và trở nên ngập ngừng khi nói đến quyết tâm trả thù cho đồng chí trung đội phó” [ dẫn theo 4.19 ] hay đó là người lính dù rất nhớ quê hương, 12 gia đình nhưng khi nhắc tới vẫn giữ “một giọng vui nghịch ngợm”, ưa sử dụng “những thành ngữ, lối ví von, những hình ảnh tạo nên sắc thái riêng” [ dẫn theo 4. Các tác giả Hà Minh Đức, Trần Khánh Thành (2003), Nguyễn Đình Thi – tác giả và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục có giới thiệu bài viết của Nguyễn Xuân Nam “ Đọc những tiểu thuyết viết về quân đội của Nguyễn Đình Thi ”,… Như vậy, từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu bước đầu xem xét, đánh giá ngôn ngữ người lính trong văn bản như một thủ pháp khắc họa nhân vật.
Ở góc độ ngôn ngữ học tâm lý, các nhà khoa học khi nghiên cứu về người lính đã chú trọng đi sâu vào mục đích chức năng ngôn ngữ của người cán bộ chỉ huy.Tác giả Nhữ văn Thao cho rằng : “Cán bộ chỉ huy, cán bộ lãnh đạo, bên cạnh ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày như mọi quân nhân còn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ chỉ huy và ngôn ngữ tuyên truyền giáo dục” [84. Ngôn ngữ giao tiếp được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt và hoạt động của mỗi cán bộ chỉ huy. Nó ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống và hoạt động của các quân nhân, đặc biệt trong quan hệ đối xử với nhau để trao đổi tình cảm, tăng cường hiểu biết, động viên cổ vũ lẫn nhau.‘Ngôn ngữ giao tiếp của cán bộ chỉ huy trở thành phương tiện có hiệu quả để điều chỉnh tâm lý, hành vi cấp dưới’ [ 84. Vai trò, vị trí của việc phát triển vốn ngôn ngữ trong tập thể người lính cũng được các tác giả quan tâm và cho rằng: “Để phát triển trình độ ngôn ngữ cho quân nhân, trong hoạt động quân sự cần tăng cường hoạt động, giao tiếp giữa các quân nhân trong đơn vị: thường xuyên trau dồi thuật ngữ chuyên môn, nắm vững các quy tắc ngữ pháp để phát triển trình độ ngôn ngữ nói và viết; nâng cao trình độ ngôn ngữ thông qua đài, báo, tạp chí và các bài nói, viết của các lãnh đạo; phát huy tính tích cực của bản thân trong học tập, rèn luyện nâng cao trình độ ngôn ngữ” [ 84.
Đặc biệt về góc độ giao tiếp có công trình khoa học: “Những vấn đề cơ bản của tâm lý học xã hội, tâm lý học tập thể cơ sở quân nhân”, tác giả Hoàng 13 Đình Châu (1998), “Tâm lý học quân sự”, và công trình “Giao tiếp của bác sĩ Quân y với người bệnh” của tác giả Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà [35]. Coi thuật ngữ quân sự là một mảng của thuật ngữ, các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu hệ thống thuật ngữ quân sự, xây dựng từ điển thuật ngữ quân sự, từ điển bách khoa quân sự và so sánh, đối chiếu thuật ngữ quân sự tiếng Việt với các ngôn ngữ khác. Có thể điểm qua một số công trình thuộc hướng nghiên cứu này: Vũ Quang Hào (1994), “Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt”; Bộ Quốc Phòng (1996), “ Từ điển bách khoa quân sự”, Nguyễn Quỳnh Nga (2002), “Khảo sát đặc điểm thuật ngữ quân sự trong phạm vi quân chế tiếng Hán và tiếng Việt tương đương”; Nguyễn Văn Khánh (2013), “Nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ quân sự giữa tiếng Anh và tiếng Việt”… Về cơ bản, các công trình nói trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu từ loại (thuật ngữ) chưa quan tâm đến toàn bộ hệ thống ngôn ngữ mà người lính sử dụng. Vấn đề nghiên cứu liên quan đến Lý thuyết Hội thoại qua tư liệu là các tác phẩm văn học được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: “Xưng hô trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán”, của tác giả Phạm Thị Hạnh phân tích các từ xưng hô theo hai mặt: hình thức và chức năng.
Ở phạm vi chức năng của từ xưng hô, tác giả phân tích các từ ngữ xưng hô theo hướng: từ ngữ chuyên dụng, từ ngữ lâm thời; lý giải các nhân tố tác động đến việc định vai giao tiếp và lựa chọn từ xưng hô như: mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp,… Tuy nhiên, tác giả mới xem xét đặc điểm xưng hô, chưa quan tâm đến đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp của người chiến sĩ ở tác phẩm “Tuổi thơ dữ dội”.