Tổng quan luận án

Đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp của Quân đội Nhân dân Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Trọng Khánh, bảo vệ năm 2020 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9 22 90 20).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dưới góc độ của Ngữ dụng học và Lý thuyết Hội thoại, ngôn ngữ giao tiếp phản ánh cách thức ứng xử, quan hệ liên nhân và chuẩn mực văn hóa của các nhóm xã hội. Đối với tiếng Việt, cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hội thoại mang tính đa dạng, linh hoạt và phụ thuộc chặt chẽ vào ngữ cảnh văn hóa - xã hội. Trong môi trường Quân đội Nhân dân Việt Nam, ngôn ngữ hội thoại thể hiện sự đan xen giữa tính khuôn mẫu, chuẩn mực nghiêm ngặt theo các quy định của điều lệnh quân đội và tính linh hoạt trong các hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất ngành nghề chuyên biệt như y tế hay tài chính ngân hàng.

Mặc dù Ngữ dụng học và Lý thuyết Hội thoại đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước ứng dụng vào các lĩnh vực như giao tiếp dạy học, mua bán hay văn học, việc nghiên cứu có hệ thống về ngôn ngữ hội thoại tiếng Việt trong môi trường quân đội hầu như chưa được thực hiện. Trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên quân đội có phẩm chất và năng lực toàn diện, việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp đạt hiệu quả cao trong công tác, huấn luyện và học tập trở thành nhu cầu thiết thực. Do đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại quân đội góp phần giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp của quân đội dưới ánh sáng Ngữ dụng học, hướng tới việc góp phần chuẩn hóa ngôn ngữ và nâng cao hiệu quả giao tiếp trong học tập, huấn luyện và công tác của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài và các vấn đề lý luận được chọn làm cơ sở cho định hướng nghiên cứu.
  2. Thu thập, xử lý ngữ liệu gồm các cuộc thoại ghi chép, ghi âm trong ba hoàn cảnh giao tiếp được lựa chọn để thống kê, phân loại theo các tiêu chí xác định.
  3. Phân tích, miêu tả các đơn vị hội thoại trong giao tiếp; chỉ ra chức năng của các hành vi ngôn ngữ thường dùng và tính tương tác của chúng trong hội thoại giao tiếp quân đội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong giao tiếp ở các đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam, được cụ thể hóa qua 150 cuộc thoại khảo sát thực tế.
  • Phạm vi không gian: Luận án lựa chọn khảo sát tại ba thoại trường thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội:
    1. Các cuộc thoại thi vấn đáp tốt nghiệp tại thao trường và giảng đường của Trường Sĩ quan Lục quân 1 (Thị xã Sơn Tây, Hà Nội);
    2. Các cuộc thoại trong khám chữa bệnh tại các phòng khám của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội);
    3. Các cuộc thoại giao dịch tại một số chi nhánh và phòng giao dịch của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (Hà Nội).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các đơn vị tham gia cấu tạo cuộc thoại (cặp thoại, lượt lời, tham thoại), các hành vi ngôn ngữ thường gặp và nguyên tắc lịch sự giao tiếp trong khuôn khổ Lý thuyết Hội thoại.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018; xử lý và bổ sung ngữ liệu từ tháng 12/2015 đến tháng 9/2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu hội thoại trên thế giới

Tác giả luận án điểm lại các mốc phát triển chính của lý thuyết phân tích hội thoại (Conversation Analysis - CA) ở nước ngoài:

  • Thuật ngữ phân tích hội thoại xuất hiện sớm nhất trong công trình của Erving Goffman và Harold Garfinkel, đặt nền móng từ phương pháp luận dân tộc học (ethnomethodology) và quan điểm về trật tự tương tác xã hội.
  • Vào thập niên 1970, Harvey Sacks cùng các cộng sự Emanuel A. Schegloff và Gail Jefferson đã đưa phân tích hội thoại trở thành một lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc hoạt động giao tiếp độc lập (Lerner, 2004; Clayman và Maynard, 1995).
  • Về lý thuyết dụng học và hội thoại, H.P. Grice (1975) trong tác phẩm Logic and Conversation đã đề xuất nguyên lý cộng tác, tương tác hội thoại và phương diện liên kết hội thoại. G. Yule (1986) nghiên cứu nguyên tắc cộng tác, hàm ý hội thoại và cấu trúc ưa chuộng. C. Kerbrat-Orecchioni phát triển các mô hình phân tích tương tác ngôn từ.
  • Các nghiên cứu hội thoại thể chế chuyên biệt được thực hiện bởi Drew và Heritage (1992); Atkinson và Drew (1979) về đối thoại; Whalen và Zimmerman (1990) về cuộc gọi khẩn cấp; Boden (1994) về cuộc họp; Maynard (2003) về thông báo tin tức lâm sàng; Bergmann (1993) về tin đồn; Charles Goodwin (2000), Heath và Luff (2000) về tổ chức hành vi tương tác tại nơi làm việc; Anthony Liddicoat (2007) và Robin Wooffitt (2005) về lý luận đại cương phân tích hội thoại.

Các hướng nghiên cứu hội thoại tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các công trình tiêu biểu vận dụng lý thuyết hội thoại bao gồm:

  • Diệp Quang Ban (2009) trong Giao tiếp diễn ngôn và Cấu tạo văn bản luận giải về công cụ phân tích hội thoại từ thực tế giao tiếp.
  • Đỗ Hữu Châu với Đại cương Ngôn ngữ học Tập 2 (1993, 2002) và Cơ sở ngữ dụng học (2003) là người đặt nền móng giới thiệu cấu trúc, quy tắc, thương lượng và chức năng của các đơn vị hội thoại.
  • Nguyễn Đức Dân (1998) trong Ngữ dụng học phân tích cấu trúc hội thoại, nguyên lý hội thoại và phép lịch sự.
  • Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong Dụng học Việt ngữ trình bày cấu trúc hội thoại, lời ướm, nguyên tắc hợp tác và chiến lược giao tiếp.
  • Nguyễn Văn Khang (1999) tiếp cận hội thoại từ ngôn ngữ học xã hội, phân biệt năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp.
  • Đỗ Thị Kim Liên (1999, 2005) trong Ngữ nghĩa lời thoại và Giáo trình Ngữ dụng học khảo sát quan hệ hỏi - đáp qua ngữ liệu văn học.
  • Phạm Văn Thấu (2000) nghiên cứu cấu tạo và 4 kiểu liên kết cặp thoại (phẳng, lồng, đối xứng, móc xích); Mai Xuân Huy (2000) bổ sung kiểu liên kết đồng quy (hướng tâm) trong ngôn ngữ quảng cáo.
  • Các nghiên cứu hội thoại trong bối cảnh giao tiếp cụ thể: Trần Thanh Vân nghiên cứu hội thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp; Quách Thị Gấm (2010), Vũ Thị Thanh Hương (2004), Nguyễn Thị Dung (2011), Trần Thị Phượng (2015) nghiên cứu hội thoại dạy học.

Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong môi trường quân đội

Các công trình liên quan đến người lính và ngôn ngữ quân đội được luận án tổng thuật qua nhiều góc độ:

  • Góc độ văn học và phong cách: Mã Giang Lân trong Văn học Việt Nam 1945-1954 phân tích lời nói người lính; Hà Minh Đức, Trần Khánh Thành (2003), Nguyễn Xuân Nam khảo sát văn xuôi quân đội của Nguyễn Đình Thi; Tô Thị Phương Lan (1995), Nguyễn Thị Thu Trang (2014); Phạm Thị Hạnh nghiên cứu xưng hô trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán.
  • Góc độ tâm lý học và chỉ huy quân sự: Nhữ Văn Thao phân tích ngôn ngữ chỉ huy và tuyên truyền giáo dục của cán bộ chỉ huy; Hoàng Đình Châu (1998) nghiên cứu tâm lý học quân sự; Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu giao tiếp của bác sĩ quân y với người bệnh.
  • Góc độ thuật ngữ quân sự: Vũ Quang Hào (1994), Bộ Quốc phòng (1996 - Từ điển bách khoa quân sự), Nguyễn Quỳnh Nga (2002), Nguyễn Văn Khánh (2013) nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ quân sự.
  • Góc độ giao tiếp và hội thoại quân sự: Nguyễn Thị Dung (2011) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp ở trường đại học quân sự; bài viết của Sơn Hà (2010), Đinh Thị Thủy Bình (2010) trên Báo Quân đội Nhân dân về văn hóa chào hỏi và kỹ năng giao tiếp; Nguyễn Thị Hồng Chuyên nghiên cứu vai giao tiếp của người lính thời kỳ chống Pháp.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét ngôn ngữ quân sự dưới dạng thuật ngữ, từ loại hoặc miêu tả ngôn ngữ người lính như một thủ pháp văn học, hay nghiên cứu tâm lý chỉ huy đơn thuần. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Khảo sát và miêu tả toàn diện, có hệ thống đặc điểm ngôn ngữ hội thoại tiếng Việt trong môi trường Quân đội Nhân dân Việt Nam dựa trên khung lý thuyết Ngữ dụng học và Lý thuyết Hội thoại, thông qua ba thoại trường thực tế mang các tính chất giao tiếp khác nhau.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

1. Khái niệm giao tiếp và chức năng ngôn ngữ

Luận án tiếp cận khái niệm giao tiếp theo quan điểm của Berge (1994) và đưa ra định nghĩa làm việc: "Giao tiếp được hiểu là sự trao đổi thông tin qua lại bằng lời nói giữa ít nhất hai người với những thông điệp bằng ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định". Giao tiếp thực hiện hai chức năng chính:

  • Chức năng giao dịch (transactional function): Diễn đạt kinh nghiệm, nội dung sự việc và các mệnh đề.
  • Chức năng liên nhân (interpersonal function): Diễn đạt quan hệ xã hội, thái độ của cá nhân và thiết lập sự tương tác.

Về năng lực giao tiếp (communicative competence), luận án dựa trên mô hình của Canale và Swain (1980) gồm 4 thành tố: năng lực ngữ pháp, năng lực xã hội, năng lực diễn ngôn và năng lực chiến lược; cùng quan điểm của Savignon (1997) về sự kết hợp kiến thức ngôn ngữ học và quy tắc ngôn ngữ học xã hội trong tương tác thực tế.

2. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ

  • Quan điểm của J.L. Austin (1962): Phân biệt phát ngôn tường thuật (constative) và phát ngôn ngôn hành (performative); phân biệt phát ngôn ngôn hành tường minh và nguyên cấp; mô hình ba hành vi đồng thời: hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi tại lời (illocutionary act) và hành vi mượn lời (perlocutionary act); các điều kiện thỏa đáng (felicity conditions).
  • Quan điểm của J.R. Searle: Hệ thống 4 điều kiện sử dụng hành vi tại lời gồm: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản; phân loại các lớp hành vi ngôn ngữ (xác nhận, chi phối, cam kết, tuyên bố, biểu cảm).
  • Quan điểm của Cao Xuân Hạo: Phân biệt giữa tình thái của hành động phát ngôn (thuộc mục tiêu, tác dụng giao tiếp như trần thuật, hỏi, cầu khiến) và tình thái của lời phát ngôn (thái độ đối với nội dung mệnh đề, gồm tình thái câu và tình thái cấu trúc vị ngữ hạt nhân).

3. Lý thuyết hội thoại và các đơn vị hội thoại

Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản dạng song thoại (dialogue) hoặc đa thoại (polylogue). Cấu trúc hội thoại được nhìn nhận qua hai trường phái:

  • Trường phái phân tích hội thoại Mỹ: Đơn vị cơ sở là lượt lời (turn at talk), quyền được nói (floor), việc nhận lượt lời (turn-taking), hệ thống điều hành cục bộ (local management system), cặp kế cận (adjacency pair), cặp chêm xen và cấu trúc được ưa chuộng (preference organization).
  • Trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ - Pháp (Trường phái Genève): Phân cấp cấu trúc gồm Cuộc thoại (interaction) -> Đoạn thoại (sequence) -> Cặp thoại (exchange) -> Tham thoại (intervention/move) -> Hành vi ngôn ngữ (speech act). Cấu trúc tham thoại gồm hành vi chủ hướng (CH - directeur) và hành vi phụ thuộc (PT - subordonnés).
  • Ba vận động hội thoại cơ bản: Sự trao lời (allocution), sự trao đáp (exchange) và sự tương tác hội thoại (interaction).

4. Lý thuyết lịch sự

  • Lịch sự chiến lược phương Tây: Brown và Levinson (1987) xây dựng lý thuyết dựa trên khái niệm thể diện (face) của E. Goffman, gồm thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face); các hành vi đe dọa thể diện (FTA - Face Threatening Acts) và các chiến lược lịch sự âm tính/dương tính tương ứng; các nhân tố chi phối như khoảng cách xã hội (D), quyền lực (P) và mức độ áp đặt (R).
  • Lịch sự chuẩn mực phương Đông: Quan điểm của Gu, Matsumoto, Ide coi lịch sự là hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực xã hội, tôn trọng thứ bậc, tuổi tác, địa vị.
  • Lịch sự trong tiếng Việt: Vũ Thị Thanh Hương tích hợp cả hai bình diện chiến lược và chuẩn mực.
  • Lịch sự trong môi trường quân đội: Tuân thủ Điều lệnh Quản lý bộ đội Quân đội Nhân dân Việt Nam: Điều 37 quy định về xưng hô ("Đồng chí" - "Tôi", cấp trên gọi là "Thủ trưởng", nghe gọi trả lời "Có", nhận lệnh trả lời "Rõ") và Điều 40 quy định về chào, báo cáo (khi báo cáo xong phải nói "Hết").

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích các cuộc thoại trong mối quan hệ với ngữ cảnh, quan hệ liên nhân và quan hệ tương tác; chỉ ra cấu trúc lời thoại, cặp thoại, tham thoại của các thoại nhân.
  2. Phương pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội: Khảo sát thực tế, thu thập ngữ liệu tự nhiên bằng phương tiện ghi chép, ghi âm và chụp ảnh tại các đơn vị quân đội.
  3. Phương pháp miêu tả: Phân tích và tổng hợp để xác định đặc điểm, vai trò, cấu trúc và chức năng của từng kiểu đơn vị hội thoại.
  4. Thủ pháp thống kê: Định lượng tần suất xuất hiện của các đơn vị cấu tạo cuộc thoại, lượt lời, tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đáp, hành vi chủ hướng, hành vi phụ thuộc, câu hỏi trực tiếp và gián tiếp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát

Ngữ liệu của luận án gồm 150 cuộc thoại sơ cấp được thu thập tại ba thoại trường:

Thoại trường khảo sát Địa bàn hành chính Số lượng cuộc thoại Thoại nhân chính Tính chất và tư cách giao tiếp
Trường Sĩ quan Lục quân 1 Thị xã Sơn Tây, Hà Nội 50 cuộc thoại Giảng viên (GV) - Học viên (HV) Thi vấn đáp tốt nghiệp; giao tiếp với tư cách quân nhân, mang tính quy thức và điều lệnh cao.
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 50 cuộc thoại Bác sĩ (BS) - Bệnh nhân (BN) Khám chữa bệnh; giao tiếp chuyên ngành y khoa, thoại nhân có thể là quân nhân hoặc người dân.
Chi nhánh Ngân hàng Quân đội Thành phố Hà Nội 50 cuộc thoại Nhân viên (NV) - Khách hàng (KH) Giao dịch tài chính; giao tiếp hành chính - dịch vụ thương mại, thoại nhân giao tiếp không mang tư cách quân nhân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về hội thoại và ngôn ngữ quân đội trong và ngoài nước; đồng thời xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết làm công cụ nghiên cứu cho toàn bộ luận án:

  • Phân tích quá trình phát triển của lý thuyết phân tích hội thoại từ dân tộc học phương pháp luận đến các trường phái phân tích diễn ngôn hiện đại.
  • Tổng thuật chi tiết các hướng tiếp cận ngôn ngữ người lính tại Việt Nam từ góc độ văn học, phong cách học, tâm lý học quân sự, từ điển thuật ngữ đến giao tiếp học.
  • Trình bày hệ thống các khái niệm cốt lõi: bản chất giao tiếp (chức năng giao dịch và liên nhân), lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Austin, Searle, Cao Xuân Hạo), lý thuyết hội thoại (cấu trúc cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, lượt lời, vận động trao - đáp) và lý thuyết lịch sự (lịch sự chiến lược của Brown & Levinson, lịch sự chuẩn mực phương Đông, lịch sự người Việt và các điều khoản xưng hô, chào báo cáo trong Điều lệnh Quản lý bộ đội).

Chương 2: Ngôn ngữ hội thoại trong giao tiếp Quân đội Nhân dân Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích các đặc điểm tương tác hội thoại, cơ chế điều hành lượt lời và cấu trúc tham thoại trong giao tiếp quân đội:

  • Tương tác hội thoại và quyền được nói: Phân tích quyền được nói (floor) và cơ chế nhận lượt lời (turn-taking) dưới sự chi phối của hệ thống điều hành cục bộ (local management system). Trong ngữ cảnh thi vấn đáp quân sự, quyền điều hành lượt lời thuộc về giảng viên với tính chất áp đặt theo nghi thức; trong khi ở bệnh viện và ngân hàng, sự phân phối lượt lời linh hoạt hơn dựa trên nhu cầu của bệnh nhân và khách hàng.
  • Chỗ ngừng, hiện tượng gối đầu và kênh phản hồi: Phân tích các điểm chuyển tiếp lượt lời, chỗ ngừng ngắt lời nhằm duy trì tính chuẩn mực hoặc thương lượng thông tin; các hiện tượng nói chen/gối đầu và việc sử dụng các tín hiệu phản hồi (back-channel) để duy trì mạch hội thoại.
  • Cấu trúc lượt lời và tham thoại: Khảo sát mối quan hệ giữa lượt lời và cấu tạo tham thoại theo mô hình hành vi chủ hướng (CH) và hành vi phụ thuộc (PT).
  • Các hành vi ngôn ngữ trong tham thoại:
    • Hành vi Chào - Chào: Thể hiện tính quy ước điều lệnh trong thi vấn đáp (HV báo cáo, GV chào đáp/công nhận) và tính lịch sự dịch vụ trong giao dịch ngân hàng, khám bệnh.
    • Hành vi Hỏi - Trả lời: Chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất trong cả ba thoại trường, phục vụ mục đích kiểm tra kiến thức, chẩn đoán bệnh lý hoặc xác định nhu cầu giao dịch tài chính.
    • Hành vi Mệnh lệnh - Thực hiện mệnh lệnh: Thể hiện rõ nét quan hệ quyền lực chỉ huy - phục tùng trong bối cảnh quân sự chính quy ("Đồng chí chuyển sang câu 2", "Báo cáo thực hiện").
    • Hành vi Trần thuật - Trần thuật: Dùng để cung cấp thông tin, giải thích quy trình, trình bày triệu chứng hoặc điều khoản dịch vụ.

Chương 3: Cặp thoại trong giao tiếp Quân đội Nhân dân Việt Nam

Chương 3 miêu tả chi tiết cấu trúc, chức năng của cặp thoại và các quy luật vận động hội thoại:

  • Cặp thoại thi vấn đáp tốt nghiệp: Mang tính khuôn mẫu chặt chẽ với cấu trúc 3 phần rõ rệt (mở thoại, thân thoại, kết thoại). Cặp thoại mở đầu luôn gắn liền với nghi thức quân sự (báo cáo, nhận lệnh bốc đề); các cặp thoại thân thoại xoay quanh trục hỏi - đáp chuyên môn quân sự giữa vai cao (GV) và vai thấp (HV); cặp thoại kết thúc là mệnh lệnh bàn giao hoặc công bố kết thúc phần thi.
  • Cặp thoại khám chữa bệnh: Cấu trúc gồm phần mở thoại và kết thoại rõ nét, ranh giới thân thoại linh hoạt theo tiến trình khám bệnh. Cặp thoại tập trung vào cấu trúc hỏi - đáp y khoa (triệu chứng, tiền sử) và hành vi hướng dẫn/khuyên bảo của bác sĩ đối với bệnh nhân.
  • Cặp thoại giao dịch ngân hàng: Tuân thủ quy trình chuẩn hóa của ngành dịch vụ tài chính, mở đầu bằng lời chào/hỏi nhu cầu, thân thoại xử lý nghiệp vụ tài chính, kết thúc bằng lời cảm ơn và chào tạm biệt.
  • Vận động hội thoại và tín hiệu điều hành: Phân tích sự vận động trao lời (allocution) và trao đáp (exchange). Lời trao luôn đóng vai trò dẫn nhập định hướng ngữ nghĩa, lời đáp hồi ứng trực tiếp vào trọng tâm thông tin. Hệ thống tín hiệu điều hành vận động trao - đáp phản ánh trật tự tương tác và quan hệ vai xã hội của các nhân vật giao tiếp.

Chương 4: Lịch sự trong giao tiếp Quân đội Nhân dân Việt Nam

Chương 4 khảo sát các chiến lược thể hiện tính lịch sự trong ngôn ngữ giao tiếp quân đội:

  • Các nhân tố chi phối chiến lược lịch sự: Phân tích tác động của khoảng cách xã hội (D), quan hệ quyền lực (P) và tính chất pháp quy của thoại trường. Trong thi vấn đáp, lịch sự chuẩn mực theo điều lệnh chiếm ưu thế tuyệt đối; trong bệnh viện và ngân hàng có sự kết hợp linh hoạt giữa lịch sự chuẩn mực và lịch sự chiến lược.
  • Phương tiện hỗ trợ hành vi ngôn ngữ: Khảo sát cách sử dụng các phương tiện ngữ dụng hỗ trợ trong các hành vi hỏi, bày tỏ, hứa hẹn, cảm thán và xin lỗi nhằm giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện (FTA).
  • Dấu hiệu từ vựng - tình thái và từ ngữ xưng hô:
    • Hệ thống từ ngữ xưng hô trong thi vấn đáp tuân thủ quy tắc "Đồng chí - Tôi", danh xưng chức vụ/cấp bậc.
    • Trong bệnh viện và ngân hàng, đại từ xưng hô được chuyển đổi linh hoạt theo quan hệ thân tộc xã hội của người Việt ("bác sĩ - cháu/tôi", "em - anh/chị/bác") nhằm rút ngắn khoảng cách giao tiếp.
  • Lịch sự trong hành vi hồi đáp: Xác định cơ sở đánh giá tính lịch sự và miêu tả các chiến lược hồi đáp (đồng tình, hợp tác, tiếp nhận mệnh lệnh, từ chối gián tiếp) của quân nhân và các đối tác hội thoại. Ghi nhận tỷ lệ cao khách hàng và bệnh nhân sử dụng lời cảm ơn sau khi hoàn thành tương tác.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần làm phong phú thêm cho Ngữ dụng học và Lý thuyết Hội thoại tiếng Việt khi vận dụng các lý thuyết này vào việc nghiên cứu một đối tượng chuyên biệt là giao tiếp trong các cơ quan, đơn vị do quân đội quản lý.
  2. Làm rõ hơn các quy luật vận động hội thoại, cơ chế luân phiên lượt lời, cấu trúc cặp thoại và cấu trúc tham thoại trong các ngữ cảnh giao tiếp chịu sự chi phối đồng thời của quy tắc ngôn ngữ học xã hội và quy định điều lệnh quân sự.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Chỉ ra những đặc trưng cơ bản và xác định các mô hình cuộc thoại thực tế tại ba thoại trường đại diện cho ba lĩnh vực hoạt động trong quân đội: đào tạo quân sự chính quy (Trường Sĩ quan Lục quân 1), y tế quân y (Bệnh viện 108) và dịch vụ tài chính quân đội (Ngân hàng Quân đội).
  2. Hệ thống hóa các chiến lược giao tiếp và chiến lược lịch sự mà thoại nhân thường sử dụng, hướng đến tính chuẩn mực và hiệu quả trong ứng xử giao tiếp quân đội.
  3. Cung cấp nguồn tư liệu ngữ liệu thực tế phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng các chuyên đề, chương trình bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp trong công tác giáo dục, huấn luyện của cán bộ, nhân viên, học viên Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp và lễ tiết tác phong cho cán bộ, học viên, sĩ quan trẻ nhằm nâng cao sự tự tin và chuẩn mực ngôn ngữ trong công tác.
  • Kết hợp hài hòa giữa việc chấp hành nghiêm túc Điều lệnh Quản lý bộ đội với tính mềm dẻo, linh hoạt của văn hóa giao tiếp tiếng Việt trong các thoại trường chuyên môn như y tế quân y và dịch vụ khách hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Ngữ liệu khảo sát giới hạn trong 150 cuộc thoại tại ba thoại trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội, chưa bao quát hết các cơ quan, đơn vị quân đội thuộc các địa bàn và quân binh chủng khác trên toàn quốc.
  • Luận án chỉ tập trung vào hình thức song thoại (giao tiếp giữa hai đối tượng), chưa khảo sát các hình thức đa thoại phức tạp trong môi trường quân sự như hội nghị, tọa đàm hay giao ban tác chiến.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các bình diện cấu trúc hội thoại, cặp thoại, tham thoại và phép lịch sự, chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, ánh mắt, tư thế tác phong quân nhân) đi kèm lời thoại.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các đơn vị quân đội dã ngoại, đơn vị chiến đấu và các vùng miền văn hóa khác nhau để so sánh đặc điểm phương ngữ và phong cách giao tiếp quân sự.
  • Nghiên cứu các dạng tương tác đa thoại trong chỉ huy quân sự và sinh hoạt tập thể quân nhân.
  • Nghiên cứu sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ theo yêu cầu của điều lệnh quân đội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học và Việt ngữ học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận phân tích diễn ngôn và ứng dụng lý thuyết hội thoại vào các kiểu giao tiếp thể chế (institutional discourse).
  • Đối với giảng viên và cán bộ quản lý tại các học viện, nhà trường quân đội: Cung cấp cơ sở khoa học để biên soạn giáo trình, bài giảng về kỹ năng giao tiếp quân sự, văn hóa ứng xử của người quân nhân cách mạng.
  • Đối với đội ngũ y bác sĩ quân y và nhân viên các doanh nghiệp quân đội: Cung cấp khung tham chiếu về các chiến lược lịch sự và mô hình giao tiếp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả công tác chuyên môn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát ngữ liệu tại những địa điểm cụ thể nào và số lượng là bao nhiêu?

Luận án khảo sát tổng cộng 150 cuộc thoại tại ba địa điểm trên địa bàn Thành phố Hà Nội:

  • 50 cuộc thoại thi vấn đáp tốt nghiệp tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 (Thị xã Sơn Tây);
  • 50 cuộc thoại khám chữa bệnh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Quận Hai Bà Trưng);
  • 50 cuộc thoại giao dịch tại một số chi nhánh của Ngân hàng Quân đội Hà Nội.

2. Dữ liệu nghiên cứu của luận án được thu thập và xử lý trong khoảng thời gian nào?

Nguồn dữ liệu sơ cấp được tác giả thu thập thực tế trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2018; công tác xử lý và bổ sung ngữ liệu được tiến hành từ tháng 12/2015 đến tháng 9/2019.

3. Cấu trúc tham thoại theo trường phái Genève được luận án áp dụng gồm những thành phần nào?

Theo trường phái Genève được luận án kế thừa, tham thoại là đơn vị đơn thoại được cấu thành từ hai thành phần chính:

  • Hành vi chủ hướng (directeur - CH): Đóng vai trò cốt lõi, quyết định đích giao tiếp của tham thoại và kết hợp với tham thoại khác tạo thành cặp thoại kế cận.
  • Hành vi phụ thuộc (subordonnés - PT): Đóng vai trò làm rõ lý do hoặc bổ sung ý nghĩa cho hành vi chủ hướng.

4. Những điều khoản nào trong Điều lệnh Quản lý bộ đội được luận án trích dẫn làm cơ sở cho lịch sự chuẩn mực trong quân đội?

Luận án trích dẫn hai điều khoản thuộc Chương III (Lễ tiết tác phong Quân nhân) của Điều lệnh Quản lý bộ đội Quân đội Nhân dân Việt Nam:

  • Điều 37 (Xưng hô): Quy định quân nhân gọi nhau bằng "Đồng chí", xưng "Tôi"; gọi cấp trên là "Thủ trưởng"; khi được gọi tên phải đáp "Có"; khi nhận lệnh phải đáp "Rõ".
  • Điều 40 (Chào, báo cáo): Quy định quân nhân trực tiếp báo cáo phải chào, tự giới thiệu họ tên, chức vụ, đơn vị và khi báo cáo xong nội dung phải nói "Hết".

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung đã khảo sát có hệ thống đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong môi trường Quân đội Nhân dân Việt Nam dựa trên khung lý thuyết Ngữ dụng học và Phân tích Hội thoại. Thông qua 150 cuộc thoại tại ba thoại trường tiêu biểu (Trường Sĩ quan Lục quân 1, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Ngân hàng Quân đội), công trình đã miêu tả chi tiết cấu trúc lượt lời, tham thoại, cặp thoại và các chiến lược lịch sự đặc thù. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ sự kết hợp giữa tính quy chuẩn điều lệnh quân sự và tính linh hoạt trong giao tiếp chuyên ngành, đóng góp tư liệu thực tiễn cho việc chuẩn hóa và nâng cao kỹ năng giao tiếp của cán bộ, chiến sĩ quân đội.