Luận văn thạc sĩ: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng

Luận văn thạc sĩ phân tích đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng, làm rõ phong cách và giá trị văn học độc đáo của tác giả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2010

102
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng

Nghệ thuật truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám được đánh giá là một trong những đóng góp quan trọng cho văn học hiện đại Việt Nam. Tô Hoài đã tạo dựng một phong cách sáng tác độc đáo, kết hợp giữa nghệ thuật kể chuyện hóm hỉnh và khả năng quan sát tinh tế. Các tác phẩm văn học của ông phản ánh chân thực cuộc sống của người dân quê, đặc biệt là những người nông dân và thợ thủ công. Truyện ngắn trước 1945 của Tô Hoài không chỉ mang tính hiện thực mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc.

1.1. Phong cách sáng tác

Phong cách sáng tác của Tô Hoài được thể hiện qua cách ông xây dựng nhân vật và tình huống truyện. Nhân vật trong truyện ngắn của ông thường gắn liền với môi trường lao động và sinh hoạt hàng ngày. Tô Hoài chú trọng miêu tả ngoại hình, hành động và lời nói của nhân vật, tạo nên những hình tượng sống động. Ông cũng sử dụng nhiều chi tiết về phong tục và hình ảnh so sánh đặc sắc để làm nổi bật tính cách nhân vật.

1.2. Nghệ thuật kể chuyện

Nghệ thuật kể chuyện của Tô Hoài mang đậm chất dân gian, với giọng điệu dí dỏm và hóm hỉnh. Ông thường sử dụng ngôn ngữ dân giã, gần gũi với đời sống của người dân quê. Các truyện ngắn của ông thường có kết cấu đơn giản nhưng chứa đựng nhiều tình huống bất ngờ, tạo sự hấp dẫn cho người đọc. Truyện ngắn Việt Nam trước 1945 dưới ngòi bút của Tô Hoài đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn học cách mạng.

II. Đặc điểm văn học Tô Hoài trước 1945

Đặc điểm văn học của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám được thể hiện qua cách ông phản ánh hiện thực xã hội và xây dựng nhân vật. Các tác phẩm văn học của ông thường tập trung vào cuộc sống của người dân quê, với những lo toan, vất vả trong cuộc sống hàng ngày. Tô Hoài đã sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình và giọng điệu trần thuật đa dạng để làm nổi bật những đặc điểm của nhân vật và tình huống truyện.

2.1. Hiện thực xã hội

Hiện thực xã hội trong truyện ngắn Tô Hoài trước 1945 được phản ánh một cách chân thực và sâu sắc. Ông tập trung miêu tả cuộc sống của những người nông dân, thợ thủ công và trí thức trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Các nhân vật của ông thường phải đối mặt với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, nhưng vẫn giữ được tinh thần lạc quan và tình yêu thương con người.

2.2. Xây dựng nhân vật

Xây dựng nhân vật là một trong những điểm nổi bật trong truyện ngắn Tô Hoài. Ông thường xây dựng nhân vật dựa trên những chi tiết về phong tục và sinh hoạt hàng ngày. Nhân vật của ông được miêu tả một cách sinh động, với những nét đặc trưng về ngoại hình, hành động và lời nói. Tô Hoài cũng sử dụng nhiều hình ảnh so sánh đặc sắc để làm nổi bật tính cách nhân vật, tạo nên những hình tượng đáng nhớ trong lòng người đọc.

III. Giá trị và ứng dụng của luận văn

Luận văn thạc sĩ về Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Tô Hoài và những đóng góp của ông cho văn học Việt Nam. Luận văn cũng cung cấp cái nhìn toàn diện về truyện ngắn trước 1945, từ đó góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn học hiện đại.

3.1. Giá trị học thuật

Giá trị học thuật của luận văn được thể hiện qua việc phân tích sâu sắc về nghệ thuật truyện ngắn của Tô Hoài. Nghiên cứu này đã làm rõ những đặc điểm nổi bật trong phong cách sáng tác của ông, từ cách xây dựng nhân vật đến việc sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. Luận văn cũng đóng góp vào việc nghiên cứu và đánh giá văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Ứng dụng thực tiễn của luận văn được thể hiện qua việc cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành văn học. Nghiên cứu này cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị của truyện ngắn Việt Nam trước 1945, từ đó thúc đẩy sự phát triển của văn học hiện đại. Luận văn cũng là nguồn cảm hứng cho các nhà văn trẻ trong việc sáng tác và phát triển phong cách riêng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn tô hoài trước cách mạng

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Nhà văn Vũ Tú Nam cho rằng: “Truyện ngắn ở nước ta đã có từ lâu. Đó là các ký cổ, truyện cổ tích…Học trong các truyện ngắn cổ như Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông… Những truyện này đáng được học tập với thái độ trân trọng vì nó rất sinh động, súc tích và sáng tạo. Truyện ngắn của ta nặng nề về kể và thường rất ngắn gọn, độc đáo” [ 50, tr 63] Bước sang thế kỉ XX, chữ quốc ngữ bắt đầu thể hiện ưu thế trong việc mở rộng công chúng văn học.

Với kĩ thuật in ấn, báo chí ngày càng phát triển đã giúp cho các tác phẩm đến với công chúng dễ dàng và rộng lớn hơn, chứ không bị bó hẹp như trước. Thể loại truyện ngắn đã có nhiều thay đổi 7 đáng kể. Bước đầu, truyện ngắn Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của văn học dân gian, văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc nhưng với sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá phương Tây, truyện ngắn thời kì này đã có màu sắc mới. Truyện ngắn dân tộc đã dần dần chuyển mình hoà vào xu thế chung của thời đại, vào quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà, vượt qua những ảnh hưởng và hạn chế của các thế kỉ trước đó.

Sự ra đời của truyện ngắn hiện đại Việt Nam được đánh dấu bằng tác phẩm Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887). Đây là truyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ Quốc ngữ, khởi đầu cho hàng loạt truyện ngắn bằng chữ quốc ngữ ở giai đoạn tiếp theo. Truyện đã đưa đến nhiều cái mới mẻ cho công chúng. Truyện được kể ngắn gọn, sáng rõ, cốt truyện, tình tiết, chi tiết không quá phức tạp về một chuyện tình tay ba (thầy Phiền, vợ và bạn thân).

Tác phẩm được viết theo lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất, kết cấu theo quy luật tâm lí chứ không theo trình tự thời gian, kết thúc bằng bi kịch của nhân vật chứ không phải kết thúc có hậu như những câu chuyện dân gian. Vào những năm 20 của thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam đã có nhiều bước đi táo bạo với sự phát triển của nhiều khuynh hướng văn học. Truyện ngắn viết theo khuynh hướng đạo lí gắn liền với các tên tuổi như Nguyễn Bá Học, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Chánh Sắt…Bản thân họ xuất thân là nhà Nho. Trước lối sống thực dụng của xã hội thị thành đang bị Âu hoá, nền đạo đức Nho phong trong các gia đình phong kiến đã dần bị phá vỡ.

Những tác giả nhà Nho cảm thấy đau lòng. Họ lên tiếng bênh vực đạo đức truyền thống. Quan niệm văn dĩ tải đạo vẫn chưa thoát khỏi các phẩm của họ. Các tác giả chưa chú trọng xây dựng nhân vật có cá tính được thể hiện ở chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ, hành động.

Nhân vật thực chất là một mẫu hình để nhà văn thuyết giảng về đạo đức, vì vậy trở nên khô cứng, gò bó, không có sức sống. 8 Khuynh hướng yêu nước và cách mạng gắn liền với tên tuổi Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm của Phan Bội Châu có thể xem là những đoản thiên tiểu thuyết bổ sung cho chính sử, cho lịch sử cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu sáng tác để đề cao anh hùng, liệt nữ, để cổ vũ cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.

Ông nổi tiếng với những tác phẩm Sùng bái giai nhân (1907), Chân tướng quân (1917), Tước Thái thiền sư (1917), Tái sinh sinh (1918), Truyện Phạm Hồng Thái (1925). Phan Bội Châu còn chịu ảnh hưởng của bút pháp viết sử, sử bình của truyện kể trung đại. Tuy nhiên, truyện của ông đã có những đổi mới, có những dấu hiệu của truyện ngắn hiện đại. Tác giả đóng vai là người kể chuyện, đứng ra dẫn dắt câu chuyện.

Kết cấu truyện theo trình tự thời gian nhưng cũng có kết cấu phá vỡ thời gian tuyến tính như Tái sinh sinh. Truyện kí của Nguyễn Ái Quốc được đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng Sản Pháp và báo Người cùng khổ của Liên hiệp các dân tộc thuộc địa từ năm 1922 đến năm 1925. Các tác phẩm nổi tiếng của Người vào thời kì này được độc giả luôn ghi nhớ như Con rùa, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói…Phương pháp sáng tác của Nguyễn Ái Quốc được các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đức Nam, Hà Minh Đức… khẳng định đó là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đánh giá về truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc nửa đầu những năm hai mươi, Phan Cự Đệ viết: “Đó là những truyện ngắn cô đọng, vừa mang ý nghĩa tượng trưng, có sức khái quát lớn.

Đó là những truyện được kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba sử dụng ngôn ngữ trần thuật của người kể chuyện, có khi sử dụng ngôn ngữ đa thanh nhiều nhân vật (bình phẩm về Va-ren). Đó là những truyện ngắn tính cách, những truyện có cốt truyện căng thẳng giàu kịch tính và những truyện có màu sắc luận đề”[6, tr 281]. Khuynh hướng hiện thực có Phạm Duy Tốn và Nguyễn Công Hoan. Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn kể về nỗi khổ của những 9 người dân và cảnh ăn chơi sa đoạ của tên quan hộ đê.

Phạm Duy Tốn cũng sử dụng nghệ thuật đối lập, tăng cấp kiểu như Ván bài bi-a của nhà văn Pháp Alphonse Daudet để tố cáo sự vô trách nhiệm của quan lại thời bấy giờ, đồng thời bộc lộ sự cảm thông trước nỗi thống khổ của nhân dân. So với thời kì trước đó, truyện ngắn những năm 1930-1945 phát triển rực rỡ, phong phú hơn. Tư duy hệ tư sản dần dần thắng thế tư tưởng phong kiến. Cái tôi được giải phóng, nhà văn phát huy sức sáng tạo của mình.

Vì vậy, thời kì này xuất hiện nhiều cây bút độc đáo. Hàng loạt các gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Thạch Lam, Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn… Các khuynh hướng văn học ngày càng phân hoá rõ rệt và đấu tranh, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Đỗ Tốn, Nguyễn Tuân tiêu biểu cho phong cách lãng mạn trữ tình. Thạch Lam viết truyện với nghệ thuật tinh tế nhất là việc sử dụng tương phản và hài hoà giữa các âm thanh và các vùng ánh sáng.

Câu chuyện để lại trong tâm hồn người đọc những dư vị đằm thắm của quê hương và sự cảm thương những cuộc đời thầm lặng như những chấm sáng lù mù nhoè đi trong bóng tối của một vùng quê tù đọng. Thạch Lam ít sử dụng cốt truyện giàu kịch tính. Ông nghiêng về những cốt truyện tâm lí, hướng dến thế giới bên trong con người, đặc biệt là thế giới ấn tượng và cảm giác như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc. Cũng giống như Thạch Lam, Thanh Tịnh thiên về miêu tả thế giới nội tâm, cảm giác.

Truyện ngắn của ông thường chỉ có một tình huống. Cái kết bao giờ cũng là một kỉ niệm buồn man mác: kỉ niệm ngày đầu tiên đi học [Tôi đi học], kỉ niệm những ngày ở làng Mĩ Lí [Quê mẹ]. Lời văn giàu chất thơ, nhẹ nhàng, tha thiết bày tỏ một niềm cảm thông với con người nghèo 10 khổ. Bên cạnh đó, những sáng tác của ông còn đậm chất truyền kì, những truyện kinh dị, kì bí [Ngậm ngải tình trầm].

Văn học lãng mạn còn xuất hiện một cái Tôi độc đáo- Nguyễn Tuân. Suốt đời đi tìm và tôn thờ cái Đẹp, Nguyễn Tuân đến với các nhân vật tài hoa, tài tử, những thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, trong văn hoá ẩm thực. Vang bóng một thời, ông đề cao những thú chơi cổ xưa. Uống trà, chơi hoa là một thứ nghệ thuật trang trọng, cầu kì [Chén trà trong sương sớm, Thạch Lan Hương].

Lối chơi chữ thể hiện khí phách của người quân tử, những con nguời có tài, có tâm [Chữ người tử tù]. Nhân vật của Nguyễn Tuân có cái ngông, lập dị không phải là những con người bình thường. Dù đứng ở phía nào thiện hay ác, nhân vật đều có tài đặc biệt hơn người, được lí tưởng hoá, được phóng đại theo thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn. Truyện của Nguyễn Tuân vẫn được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, ở ngôi thứ ba.

Cái tài của ông là xây dựng nhân vật. Ông nắm bắt những nét đặc trưng nhất trong tính cánh của nhân vật, miêu tả những hành động theo cách riêng hết sức độc đáo. Trong dòng văn học hiện thực phê phán, có những tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Kim Lân… Nguyễn Công Hoan là người đi đầu trong phương pháp hiện thực phê phán. Ông được coi là lá cờ đầu của văn học hiện thực phê phá những năm 1930-1945.

Nguyễn Công Hoan viết về những câu chuyện về con người và xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với một lối kể chuyện hóm hỉnh hài hước có tính chất châm biếm. Ông đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân. Những mảng đề tài xã hội trước đây, Nguyễn Công Hoan nhanh chóng chuyển sang đề tài phản ánh các sự kiện chính trị thời cuộc. Những truyện ngắn của ông tiểu biểu cho một thứ văn vui, thứ văn mà có lẽ từ khi nước Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mới, người ta chỉ thấy ở ngòi bút của ông mà thôi.

Những tác phẩm đầu tay của ông lấy từ đề tài những điều mắt thấy tai nghe 11 như Kiếp hồng nhan, Sóng vũ môn, Cụ đồ Ba, Cô hàng nước. Trần ai tri kỷ… Thái độ căm ghét bọn quan tân học, luyến tiếc những nhà Nho cũ được thể hiện qua Sóng vũ môn, cảm tình với những người ăn ở chung thuỷ nhân hậu được thể hiện qua Cô hàng nước, Trần ai tri kỉ. Có truyện giàu yếu tố hiên thực, tiến bộ [Sóng vũ môn], có truyện còn yếu tố lãng mạn, bảo thủ [Kiếp hồng nhan]. Nguyễn Công Hoan khai thác đề tài từ tin tức thời sự hàng ngày, hoặc mô tả những việt thật mà ông mắt thấy tai nghe như Oằn tà roằn, Thật là phúc, Lập Gioòng, Răng chó của nhà tư sản, Hai thằng khốn nạn… Chất hiện thực thấm đẫm trong tác phẩm của ông.

Chủ đề tập trung công kích bọn quan lại, địa chủ, tư sản những xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến. Truyện có nhiều chi tiết sinh động, hấp dẫn, tạo nên tiếng cười châm biếm đả kích vào tầng lớp thị dân và nhiều kết thúc bất ngờ ảnh hưởng truyện dân gian.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng" khám phá những nét đặc sắc trong phong cách sáng tác của Tô Hoài, một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ phân tích các yếu tố nghệ thuật như ngôn ngữ, hình tượng và cấu trúc truyện mà còn làm nổi bật bối cảnh xã hội và văn hóa thời kỳ trước Cách mạng. Độc giả sẽ tìm thấy những hiểu biết sâu sắc về cách mà Tô Hoài phản ánh cuộc sống và tâm tư của con người qua các tác phẩm của mình, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các tác giả và tác phẩm khác trong văn học Việt Nam, hãy tham khảo thêm Luận văn đất và người xứ huế trong ký của hoàng phủ ngọc tường, nơi bạn có thể tìm hiểu về văn hóa và con người xứ Huế. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ngữ văn vị từ tình thái trong truyện kiều của nguyễn du sẽ giúp bạn khám phá thêm về những giá trị nghệ thuật trong tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du. Cuối cùng, Luận văn bức tranh xã hội phong kiến việt nam trong truyện cười nhìn từ phương diện nội dung sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về xã hội phong kiến qua lăng kính của thể loại truyện cười. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn tiếp tục hành trình khám phá văn học Việt Nam.