mở đầu, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Nhà văn Vũ Tú Nam cho rằng: “Truyện ngắn ở nước ta đã có từ lâu. Đó là các ký cổ, truyện cổ tích…Học trong các truyện ngắn cổ như Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông… Những truyện này đáng được học tập với thái độ trân trọng vì nó rất sinh động, súc tích và sáng tạo. Truyện ngắn của ta nặng nề về kể và thường rất ngắn gọn, độc đáo” [ 50, tr 63] Bước sang thế kỉ XX, chữ quốc ngữ bắt đầu thể hiện ưu thế trong việc mở rộng công chúng văn học.
Với kĩ thuật in ấn, báo chí ngày càng phát triển đã giúp cho các tác phẩm đến với công chúng dễ dàng và rộng lớn hơn, chứ không bị bó hẹp như trước. Thể loại truyện ngắn đã có nhiều thay đổi 7 đáng kể. Bước đầu, truyện ngắn Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của văn học dân gian, văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc nhưng với sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá phương Tây, truyện ngắn thời kì này đã có màu sắc mới. Truyện ngắn dân tộc đã dần dần chuyển mình hoà vào xu thế chung của thời đại, vào quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà, vượt qua những ảnh hưởng và hạn chế của các thế kỉ trước đó.
Sự ra đời của truyện ngắn hiện đại Việt Nam được đánh dấu bằng tác phẩm Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887). Đây là truyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ Quốc ngữ, khởi đầu cho hàng loạt truyện ngắn bằng chữ quốc ngữ ở giai đoạn tiếp theo. Truyện đã đưa đến nhiều cái mới mẻ cho công chúng. Truyện được kể ngắn gọn, sáng rõ, cốt truyện, tình tiết, chi tiết không quá phức tạp về một chuyện tình tay ba (thầy Phiền, vợ và bạn thân).
Tác phẩm được viết theo lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất, kết cấu theo quy luật tâm lí chứ không theo trình tự thời gian, kết thúc bằng bi kịch của nhân vật chứ không phải kết thúc có hậu như những câu chuyện dân gian. Vào những năm 20 của thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam đã có nhiều bước đi táo bạo với sự phát triển của nhiều khuynh hướng văn học. Truyện ngắn viết theo khuynh hướng đạo lí gắn liền với các tên tuổi như Nguyễn Bá Học, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Chánh Sắt…Bản thân họ xuất thân là nhà Nho. Trước lối sống thực dụng của xã hội thị thành đang bị Âu hoá, nền đạo đức Nho phong trong các gia đình phong kiến đã dần bị phá vỡ.
Những tác giả nhà Nho cảm thấy đau lòng. Họ lên tiếng bênh vực đạo đức truyền thống. Quan niệm văn dĩ tải đạo vẫn chưa thoát khỏi các phẩm của họ. Các tác giả chưa chú trọng xây dựng nhân vật có cá tính được thể hiện ở chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ, hành động.
Nhân vật thực chất là một mẫu hình để nhà văn thuyết giảng về đạo đức, vì vậy trở nên khô cứng, gò bó, không có sức sống. 8 Khuynh hướng yêu nước và cách mạng gắn liền với tên tuổi Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm của Phan Bội Châu có thể xem là những đoản thiên tiểu thuyết bổ sung cho chính sử, cho lịch sử cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu sáng tác để đề cao anh hùng, liệt nữ, để cổ vũ cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.
Ông nổi tiếng với những tác phẩm Sùng bái giai nhân (1907), Chân tướng quân (1917), Tước Thái thiền sư (1917), Tái sinh sinh (1918), Truyện Phạm Hồng Thái (1925). Phan Bội Châu còn chịu ảnh hưởng của bút pháp viết sử, sử bình của truyện kể trung đại. Tuy nhiên, truyện của ông đã có những đổi mới, có những dấu hiệu của truyện ngắn hiện đại. Tác giả đóng vai là người kể chuyện, đứng ra dẫn dắt câu chuyện.
Kết cấu truyện theo trình tự thời gian nhưng cũng có kết cấu phá vỡ thời gian tuyến tính như Tái sinh sinh. Truyện kí của Nguyễn Ái Quốc được đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng Sản Pháp và báo Người cùng khổ của Liên hiệp các dân tộc thuộc địa từ năm 1922 đến năm 1925. Các tác phẩm nổi tiếng của Người vào thời kì này được độc giả luôn ghi nhớ như Con rùa, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói…Phương pháp sáng tác của Nguyễn Ái Quốc được các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đức Nam, Hà Minh Đức… khẳng định đó là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đánh giá về truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc nửa đầu những năm hai mươi, Phan Cự Đệ viết: “Đó là những truyện ngắn cô đọng, vừa mang ý nghĩa tượng trưng, có sức khái quát lớn.
Đó là những truyện được kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba sử dụng ngôn ngữ trần thuật của người kể chuyện, có khi sử dụng ngôn ngữ đa thanh nhiều nhân vật (bình phẩm về Va-ren). Đó là những truyện ngắn tính cách, những truyện có cốt truyện căng thẳng giàu kịch tính và những truyện có màu sắc luận đề”[6, tr 281]. Khuynh hướng hiện thực có Phạm Duy Tốn và Nguyễn Công Hoan. Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn kể về nỗi khổ của những 9 người dân và cảnh ăn chơi sa đoạ của tên quan hộ đê.
Phạm Duy Tốn cũng sử dụng nghệ thuật đối lập, tăng cấp kiểu như Ván bài bi-a của nhà văn Pháp Alphonse Daudet để tố cáo sự vô trách nhiệm của quan lại thời bấy giờ, đồng thời bộc lộ sự cảm thông trước nỗi thống khổ của nhân dân. So với thời kì trước đó, truyện ngắn những năm 1930-1945 phát triển rực rỡ, phong phú hơn. Tư duy hệ tư sản dần dần thắng thế tư tưởng phong kiến. Cái tôi được giải phóng, nhà văn phát huy sức sáng tạo của mình.
Vì vậy, thời kì này xuất hiện nhiều cây bút độc đáo. Hàng loạt các gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Thạch Lam, Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn… Các khuynh hướng văn học ngày càng phân hoá rõ rệt và đấu tranh, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Đỗ Tốn, Nguyễn Tuân tiêu biểu cho phong cách lãng mạn trữ tình. Thạch Lam viết truyện với nghệ thuật tinh tế nhất là việc sử dụng tương phản và hài hoà giữa các âm thanh và các vùng ánh sáng.
Câu chuyện để lại trong tâm hồn người đọc những dư vị đằm thắm của quê hương và sự cảm thương những cuộc đời thầm lặng như những chấm sáng lù mù nhoè đi trong bóng tối của một vùng quê tù đọng. Thạch Lam ít sử dụng cốt truyện giàu kịch tính. Ông nghiêng về những cốt truyện tâm lí, hướng dến thế giới bên trong con người, đặc biệt là thế giới ấn tượng và cảm giác như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc. Cũng giống như Thạch Lam, Thanh Tịnh thiên về miêu tả thế giới nội tâm, cảm giác.
Truyện ngắn của ông thường chỉ có một tình huống. Cái kết bao giờ cũng là một kỉ niệm buồn man mác: kỉ niệm ngày đầu tiên đi học [Tôi đi học], kỉ niệm những ngày ở làng Mĩ Lí [Quê mẹ]. Lời văn giàu chất thơ, nhẹ nhàng, tha thiết bày tỏ một niềm cảm thông với con người nghèo 10 khổ. Bên cạnh đó, những sáng tác của ông còn đậm chất truyền kì, những truyện kinh dị, kì bí [Ngậm ngải tình trầm].
Văn học lãng mạn còn xuất hiện một cái Tôi độc đáo- Nguyễn Tuân. Suốt đời đi tìm và tôn thờ cái Đẹp, Nguyễn Tuân đến với các nhân vật tài hoa, tài tử, những thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, trong văn hoá ẩm thực. Vang bóng một thời, ông đề cao những thú chơi cổ xưa. Uống trà, chơi hoa là một thứ nghệ thuật trang trọng, cầu kì [Chén trà trong sương sớm, Thạch Lan Hương].
Lối chơi chữ thể hiện khí phách của người quân tử, những con nguời có tài, có tâm [Chữ người tử tù]. Nhân vật của Nguyễn Tuân có cái ngông, lập dị không phải là những con người bình thường. Dù đứng ở phía nào thiện hay ác, nhân vật đều có tài đặc biệt hơn người, được lí tưởng hoá, được phóng đại theo thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn. Truyện của Nguyễn Tuân vẫn được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, ở ngôi thứ ba.
Cái tài của ông là xây dựng nhân vật. Ông nắm bắt những nét đặc trưng nhất trong tính cánh của nhân vật, miêu tả những hành động theo cách riêng hết sức độc đáo. Trong dòng văn học hiện thực phê phán, có những tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Kim Lân… Nguyễn Công Hoan là người đi đầu trong phương pháp hiện thực phê phán. Ông được coi là lá cờ đầu của văn học hiện thực phê phá những năm 1930-1945.
Nguyễn Công Hoan viết về những câu chuyện về con người và xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với một lối kể chuyện hóm hỉnh hài hước có tính chất châm biếm. Ông đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân. Những mảng đề tài xã hội trước đây, Nguyễn Công Hoan nhanh chóng chuyển sang đề tài phản ánh các sự kiện chính trị thời cuộc. Những truyện ngắn của ông tiểu biểu cho một thứ văn vui, thứ văn mà có lẽ từ khi nước Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mới, người ta chỉ thấy ở ngòi bút của ông mà thôi.
Những tác phẩm đầu tay của ông lấy từ đề tài những điều mắt thấy tai nghe 11 như Kiếp hồng nhan, Sóng vũ môn, Cụ đồ Ba, Cô hàng nước. Trần ai tri kỷ… Thái độ căm ghét bọn quan tân học, luyến tiếc những nhà Nho cũ được thể hiện qua Sóng vũ môn, cảm tình với những người ăn ở chung thuỷ nhân hậu được thể hiện qua Cô hàng nước, Trần ai tri kỉ. Có truyện giàu yếu tố hiên thực, tiến bộ [Sóng vũ môn], có truyện còn yếu tố lãng mạn, bảo thủ [Kiếp hồng nhan]. Nguyễn Công Hoan khai thác đề tài từ tin tức thời sự hàng ngày, hoặc mô tả những việt thật mà ông mắt thấy tai nghe như Oằn tà roằn, Thật là phúc, Lập Gioòng, Răng chó của nhà tư sản, Hai thằng khốn nạn… Chất hiện thực thấm đẫm trong tác phẩm của ông.
Chủ đề tập trung công kích bọn quan lại, địa chủ, tư sản những xấu xa của xã hội thực dân nửa phong kiến. Truyện có nhiều chi tiết sinh động, hấp dẫn, tạo nên tiếng cười châm biếm đả kích vào tầng lớp thị dân và nhiều kết thúc bất ngờ ảnh hưởng truyện dân gian.