Chương 1 TỔNG QUAN 1. Định nghĩa và tình hình co giật do sốt 1. Định nghĩa - Co giật do sốt Theo Viện quốc gia về sức khỏe của nước Mỹ đã đưa ra định nghĩa về CGDS: “ Là hiện tượng xảy ra ở trẻ bú mẹ hoặc trẻ nhỏ, thường trong độ tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi, liên quan với sốt nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ hoặc một nguyên nhân xác định khác đối với cơn co giật. Những cơn co giật có sốt ở trẻ mà trước đó đã bị một cơn co giật không sốt thì được loại trừ” [29].
Liên hội chống động kinh cũng đưa ra định nghĩa: “CGDS là co giật xảy ra ở trẻ em sau 1 tháng tuổi, liên quan tới bệnh gây sốt, không phải bệnh nhiễm khuẩn thần kinh, không có co giật ở thời kỳ sơ sinh, không có cơn giật xảy ra trước không có sốt” [65]. Hai định nghĩa này rất giống nhau chỉ khác về giới hạn tuổi (3 tháng so vơí 1 tháng). Cả hai định nghĩa này không loại trừ trẻ bị suy giảm thần kinh trước đó, không đưa ra một tiêu chuẩn nhiệt độ rõ ràng, cũng không định nghĩa một “cơn co giật”. CGDS phải phân biệt với động kinh, là loại co giật được đặc trưng bởi cơn co giật không sốt và tái diễn.
Hai định nghĩa này loại trừ những cơn co giật có liên quan tới bệnh lý thần kinh như: viêm màng não, viêm não, hoặc bệnh não do nhiễm độc. - Sốt: mặc dù các ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất nhưng định nghĩa sau đây về sốt được hầu hết các tác giả chấp nhận; “ sốt là hiện tượng tăng nhiệt độ của cơ thể được xác nhận khi nhiệt độ đo ở hậu môn trên 37,8 0C (ở trẻ bú mẹ), hoặc trên 380C (ở trẻ lớn), trong điều kiện cơ thể nghỉ ngơi, do hậu quả của sự rối loạn trung tâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi làm tăng ngưỡng thân nhiệt” [14]. 4 - Co giật: là cơn động kinh có rối loạn co cơ là chủ yếu, biểu hiện bằng những cơn tăng trương lực cơ hoặc cơn rung giật hoặc phối hợp cả hai [24]. - Cơn động kinh: là tình trạng rối loạn tạm thời về vận động, cảm giác, thần kinh tự động, tâm thần và thường kèm theo rối loạn mất ý thức, do sự phóng lực đột ngột, quá mức và nhất thời của một quần thể neuron ở vỏ não.
- Đợt co giật do sốt: được tính từ lúc khởi phát của bệnh có sốt đến lúc kết thúc bệnh ấy mà trong thời gian đó có cơn CGDS. Trong một đợt có CGDS có thể có một hoặc nhiều cơn CGDS. - CGDS đơn thuần (hay lành tính) với các biểu hiện: Cơn co giật toàn thể. Xảy ra ở các trẻ bình thường.
Không có dấu hiệu thần kinh khu trú. Thời gian co giật ngắn, dưới 15 phút. Không có thiếu sót về thần kinh sau cơn. Không có cơn thứ 2 trong 24 giờ.
- CGDS phức hợp(hay phức tạp): là CGDS có kèm theo một trong các dấu hiệu sau: Cơn co giật cục bộ. Thời gian co giật kéo dài trên 15 phút đến dưới 30 phút. Có trên 1 cơn trong 24 giờ. Lịch sử nghiên cứu co giật do sốt CGDS được chú ý đầu tiên trong bộ luật Hammurabicuar người Babylon năm 2080 trước công nguyên.
Hipocrate cũng đã mô tả rõ ràng hội chứng này trong tập sách của mình, các bài viết này đa đưa ra một vấn đề lâm sàng gây ấn tượng. Bản dịch của Adams 1939 nhấn mạnh “co giật sẵn sàng xảy ra ở trẻ em dưới 7 tuổi nếu có hiện diện một bệnh sốt cấp tính, không xảy ra ở trẻ lớn và người lớn” [42]. 5 Năm 1924, Berger lần đầu tiên thành công trong kỹ thuật ghi điện não ở người, từ đó đặt nền móng cho ngành điện sinh lý thần kinh trong việc nghiên cứu co giật [12]. Lennox năm 1949 đã có bài nghiên cứu đầu tiên về lâm sàng, điện não đồ và tiến triển của CGDS.
Sau đó nhiều bài báo về CGDS tiếp tục xuất hiện song vào thời điểm đó người ta cho rằng CGDS có thể là một triệu chứng của nhiễm khuẩn nội sọ [42].Lennox - Buchtal đã viết cuốn “co giật do sốt - sự đánh giá lại”, trong đó đề nghị điều trị dự phòng liên tục bằng Phenolbarbital. Bà ta cho rằng CGDS có thể gây tổn thương não vĩnh viễn và nên điều trị dự phòng liên tục bằng Phenolbarbital. Tuy nhiên Phenolbarbital lại có nhiều tác dụng phụ.Vì vậy nhiều nghiên cứu sau đó đi theo hướng tìm biện pháp thay thế. Tháng 5 năm 1980, hội thảo thống nhất về CGDS được tổ chức tại viện Quốc gia về sức khỏe ở Mỹ đã bàn đến nhiều vấn đề: định nghĩa, các yếu tố nguy cơ, tiến triển cũng như biện pháp điều trị dự phòng.
Từ đó người ta bắt đầu chú ý tới tác dụng phụ của thuốc kháng động kinh ở trẻ bị CGDS được điều trị dự phòng liên tục và đưa ra các chỉ định điều trị cụ thể hơn để hạn chế tác dụng phụ của thuốc này. Và từ đây nhiều vấn đề được đặt ra làm thế nào để hạn chế trẻ bị CGDS lần đầu cũng như CGDS tái phát [29]. Tại Châu Á trong các hội nghị về thần kinh Nhi khoa, vấn đề CGDS cũng đã được bàn luận rất nhiều [11]. Tình hình CGDS trên thế giới và trong nước Các cuộc điều tra dịch tễ học trên thế giới ghi nhận những tỷ lệ mắc bệnh khác nhau về CGDS qua các quần thể nghiên cứu khác nhau, nhưng đa số trong giới hạn từ 2% - 5% số trẻ em [4], [30].
and Tauboll, E, và cộng sự 2016 co giật sốt có tỷ lệ 2-5% trẻ em trong độ tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi [32]. 6 Lennox và Buchtal nghiên cứu 6 quần thể trẻ em dưới 5 tuổi thấy tỷ lệ bị CGDS là 2,9% nam nhiều hơn nữ nhưng tỷ lệ này có thể cao hơn vì nhiều trẻ không đến bệnh viện [42]. Ở Nhật Bản theo Tsuboi, tỷ lệ mắc mới trong 6 năm của trẻ dưới 3 tuổi là 8,2 [56]. Theo nghiên cứu của Berg AT và cộng sự tỷ lệ mắc CGDS là 2-4% [13].
Theo Camfield, Peter 2015 co giật do sốt là co giật phổ biến nhất ở người, xảy ra ở 2-6% dân số. Nguyên nhân là phức tạp với bằng chứng cho thấy có yếu tố di truyền tương tác với co giật do sốt, một số nhiễm virus có liên quan lớn với co giật do sốt. Một lượng lớn tài liệu đã xác định rằng cơn co giật do sốt không có hậu quả lâu dài về nhận thức hoặc hành vi. Tuy nhiên, khoảng 40% trẻ em bị co giật sốt đầu tiên sẽ có tái phát.
Tỷ lệ cao nhất của tái phát là tuổi 14-16 tháng tại thời điểm co giật sốt đầu tiên [17]. Co giật là một bệnh thần kinh phổ biến ở các nước nhiệt đới, đặc biệt là ở châu Phi cận Sahara. Công trình trước đây về co giật bệnh động kinh ở vùng cận Sahara châu Phi đã chỉ ra rằng nhiều trường hợp nghiêm trọng, một phần là do một số nguyên nhân cụ thể, và nó không được điều trị đầy đủ trong nhiều trường hợp. Nhiều nghiên cứu về dịch tễ học, nguyên nhân, và quản lý bệnh co giật động kinh ở vùng cận Sahara châu Phi đã được báo cáo trong 10 năm qua.
Tỷ lệ được ước tính từ các nghiên cứu là gần như gấp đôi ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Các yếu tố nguy cơ thường gặp nhất là chấn thương khi sinh, nhiễm trùng thần kinh trung ương và chấn thương sọ não. Khoảng 60% bệnh nhân bị động kinh không được điều trị chống động kinh, phần lớn là vì lý do kinh tế và xã hội. Các nghiên cứu dịch tễ học khác cần được ưu tiên để cải thiện sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ có thể xảy ra và do đó ngăn ngừa bệnh động kinh ở châu Phi, và hành động cần được thực hiện để cải thiện khả năng tiếp cận điều trị [19].
Lê Thiện Thuyết trong 2 năm (2002-2004) tại bệnh viện Trung ương Huế báo cáo có 206 bệnh nhi bị CGDS và trên 6513 trẻ dưới 15 tuổi nhập viện, tỷ lệ CGDS nhập viện là 3,16 [5]. 7 Nghiên cứu của Phạm Thị Lệ Quyên (2006), đánh giá một số đặc điểm dịch tễ của CGDS ở trẻ em trong 3 năm (2002-2004), trung bình mỗi năm có khoảng 500/29743 bệnh nhi vào Bệnh Viện Nhi Trung ương điều trị vì CGDS. Số bệnh nhi có xu hướng tăng dần lên theo các năm và đã xác định được tỉ lệ trẻ CGDS dưới 5 tuổi nhập viện là 1,93% [4]. Sinh lý bệnh Ba yếu tố: tuổi, sốt và cơn co giật là những yếu tố cấu thành trong CGDS.
Trên cơ sở này gần đây nhờ những tiến bộ của khoa học. Con người ngày càng hiểu biết nhiều hơn về cơ chế bệnh sinh của bệnh CGDS. Tuy nhiên việc giải thích cơ chế hiện tượng này còn chưa đầy đủ. - Một đặc điểm cơ bản của điều hòa thân nhiệt ở trẻ em là trung tâm điều nhiệt chưa trưởng thành, rất dễ bị tác động, rất dễ sốt cao ngay cả khi có nhiễm trùng nhẹ hay ngược lại.
Diện tích da của trẻ (theo cân nặng) lớn hơn, mạng lưới mao mạch dưới da nhiều hơn so với người lớn nên thân nhiệt của trẻ dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường. Do cơ thể trẻ em đang phát triển, trẻ luôn hiếu động nên quá trình sinh nhiệt cũng cao hơn. Để cân bằng thân nhiệt, cơ chế thải nhiệt bằng bốc hơi ở trẻ qua nhịp thở và bài tiết mồ hôi có vai trò quan trọng cho nên làm tăng khả năng rối loạn nước và điện giải. Vì vậy, so với người lớn, trẻ em dễ bị sốt và thường sốt cao hơn người lớn [6], [42], [62].
- Gần đây, nhờ những tiến bộ của ngành khoa học, con người ngày càng hiểu biết nhiều hơn về cơ chế bệnh sinh của CGDS, tuy vậy việc giải thích đầy đủ cơ chế hội chứng này vẫn còn chưa đầy đủ. - Trẻ em tuổi từ 6 tháng đến 3 tuổi có tỷ lệ CGDS cao nhất, đây là thời kỳ xảy ra quá trình biệt hóa và myelin hóa dần các neuron, ở tuổi này khi tăng 1 độ C sẽ làm chuyển hóa cơ bản tăng 15% [42]. - Theo Velasco-Ramirez, S. F [59], CGDS là phản ứng của cơ thể trẻ nhỏ khi sốt cao do sự rối loạn chuyển hóa nước, điện giải hoặc thiếu oxy não.
8 - Ngoài ra, người ta còn nghi ngờ sự thiếu sót trong hệ thống men ở não trẻ bị CGDS: giảm hoạt động của men adenosine triphosphatase (ATPase) gây giảm phosphoryl oxy hóa, giảm Gama Amino Butyric Acid (GABA).