ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi là bệnh thƣờng gặp ở trẻ em, là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ dƣới 1 tuổi, trẻ suy dinh dƣỡng. Tại Việt Nam, theo thống kê của chƣơng trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp thì trung bình mỗi năm một trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp từ 3-5 lần, trong đó có 1-2 lần viêm phổi. Số trẻ viêm phổi chiếm 30-34 % các trƣờng hợp đến khám và điều trị tại các bệnh viện. Tử vong do viêm phổi còn cao, chiếm 75% tử vong do các bệnh hô hấp và 30-35% tử vong chung ở trẻ em.
Theo Tổ chức Y tế thế giới viêm phổi là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi, chiếm 19% các nguyên nhân gây tử vong. Ở các nƣớc đang phát triển, chỉ số mới mắc của bệnh ở lứa tuổi này là 0,29 đợt bệnh/trẻ/năm [36]. Viêm phổi bao gồm cả viêm phế quản phổi, là bệnh viêm các phế quản nhỏ, phế nang và tổ chức xung quanh phế nang rải rác hai phổi, làm rối loạn trao đổi khí, tắc nghẽn đƣờng thở, dễ gây suy hô hấp và tử vong. Các căn nguyên gây viêm phổi thƣờng gặp là: virus chiếm 60-70% thƣờng theo mùa, gây vụ dịch nhƣ cúm, á cúm, hợp bào hô hấp, Adenovirus…Vi khuẩn còn phổ biến ở các nƣớc đang phát triển nhƣ phế cầu, Hemophilus influenza, tụ cầu, liên cầu…Vi khuẩn không điển hình nhƣ Mycoplasma pneumonia (thƣờng gặp nhất và trên 3 tuổi), Chlamydia pneumonia …Ký sinh trùng Pneumocystis carinii (thƣờng gây bệnh trên trẻ suy giảm miễn dịch), nấm Candida albicans… [37].
Các căn nguyên này khác nhau tuỳ thuộc từng nƣớc và từng khu vực địa lý. Các chủng virus mới/tái xuất hiện cũng đƣợc coi là tác nhân quan trong gây viêm phổi ở trẻ nhƣ SARS-CoV-2 (2019), cúm A/H1N1 (2009). Các tác nhân gây bệnh này gây ra hiện tƣợng viêm ở niêm mạc đƣờng hô hấp, nhu mô phổi, nhất là phế nang. Tùy căn nguyên gây bệnh và mức độ đáp ứng của cơ thể mà biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, có những trẻ chỉ ho sốt đơn thuần, có những trẻ có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân.
Đã có nhiều nghiên 2 cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi hoặc có những nghiên cứu tập trung vào căn nguyên gây viêm phổi. Nhƣng căn nguyên gây viêm phổi và tính kháng kháng sinh thay đổi qua các năm và khu vực. Trong những năm gần đây, tính kháng kháng sinh của các vi khuẩn ngày càng tăng cao và trở thành vấn đề cấp thiết toàn cầu. Tại Bệnh viện Trung ƣơng Thái Nguyên H.
influenzae đề kháng kháng sinh rất cao với nhiều loại kháng sinh: augmentin, ampicillin, ceftriaxone, ceftazidim với tỷ lệ kháng 95,8% [13]. Một nghiên cứu tại khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai (2020) S. aureus kháng vancomycin 33,3% [53]. Tỷ lệ kháng nhóm marcolid của S.
pneumoniae tăng lên nhanh chóng [28]. Lựa chọn kháng sinh ban đầu chủ yếu theo kinh nghiệm. Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung Ƣơng Thái Nguyên, hàng năm tiếp nhận khám và điều trị cho hàng ngàn trẻ em, trong số đó bệnh liên quan đến viêm đƣờng hô hấp chiếm trên 50%, hầu hết là viêm phổi ở trẻ dƣới 5 tuổi với biểu hiện lâm sàng đa dạng, mức độ tổn thƣơng rất khác nhau, từ những trẻ chỉ sốt ho đơn thuần cho đến những trẻ nguy kịch phải thở máy xâm nhập. Do đó, chúng tôi muốn tìm hiểu căn nguyên vi sinh vật gây bệnh viêm phổi ở nhóm trẻ em này và có những đặc điểm nhƣ thế nào, biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm trẻ hay mắc viêm phổi cộng đồng từ 2 tháng đến 5 tuổi có đặc trƣng gì khác không.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và vi sinh vật của viêm phổi cộng đồng ở trẻ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” với mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi cộng đồng ở bệnh nhân 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2020-2021. Phân tích đặc điểm vi sinh vật ở nhóm đối tượng nêu trên. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Định nghĩa và phân loại viêm phổi 1. Định nghĩa viêm phổi Viêm phổi là hiện tƣợng viêm trong nhu mô phổi bao gồm viêm phế nang, túi phế nang, ống phế nang, tổ chức liên kết khe kẽ và viêm tiểu phế quản tận cùng [4]. Viêm phổi cộng đồng là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính dƣới 14 ngày xuất hiện tại cộng đồng hoặc trƣớc 48 giờ sau khi nhập viện. Nguyên nhân có thể do virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng.
Phân loại viêm phổi • Theo giải phẫu - Viêm phổi thùy - Viêm phế quản phổi - Viêm phổi kẽ • Phân loại theo bệnh cảnh lâm sàng: - Viêm phổi điển hình - Viêm phổi không điển hình • Phân loại theo hoàn cảnh mắc: - Viêm phổi mắc phải cộng đồng: Viêm phổi xuất hiện ngoài bệnh viện hoặc không sử dụng các biện pháp chăm sóc dài ngày. - Viêm phổi mắc phải bệnh viện - Viêm phổi liên quan đến thở máy - Viêm phổi liên quan đến chăm sóc y tế • Phân loại theo mức độ nặng: Theo Hƣớng dẫn của Bộ Y tế [2]. - Viêm phổi + Trẻ ho, sốt kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu: + Thở nhanh: khi nhịp thở đƣợc đếm trong một phút nhƣ sau 4 Trẻ < 2 tháng tuổi: ≥ 60 lần/phút Trẻ 2 - < 12 tháng tuổi: ≥ 50 lần/phút Trẻ 1 - 5 tuổi: ≥ 40 lần/phút + Rút lõm lồng ngực (phần dƣới lồng ngực lõm vào ở thì hít vào) + Nghe các triệu chứng tại phổi: giảm thông khí, có tiếng bất thƣờng (ran ẩm, ran phế quản, ran nổ. - Viêm phổi nặng Chẩn đoán viêm phổi nặng khi trẻ có dấu hiệu của viêm phổi kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau: Dấu hiệu toàn thân nặng: + Bỏ bú hoặc không uống đƣợc.
+ Rối loạn tri giác: lơ mơ hoặc hôn mê. Dấu hiệu suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực rất nặng). Dịch tễ học 1. Trên thế giới Viêm phổi là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở trẻ nhỏ đặc biệt trẻ dƣới 5 tuổi, 25% trẻ ở các nƣớc đang phát triển có ít nhất 1 lần viêm phổi và 1,9 triệu trẻ tử vong hàng năm do viêm phổi.
Theo tổ chức Y Tế thế giới, hàng năm có khoảng 8-15 triệu ngƣời mắc viêm phổi. Viêm phổi đã giết chết 808.694 trẻ dƣới 5 tuổi vào năm 2017, chiếm 15% tổng số ca tử vong của trẻ em dƣới 5 tuổi. Viêm phổi ảnh hƣởng đến trẻ em và gia đình trẻ ở khắp mọi nơi, nhƣng phổ biến nhất ở Nam Á và châu Phi cận Sahara [54]. Mặc dù nguyên nhân của viêm phổi cộng đồng thay đổi tùy theo vùng địa lý, tuy nhiên phế cầu khuẩn vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất của viêm phổi trên phạm vi toàn cầu.
Theo WHO ƣớc tính có 156 triệu trƣờng hợp viêm phổi mỗi năm ở trẻ dƣới 5 tuổi, trong đó 20 triệu trƣờng hợp nặng cần phải nhập 5 viện cấp cứu. Ở các nƣớc phát triển tỉ lệ viêm phổi hàng năm 33/10.000 trẻ dƣới 5 tuổi và 14,5/10.000 trẻ từ 0-16 tuổi [32]. Theo WHO (2008) khu vực Đông Nam Á nói chung có tỷ lệ trẻ mắc viêm phổi cao nhất, ƣớc tính có khoảng 60,95 triệu trƣờng hợp mắc mới mỗi năm, với 0,36 đợt mắc/ trẻ mỗi năm, tiếp theo là châu Phi 0,33 đợt mắc/trẻ mỗi năm và có gánh nặng cao nhất về tỷ lệ tử vong ở trẻ em trên toàn cầu. Tỷ lệ thấp nhất là ở châu Âu và châu Mỹ (0,06 đợt mắc/trẻ mỗi năm và 0,1 đợt mắc/trẻ mỗi năm) [49].
Ở các khu vực và quốc gia đang phát triển có tỷ lệ mắc viêm phổi cao hơn. Chi phí điều trị cho mỗi đợt viêm phổi ở trẻ em là một gánh nặng kinh tế không hề nhỏ, đặc biệt tại các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình, nơi mà tỷ lệ trẻ mắc viêm phổi vẫn còn rất cao. Theo một số nghiên cứu, chi phí điều trị trung bình cho mỗi đợt viêm phổi là 55,8 USD ở Uruguay; 272,7 USD ở Chile và 334,6 USD ở Hoa Kỳ; đối với mỗi đợt viêm phổi nặng là 252,1 USD ở Đức và 254,9 USD ở Úc. Với mỗi đợt điều trị viêm phổi rất nặng, chăm sóc tại ICU đƣợc báo cáo tốn 9151,2 USD tại Tây Ban Nha và 120576,3 USD tại Hoa Kỳ [45].
Tại Việt Nam Theo số liệu của UNICEF (2015) viêm phổi là nguyên nhân tử vong thứ hai chỉ sau các biến chứng về sinh non [41]. Theo thống kê của các cơ sở y tế viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu ở trẻ đến khám và điều trị. Năm 2015, WHO ƣớc tính nhiễm trùng hô hấp cấp tính chiếm 11% tỷ lệ tử vong ở trẻ dƣới 5 tuổi ở Việt Nam [45]. Theo Đặng Đức Anh, năm 2017 viêm phổi chiếm 5,4% trong tổng số ca trẻ em nhập viện tại 3 Bệnh viện tại Hà Nội, Huế, Hồ Chí Minh, ƣớc tính tỷ lệ mắc là 7,3/1000 trẻ [52].
Chi phí điều trị cho một đợt viêm phổi trẻ em tại Bệnh viện Bạch Mai là 256 USD vào năm 2019 [30]. 6 Với hiệu quả của Chƣơng trình Quốc gia về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp trên phạm vi toàn cầu cũng nhƣ ở Việt Nam, tử vong do viêm phổi ở trẻ dƣới 5 tuổi có giảm đáng kể trong hai thập niên vừa qua. Tuy nhiên, nhiễm khuẩn hô hấp cấp vẫn có tỷ lệ mắc và tử vong cao đối với trẻ dƣới 5 tuổi. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi 1.
Đặc điểm lâm sàng 1. Khởi phát - Trẻ sốt nhẹ tăng dần hoặc sốt cao, mệt mỏi, quấy khóc, khó chịu, ăn kém. - Các dấu hiệu viêm long đƣờng hô hấp trên: ngạt mũi, chảy mũi, ho. - Có thể rối loạn tiêu hóa: nôn trớ, tiêu chảy.
- Các dấu hiệu thực thể ở phổi chƣa biểu hiện rõ. Toàn phát: * Triệu chứng cơ năng Hội chứng nhiễm khuẩn rõ: sốt cao dao động hoặc hạ thân nhiệt ở trẻ nhỏ, mệt mỏi, quấy khóc, môi khô, lƣỡi bẩn. Sốt là dấu hiệu thƣờng gặp nhƣng tính đặc hiệu không cao vì sốt có thể do nhiều nguyên nhân. Trẻ càng khỏe mạnh thì phản ứng cơ thể với tác nhân gây bệnh càng mạnh và sốt cao, ngƣợc lại ở những trẻ đẻ non, nhẹ cân, suy dinh dƣỡng, suy giảm miễn dịch thì có thể không sốt, thậm chí là hạ nhiệt độ.
Hạ nhiệt độ: Ở trẻ nhỏ do trung tâm điều nhiệt chƣa hoàn chỉnh trẻ đẻ non, nhẹ cân, suy dinh dƣỡng, suy giảm miễn dịch, nhiễm trùng nhiễm độc.