Chương 1. HÀNH TRÌNH KỊCH NGUYỄN HUY TƯỞNG 1. Kịch Nguyễn Huy Tưởng trong sự phát triển của kịch nói Việt Nam Đầu thế kỉ XX, cùng với những biến chuyển tích cực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống văn hóa nƣớc nhà cũng có những khởi sắc và đạt nhiều thành tựu rực rỡ. Sau nhiều thế kỉ chịu ảnh hƣởng và tác động của văn hóa Trung Hoa, trí thức Việt Nam trong đó có các văn nghệ sĩ đã từng bƣớc thoát ra khỏi những ảnh hƣởng cố hữu của văn hóa vùng để tiếp nhận những luồng tƣ tƣởng văn minh phƣơng Tây.
Sự xâm lƣợc của thực dân Pháp với chiêu bài khai hóa văn minh cho xứ thuộc địa đã làm nảy sinh nhiều nhân tố mới: một số nhà trƣờng Pháp -Việt đƣợc mở ra, đào tạo đƣợc nhiều nhân tài mang trong mình cả hai nền văn hóa Đông -Tây; báo chí, nhà in hình thành; văn chƣơng trở thành một nghề kiếm sống. Nếp nghĩ về con ngƣời, thời cuộc của văn nghệ sĩ cũng có những thay đổi, nhiều quan niệm nhân sinh mới mẻ xuất hiện làm nên cuộc cách mạng trong văn chƣơng. Quá trình giao lƣu văn hóa Đông -Tây trên đất nƣớc Việt Nam tạo ra một bƣớc ngoặt lớn trên mọi mặt. Xét trên bình diện đời sống văn học, cuộc tiếp biến giữa văn học truyền thống với văn học phƣơng Tây (đặc biệt là Pháp) đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hiện đại hóa văn học nƣớc nhà.
Chữ quốc ngữ đã thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm, tầng lớp tri thức Tây học thay cho tầng lớp Nho sĩ, nhiều thể loại mới ra đời nhƣ: tiểu thuyết tâm lí, phóng sự, thơ mới, lí luận phê bình, kịch… Với những cách tân táo bạo về hình thức biểu hiện và nội dung phản ánh, các văn sĩ hiện đại đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh thiêng liêng cao cả trong cuộc chuyển giao thời đại. Trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, việc một số thể loại mới ra đời đáp ứng đƣợc nhu cầu của công chúng là biểu hiện của sự phát triển. Những năm đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, tăng tốc cả về số lƣợng, chất lƣợng các tác giả, tác phẩm với các cây bút tài năng nhƣ: Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Ngô Tất Tố, Nguyễn TIEU LUAN MOI download- 9:- skknchat@gmail.com Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…mà ngày nay tên tuổi của họ với những tác phẩm vƣợt thời gian vẫn đƣợc bạn đọc nhắc đến với niềm kính trọng, khâm phục. Nhắc đến sự phát triển của văn học giai đoạn 1930 - 1945, Vũ Ngọc Phan trầm trồ, thán phục: “Một năm có thể kể như ba mươi năm của người”[45; 50].
Một trong những thể loại ra đời vào những năm đầu thế kỉ XX là loại hình kịch nói, một thể loại xung kích, gặt hái đƣợc nhiều thành công, tác động trực tiếp đến ngƣời đọc, ngƣời xem, mang lại những hiệu quả thẩm mĩ tích cực. Trƣớc khi xuất hiện ở Việt Nam, kịch nói có lịch sử phát triển khá lâu đời. Ngay từ thời cổ đại, ở HiLạp - La Mã, Ai Cập, các sân khấu kịch, các nhà hát đóng vai trò trung tâm trong đời sống sinh hoạt văn hóa, thu hút đƣợc số lƣợng lớn các tầng lớp xã hội quan tâm, thƣởng thức. Những vở kịch của Xôphôclơ, Esin, Ơripit, Pie Coocnây, Raxin, Môlie, U.Sêchxpia…đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho kịch thế giới.
Từ cái nôi sản sinh và phát triển, theo không gian và thời gian, những tác phẩm kịch kinh điển đƣợc dịch và trình diễn trên sân khấu nhiều nƣớc trong khu vực và thế giới. Ở Việt Nam, hình thức sấn khấu dân gian tuồng, chèo hình thành từ rất sớm, tồn tại và lƣu truyền trong dân gian. Những gánh tuồng từ Bình Định đến các tích chèo sân đình ở đồng bằng Bắc Bộ đã phản ánh một cách sinh động những vấn đề của xã hội nhƣ: cuộc đấu tranh giữa thiện - ác , lên án áp bức bất công, phản ánh tâm tƣ, tình cảm của nhân dân. Loại hình sân khấu này phù hợp với cƣ dân nông nghiệp lúa nƣớc, đáp ứng nhu cầu nghe, nhìn, thƣởng thức trực diện của tầng lớp bình dân.
Có nhiều ý kiến cho rằng kịch nói có nguồn gốc từ tuồng chèo, vì tuồng chèo có yếu tố thoại, yếu tố nói kẻ. Dựa vào yếu tố thoại trong vở tuồng Nghêu sò ốc hến, nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký nhận định: “ Tuồng đồ là kịch nói sử dụng một số làn điệu tuồng” [29; 40], còn tác giả của công trình Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam lại khẳng định: “Kịch nói Việt Nam có nguồn gốc từ phương Tây, ảnh hưởng phương Tây không những không làm giảm phẩm chất và tổn thương danh giá của nó mà còn trả lại tính khách quan lịch sử cho nó, khẳng định lại quy luật về sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học giữa các khu vực TIEU LUAN MOI download- 10: -skknchat@gmail.com như một hiện tượng phổ biến trong văn học thế giới” [29; 42], “sự ra đời của kịch nói vào những năm đầu thế kỉ là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa, của sự ảnh hưởng có lúc cưỡng bức, có lúc tự giác của văn hóa phương Tây, trực tiếp là văn hóa Pháp đối với văn hóa Việt Nam …sự ra đời của kịch nói ở đô thị là kết quả của một tác động lịch sử và văn hóa từ bên ngoài vào chứ chưa phải là kết quả của một quá trình phát triển nội tại, nảy sinh trong những điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa nội tại” [29; 62]. Có thể nói nhìn ở góc độ đồng đại và lịch đại, nguồn gốc của kịch nói Việt Nam có sự kết hợp hài hòa của yếu tố truyền thống và hiện đại. Sức sống nội sinh của các loại hình sân khấu dân gian tạo nền tảng, động lực để để cơn gió của quá trình giao lƣu, hội nhập kích thích, hình thành.
Kịch là sản phẩm của quá trình giao lƣu văn hóa Đông - Tây mà dấu ấn hiện đại chi phối rõ nét. Sự xuất hiện của kịch nói là “sự khởi đầu một thời đại mới trong văn học thành văn của dân tộc”[44; 502], “là một thể loại mới nhất của ta” [45; 220]. Với tƣ cách là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, kịch vừa là một thể loại văn học vừa là loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu: “Kịch không những là một nghệ thuật tổng hợp mà đúng hơn, một giao hưởng những nghệ thuật”[6; 27], nhƣng để có một vở diễn trên sân khấu, yếu tố đầu tiên là phải có kịch bản, kịch bản có vai trò quan trọng, then chốt quyết định đến thành công của sân khấu trình diễn. Những năm 20 của thế kỉ XX, trên Đông Dương tạp chí, An Nam tạp chí ngƣời đọc thấy xuất hiện các vở hài kịch, bi kịch của nƣớc ngoài nhƣ: Người bệnh tưởng, Trưởng giả học làm sang, Người biển lận, Lôi xích, Hòa Lạc, Chàng ngốc hóa khôn vô tình… đƣợc các dịch giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh biên soạn, giới thiệu, đem đến cho bạn đọc món ăn tinh thần mới, đồng thời kích thích, mở ra hƣớng đi mới cho các kịch gia nƣớc nhà khám phá, thể hiện.
Cũng trong thời gian này, chính quyền thực dân bảo hộ cho xây dựng các nhà hát ở Hà Nội, Hải Phòng phục vụ nhu cầu thƣởng thức văn hóa của tầng lớp trí thức, thị dân. Các hội Khai trí Tiến Đức, Hội Uẩn Hoa đã lần lƣợt cho công diễn những vở kịch mô phỏng kịch Tây, mang lại không khí mới cho đời sống TIEU LUAN MOI download- 11: -skknchat@gmail.com văn hóa, văn học nƣớc nhà. Và cũng từ những tối đi xem kịch đó, những trí thức nặng lòng với quê hƣơng đất nƣớc đã ý thức về trách nhiệm của mình với non sông, nhiều ngƣời trong số họ tự hỏi: tại sao ngƣời nƣớc mình lại đi diễn kịch Tây? mặc những bộ quần áo của mấy kỉ trƣớc cho ngƣời mình xem?. Để trả lời cho câu hỏi đó, những vở kịch của Trần Tuấn Khải, Nguyễn Ngọc Sơn, Đoàn Ân, Đoàn Phú Tứ, Vi Huyền Đắc, Nam Xƣơng…đã khơi dòng cho kịch nói Việt Nam từng bƣớc hòa vào biển lớn của kịch thế giới.
Ngƣời đƣợc coi là đã khai sinh cho kịch Việt Nam là Vũ Đình Long với vở Chén thuốc độc, in trên báo Hữu Thanh (Tản Đà làm chủ bút) số 4 - 5 tháng 9/1921. Sau đêm công diễn trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội ngày 22/10/1921, các báo chí xuất bản bằng chữ Quốc ngữ nhƣ: Thực nghiệp dân báo, Hữu Thanh, Nam Phong. đã liên tiếp dăng tải các bài phê bình gây xôn xao dƣ luận. Ông Nguyễn Mạnh Bổng khi giới thiệu vở Chén thuốc độc đã coi “ngày 22 octobre 1921 là một ngày kỉ niệm lớn trong văn học sử nước ta…lối văn kịch trong văn học sử nước ta có lẽ sẽ kể từ bản kịch Chén thuốc độc của ông Vũ Đình Long”[29; 61].
Tản Đà trên báo Hữu Thanh số 3/1921 cũng viết: “Vở kịch của ông Vũ Đình Long in ra đây so với văn giới các nước thời chưa biết ra làm sao, so với quốc văn sau này cũng chưa dám biết ra làm sao. Nhưng cứ trong áng văn chương hiện thời của ta nay thời vở kịch của ông tưởng cũng đáng là có giá trị”. Vở kịch của Vũ Đình Long với tính chất phê phán những thói hƣ tật xấu trong xã hội đã đặt viên gạch đầu tiên cho quá trình dựng xây nền kịch nói nƣớc nhà. Sau Vũ Đình Long, các vở kịch của Vi Huyền Đắc (Uyên ương; Hoàng Mộng Điệp.), Lê Công Đắc (Tiểu thư đi bộ), Nguyễn Hữu Kim (Bạn và vợ), Trần Đại Thụ (Dây oan nghiệt), Nam Xƣơng (Ông Tây An Nam), Vũ Trọng Can, Khái Hƣng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Nhƣợc Pháp, Huy Thông, Vũ Hoàng Chƣơng, Lƣu Quang Thuận, Thế Lữ…đã tạo ra diện mạo mới cho sự phát triển của loại hình kịch.
Mặc dù còn một số hạn chế trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, cách bài trí, sắp xếp phân cảnh chƣa thật hợp lí, nhƣng những đóa hoa đầu mùa của kịch đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt khi nó đƣợc gieo mầm ở mảnh đất màu mỡ, giàu truyền TIEU LUAN MOI download- 12: -skknchat@gmail. Là loại hình sinh sau đẻ muộn, kịch Việt Nam đã có những bƣớc tiến đáng kể, từ chỗ phải lệ thuộc, mô phỏng vào kịch Pháp đến đổi mới, sáng tạo, thuần Việt trong hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của nhân vật là những nỗ lực không ngừng của những kịch gia nặng tình với văn hóa, văn học dân tộc, trong đó có nhà viết kịch tài ba Nguyễn Huy Tƣởng. Những vở kịch trước cách mạng tháng tám năm 1945.