CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ CA DAO DÂN CA ĐỐI ĐÁP Để tìm hiểu một vùng văn hoá, một địa phương không thể không tìm hiểu những mặt đời sống hàng ngày của cư dân cũng như các yếu tố sinh hoạt văn hóa, những phong tục tập quán của địa phương. Các yếu tố địa lí, văn hoá, lịch sử hình thành chi phối đến sinh hoạt hàng ngày của dân cư về phương diện nào đó ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt văn hoá, các phong tục của họ. Vì vậy, trước khi khảo sát về ca dao dân ca đối đáp vùng đồng bằng Bắc Bộ, chúng tôi điểm qua đôi nét về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội cũng như môi trường văn hóa, tín ngưỡng của cư dân nơi đây. Những đặc điểm chung về vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Đặc điểm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đồng bằng Bắc Bộ là nơi diễn ra sự hình thành của văn hóa văn minh người Việt ngay từ buổi ban đầu. Khác với địa lý, việc phân vùng văn hóa hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thực sự thống nhất. Đinh Gia Khánh trong cuốn Các vùng văn hóa Việt Nam đã đặt riêng vùng văn hóa Nghệ - Tĩnh bên cạnh vùng văn hóa đồng băng miền Bắc [17, tr 56 -74].
Ngô Đức Thịnh lại cho rằng đồng bằng Bắc Bộ bao gồm lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã, tức là bao gồm cả vùng văn hóa Nghệ - Tĩnh[48]. Chúng tôi đồng tình với cách phân định của GS Trần Quốc Vượng: “khi nói đến vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ là nói tới vùng văn hóa thuộc địa phận của các tỉnh Hà Tây (cũ), Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình; thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng; phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh”. “Như vậy, vùng văn 16 hóa châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực những dòng sông Hồng, sông Mã”[51, tr 249]. Các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã vốn là cái nôi hình thành người Việt, là nơi đã sinh ra các nền văn hóa nối tiếp nhau: văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa hiện đại Việt Nam.
Từ trung tâm của vùng văn hóa này, văn hóa người Việt đã lan truyền ra khắp các vùng miền khác của đất nước. Về vị trí địa lý, vùng đồng bằng Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây – Đông và Bắc – Nam. Vị trí này tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân trong vùng tiếp xúc và giao lưu với các luồng văn hóa khác nhau của nhân loại. Về địa hình, đồng bằng bắc bộ có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng.
Địa hình toàn vùng thấp cao không đều nhau, vùng địa hình cao vẫn có những nơi thấp úng như Gia Lương (Bắc Ninh). Khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ chia làm bốn mùa rõ nét: xuân – hạ - thu – đông. Điều kiện tự nhiên như vậy tạo ra những sắc thái riêng trong tập quán canh tác, sinh hoạt ứng xử của người dân đồng bằng Bắc Bộ. Đây là một đồng bằng châu thổ lớn ở nước ta, quần chúng nhân dân sống chủ yếu làm nông nghiệp một cách thuần túy.
Với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực canh tác nông nghiệp. Ngay từ xa xưa, người dân nơi đây đã biết khai thác nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ của vùng để trồng lúa nước, cung cấp lương thực cho số lượng dân cư đông đúc trong vùng. Xét về tổ chức xã hội, làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ là làng xã cổ truyền, tiêu biểu nhất cho thiết chế làng xã ở nước ta. Có thể nói, làng là một đơn vị quần cư chủ yếu do nền văn minh nông nghiệp lúa nước và tổ chức xã hội truyền thống Việt Nam hình thành.
Làng Việt ở 17 đồng bằng Bắc Bộ là một môi trường văn hóa, môi trường sinh hoạt tập thể của người dân gắn với những thiết chế, quy tắc cụ thể, thể hiện tính cộng đồng sâu sắc. Trước tiên, điều này thể hiện ở sự tổ chức làng xã của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Làng là kết quả của các công xã thị tộc sang công xã nông thôn. Các vương triều phong kiến để thống trị đã chụp xuống công xã nông thôn ấy tổ chức hành chính của mình và nó trở thành các làng quê.
“Tính cộng đồng của làng xã ĐBBB có cơ sở và thể hiện từ cộng đồng về lãnh thổ: Cả làng sở hữu chung về đất đai, mà thể hiện rõ nhất ở chế độ ruộng đất công và phân chia ruộng có nghĩa vụ đóng góp của cải và công sức. Cộng đồng trong tổ chức lao động sản xuất, như vỡ hoang, xây dựng các công trình thủy lợi tưới tiêu, làm đường xá, cầu cống, lao động kiểu vần công, đổi công. Người dân gắn bó với nhau không chỉ bằng những cái chung ấy mà còn gắn bó với nhau bằng đời sống tinh thần, trong những sinh hoạt tập thể của cộng đồng làng xã. Các công việc của làng hầu như do các bậc đứng đầu trong làng đứng lên giải quyết, nhà nước hầu như không điều chỉnh.
Đặc điểm này cho thấy tính khép kín của làng Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, mỗi làng là một thể chế riêng biệt với nhau - “đất lề quê thói”. Vì vậy mới có câu rằng: “Phép vua còn thua lệ làng”. Sự gắn bó giữa con người với con người trong cộng đồng làng quê không chỉ trên những quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những sở hữu chung,. mà còn gắn bó trên các quan hệ tâm linh, các chuẩn mực xã hội và đạo đức.
Đảm bảo cho những mối quan hệ này là các hương ước, khoán ước. Ở mỗi làng ngoài những phong tục chung của vùng miền còn có những quy định riêng thể hiện trong hương ước, khoán ước của mỗi làng. 18 “Hương ước cũng quy định chặt chẽ về sản xuất và bảo vệ môi trường, coi “việc nhà nông là cái gốc lớn” của làng. Hương ước khuyến khích mọi người, mọi nhà tận dụng đất đai sản xuất, quy định thể lệ việc đào kênh mương, đắp và tu bổ đê điều, bảo vệ công cụ sản xuất, nhất là “con trâu là đầu cơ nghiệp”, ngăn ngừa phá hoại hay xâm phạm tới thành quả sản xuất nông nghiệp của mỗi gia đình, chú trọng chống thú dữ, bảo vệ mùa màng,.
Làng nào có nghề thủ công thì có khoán ước quy định liên quan đến ngành nghề và tổ chức phường hội. Đây là những quy định khá chặt chẽ về mọi phương diện của làng, từ lãnh thổ đến việc sử dụng đất đai, từ quy định về tổ chức làng xã,. nó tạo nên sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận trong làng xã. Tuy nhiên, cũng vì điều này mà vai trò của cá nhân trong cộng đồng thường bị xem nhẹ.
Trong lịch sử, làng có vị trí và vai trò quan trọng trong kinh tế, họ tộc, hội hè, tín ngưỡng, mọi người sống trong làng cùng giúp đỡ nhau trong những công việc vui buồn, cũng như lúc khó khăn. Chẳng thế mà có câu rằng: “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” hay “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Tính cộng đồng này cho đến nay vẫn còn thể hiện trong nhiều mặt ở các làng xã trong vùng đồng bằng Bắc Bộ. Một đặc điểm dễ thấy ở các làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ đó là sự xuất hiện của mái đình.
Trước hết nơi đây là trung tâm văn hóa hành chính: mọi công việc quan trọng đều diễn ra ở đây. Đình làng là nơi linh thiêng và ở làng nào cũng phải xây dựng đình làng. Việc xây dựng Đình cũng cần phải thận trọng, xem xét thế hướng, phong thủy cho phù hợp, hướng đình được xem là quyết định vận mệnh của cả làng. Đình là nơi tập trung của cư dân trong làng để bàn bạc và giải quyết các công việc trọng đại trong làng.
Đình là nơi thờ thành hoàng làng – vị thần bảo trợ cho làng 19 và cũng là nơi diễn ra các hội làng: vừa là để tưởng nhớ, suy tôn công lao của các vị thần, vừa là để gắn kết mọi người trong làng, trong xã với nhau. Không chỉ vậy qua các lễ hội còn góp phần lưu giữ văn hóa từ đời này sang đời khác. Nói đến làng người ta thường nghĩ đến hình ảnh cái đình với tình cảm gắn bó, thân thương: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu tuổi thương mình bấy nhiêu Đình là biểu tượng truyền thống cho tính cộng đồng của làng xã. Chính những điều trên góp phần gắn bó những thành viên của làng, của xã với nhau một cách bền chặt.
Bên cạnh, mái đình là những không gian sinh hoạt bên giếng nước, gốc đa. Đây cũng là những hình ảnh hết sức quen thuộc đối với mỗi người sinh ra từ làng. Một đặc điểm nổi bật trong các gia đình Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đó là gia đình tiểu nông, phụ quyền. Tuy nhiên vai trò người phụ nữ trong gia đình thì không phải là nhỏ.
Hầu hết các công việc quan trọng người phụ nữ đều đảm nhiệm: chăm lo đồng áng, làm nghề thủ công, chạy chợ, chăm lo đời sống các thành viên trong gia đình,. Tóm lại, những công việc người phụ nữ đảm nhiệm đã chứng tỏ vị trí quan trọng của họ trong gia đình. Chả thế mà việc lấy vợ được xem là một trong ba việc khó và quan trọng nhất trong đời của một người đàn ông (đó là: tậu trâu, lấy vợ, làm nhà). Làng Việt xưa thường có địa giới phân cách với các làng khác bằng cánh đồng hay những lũy tre, dòng sông.
Những bụi tre bao quanh làng, trở thành một thành lũy vững bền, trèo không vào, đốt không cháy. Với phân cách như vậy không những tạo nên không gian riêng của mỗi làng mà còn 20 góp phần đảm nhiệm công tác quốc phòng. Làng Việt xưa thường có tuần đinh đi tuần và đảm bảo nhiệm vụ an ninh cho xóm làng. Ngày nay, trong nhiều làng xã ở đông bằng Bắc Bộ vẫn có những đội dân quân tự vệ làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh xóm làng.
Đây cũng là một biểu hiện của tính tự trị của làng xã. “Làng xã cổ truyền của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ còn là một môi trường văn hóa, là tế bào cơ bản, là tấm gương phản chiếu nền văn hóa cổ truyền của dân tộc. Văn hóa dân tộc chỉ là sự mở rộng và nâng cao của văn hóa xóm làng, hay như có người nói, văn hóa Việt Nam cổ truyền trên cơ bản là văn hóa xóm làng”[48, tr 122].