ĐẶT VẤN ĐỀ Khu Bảo tồn thiên nhiên Mƣờng Nhé đƣợc thành lập theo quyết định số: 593/QĐUB ngày 23 tháng 5 năm 2008 với tổng diện tích tự nhiên 45.581ha, nằm trọn trong địa phận 5 xã biên giới: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mƣờng Nhé và xã Nậm Kè. trong đó đất rừng là 27.886 ha tƣơng đƣơng với 61% tổng diện tích Khu bảo tồn (số liệu rà soát của Cục Lâm Nghiệp, 2007) đƣợc chia thành 3 phân khu chức năng: Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt, có tổng diện tích 25.679,08 ha đƣợc chia làm hai phân khu: Phân khu I có diện tích 16.111,08 ha, phân khu II có diện tích 9.567,99 ha; Phân khu Phục hồi sinh thái: Có tổng diện tích là 19.888,42 ha, đƣợc chia làm hai phân khu: Phân khu I có diện tích là 11.592,04 ha, phân khu II có diện tích là 8.296,39 ha; Phân khu Hành chính - Dịch vụ: Đƣợc quy hoạch với diện tích 13,5 ha. Khu vực KBTTN Mƣờng Nhé mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa với những nét đặc trƣng của khí hậu nhiệt đới núi cao. Địa hình khu vực có dạng địa hình núi cao, bị chia cắt mạnh bởi các dông núi có độ dốc lớn, thấp dần theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam.
Hệ thống sông suối của khu vực chảy trên địa hình tƣơng đối phức tạp và có độ dốc lớn. Với 2 hệ thống sông suối chính (thủy hệ Nậm Ma và thủy hệ Nậm Nhé) đầu nguồn Sông Đà. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, sự tác động của con ngƣời đã tạo nên sự đa dạng về loài, sự phân bố, hệ sinh thái và loài cây quý hiếm cho hệ thực vật rừng Mƣờng Nhé, đặc trƣng cho vùng núi Tây Bắc thông qua đó cũng tạo nên sự đa dạng cho hệ động vật nơi đây. Tính đa dạng các loài thực vật thân gỗ ở Khu bảo tồn thiên Mƣờng Nhé đƣợc xem là một khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng: kiểu rừng lá rộng thƣờng xanh núi thấp, rừng thƣờng xanh á nhiệt đới trên núi cao và rừng tre nứa với nhiều loài thực vật, động vật rừng qúi hiếm.
Tuy nhiên, sự đa dạng này đang bị đe dọa bởi một 2 số tác động của con ngƣời nhƣ việc khai thác gỗ, sử dụng các loại lâm sản một cách quá mức phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của ngƣời dân; các tác động này đang làm thay đổi tính đa dạng sinh học của hệ thực vật rừng trong đó có thực vật thân gỗ. Thực tế cho thấy các loài xuất hiện trong Sách đỏ ngày càng nhiều, số lƣợng loài ngày càng giảm. Trƣớc tình hình này, công tác bảo tồn đa dạng các loài thực vật nói chung và cây gỗ nói riêng đang đƣợc quan tâm và đẩy mạnh. Từ khi đƣợc thành lập Ban quản lý khu BTTN Mƣờng Nhé đã hoạt động tích cực, đạt đƣợc nhiều thành tích trong công tác bảo vệ rừng diện tích rừng đƣợc phục hồi nhiều.
Tuy nhiên, đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt và sức ép gia tăng dân số, nên việc lấn chiếm đất rừng làm ruộng, rẫy ở một vài điểm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên, tình trạng khai thác làm dƣợc liệu, gia dụng vẫn xảy ra, nguy cơ rừng bị tàn phá là tiềm ẩn. Để bảo vệ và phát triển Khu bảo tồn thiên nhiên góp phần bảo vệ cảnh quan, môi trƣờng sống cho hôm nay và mai sau, ngoài việc làm tốt công tác bảo vệ diện tích rừng hiện còn. Khu Bảo tồn cần thiết phải xây dựng riêng cho mình một chƣơng trình bảo tồn và phát triển tính đa dạng sinh học đang bị hủy hoại vì điều đó không chỉ có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen các loài thực vật quý hiếm cho Điện Biên, cho đất nƣớc mà còn góp phần tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên môi trƣờng cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Nhằm mục tiêu đánh giá tính đa dạng hiện trạng tài nguyên thực vật thân gỗ làm cơ sở đề xuất cho công tác bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên trong Khu Bảo tồn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại khu Bảo tồn thiên nhiên Mƣờng Nhé, tỉnh Điện Biên".
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các vấn đề về đa dạng sinh học 1. Khái niệm về đa dạng sinh học Từ xa xƣa con ngƣời đã biết khai thác tài nguyên sinh vật để phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình; Nhờ tiếp cận với tự nhiên họ đã biết phân loại sinh vật để nhận biết và khai thác chúng một cách có hiệu quả. Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kinh tế và nhu cầu mà con ngƣời càng ham hiểu biết về thế giới tự nhiên.
Tuy nhiên, càng hiểu biết sâu về thế giới sinh vật con ngƣời càng khai thác tài nguyên sinh vật một tận diệt, vì thế nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ngày càng giảm sút. Có thể nói, vấn đề nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu trên thế giới. Tuy vậy những quan niệm về đa dạng sinh học cũng có những điểm chƣa thống nhất, chƣa đầy đủ và chƣa rõ ràng. Trong chƣơng trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam cũng nêu ra một khái niệm về đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh gồm tổng số loài động vật và thực vật, tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài tính đa dạng hệ sinh thái của cộng đồng sinh thái khác nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”.
Với định nghĩa này đã đề cập đến ba vấn đề về đa dạng sinh học là đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Trong tác phẩm “Đa dạng cho sự phát triển – Diversity for development” của Viện tài nguyên gen thực vật quốc tế (IPGRI) đa dạng sinh học đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là toàn bộ những biến dạng trong tất cả cơ thể sống và các phức hệ sinh thái mà chúng sống. Đa dạng sinh học có ba mức độ: Đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền”. 4 Hội nghị thƣợng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro (1992).
Định nghĩa đó nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái nƣớc khác, sự đa dạng thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”. Định nghĩa này tƣơng đối đầy đủ và rõ ràng. Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra đƣợc các nội dung của đa dạng sinh học là: - Đa dạng di truyền - tức là sự đa dạng về gen và nhiễm sắc thể. - Đa dạng về loài.
- Đa dạng về hệ sinh thái. Bảo tồn đa dạng sinh học: là một vấn đề mang tính chiến lƣợc của các nƣớc trên thế giới trong những năm gần đây. Hàng loạt các tổ chức trên thế giới đã ra đời để hƣớng dẫn, giúp đỡ và tổ chức nghiên cứu đặc điểm, phân loại nhằm bảo tồn các loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng. Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn “Bảo tồn đa dạng sinh học thế giới” (Conserving the World’s biological diversity) hay IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn “Hãy cứu lấy trái đất” (Caring for the earth), cũng trong thời gian đó Wri, IUCN, UNEP đã xây dựng chiến lƣợc đa dạng sinh học và chƣơng trình hành động.
Nhìn chung các cuốn sách đều hƣớng đến việc đề ra chiến lƣợc, phƣơng pháp để bảo tồn. Tầm quan trọng đa dạng sinh học Giá trị của ĐDSH là không thể thay thế đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học trong đó có con ngƣời, với kinh tế, xã hội, văn hoá và giáo dục, cụ thể: - Giá trị sinh thái và môi trường - Bảo vệ tài nguyên đất và nước - Điều hòa khí hậu - Phân hủy các chất thải 5 - Giá trị kinh tế - Giá trị xã hội và nhân văn 1. Các giải pháp bảo tồn Nghiên cứu của Berkmuller và các cộng sự năm 1992 (Berkmuller., 1992) cho rằng việc nâng cao nhận thức và mối quan tâm của cộng đồng địa phƣơng đối với bảo tồn thiên nhiên và các hoạt động có liên quan là rất quan trọng. Tác giả cho rằng nếu không nâng cao nhận thức trong nhóm mục tiêu về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của khu bảo tồn thiên nhiên thì rừng sẽ tiếp tục bị xem nhƣ là một tài nguyên có thể khai thác.
Để thực hiện thành công những giải pháp dài hạn cho những vấn đề về môi trƣờng, cần đƣa các giá trị của môi trƣờng vào trong các chƣơng trình giáo dục. Việc xây dựng các qui tắc và qui định cho vùng đệm, vùng tái sinh và vùng lõi của khu BTTN với sự tham gia của các cộng đồng và chính quyền địa phƣơng đã đƣợc (Gilmour., 1999), (Dang Dinh Tran., 1991) đề xuất một số hƣớng dẫn cho các vùng quản lý khác nhau: cấm đốt thảm thực vật trong vùng đệm, tránh trồng những loại cây dễ bắt lửa, cấm đƣa vào trong vùng đệm các loài thực vật có nhiều khả năng xâm lấn hay đe doạ khu vực bảo tồn. Cấm bất kỳ một hành động nào có khả năng đe doạ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong khu bảo tồn. Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G (1986) cho rằng đối với cộng đồng dân cƣ sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, một giải pháp đề nghị là cho phép ngƣời dân địa phƣơng củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, Nhà nƣớc cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận, với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng.
6 Ở Canada, trong bài viết của Sherry, E. (1999) về sự hợp tác quản lý tại vƣờn quốc gia Vutut (vừa là một khu bảo tồn thiên nhiên vừa là khu di sản văn hoá của ngƣời thổ dân vùng Bắc cực), liên minh giữa chính quyền và thổ dân đã làm thay đổi chiều hƣớng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng giá trị của vƣờn quốc gia. Chƣơng trình hỗ trợ đa dạng sinh học (The Biodiversity Support Program, BSP) (2000) đã thực hiện nhiều dự án với mục tiêu nhằm đạt đƣợc tác động thật sự đối với bảo tồn.